Triển vọng rộng mở cho phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi ở tỉnh Thanh Hóa
21/09/2026 15:06
Thanh Hóa đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) trong giai đoạn 2021 - 2025, được thể hiện ở những bước chuyển mình tích cực và mạnh mẽ, từ giảm nghèo, phát triển giáo dục, y tế đến hạ tầng giao thông… Những kết quả này chính là tiền đề, nền tảng vững chắc cho giai đoạn phát triển mới vùng đồng bào DTTS&MN của tỉnh nhà; bên cạnh đó, theo định hướng và kế hoạch phát triển, Thanh Hóa sẽ ngày càng ưu tiên các nguồn lực cho phát triển vùng DTTS&MN để thu hẹp khoảng cách phát triển giữa vùng này với các vùng khác. Những yếu tố nêu trên chắc chắn sẽ tạo ra triển vọng rộng mở cho vùng đồng bào DTTS&MN ở Thanh Hóa vươn lên phát triển trong giai đoạn 2026 - 2030.
Những kết quả quan trọng đã đạt được
Thanh Hóa có hơn 1,1 triệu người sống ở miền núi, trong đó đồng bào các dân tộc thiểu số (DTTS) là khoảng 770.000 người, chiếm 18% dân số toàn tỉnh. Đồng bào DTTS chủ yếu là dân tộc Mường, Thái, Mông, Thổ, Dao, Khơ Mú…
Trong giai đoạn 2021-2025, các cấp, các ngành của Thanh Hóa đã triển khai thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN (Chương trình) tại 174 đơn vị cấp xã thuộc vùng DTTS&MN, với 1.551 thôn, bản, khu phố; trong đó có 17 xã khu vực III, 22 xã khu vực II và 318 thôn, bản đặc biệt khó khăn. Đến cuối năm 2025, có 22/23 chỉ tiêu của Chương trình đã hoàn thành và hoàn thành vượt kế hoạch đề ra, tạo chuyển biến rõ nét trên nhiều lĩnh vực với một số kết quả chính như sau:
Về giảm nghèo: Thanh Hóa đạt nhiều kết quả nổi bật trong giảm nghèo bền vững, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, vượt chỉ tiêu Trung ương giao; hạ tầng thiết yếu được cải thiện rõ rệt; sinh kế người dân ngày càng ổn định. Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh đã giảm từ 3,52% năm 2023 xuống còn 1,21% năm 2025, giảm bình quân khoảng 1,16% mỗi năm trong giai đoạn 2022-2025. Riêng vùng đồng bào DTTS&MN, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm nhanh từ 14,75% năm 2023 xuống 8,32% năm 2024 và đến năm 2025 còn 5,1%. Đặc biệt, Thanh Hóa cũng chú trọng triển khai các mô hình giảm nghèo gắn với điều kiện thực tế từng địa phương. Hơn 950 mô hình sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ đã được triển khai, tạo việc làm cho trên 12.000 lao động, giúp người dân tăng thu nhập và ổn định sinh kế.
Về giảm hộ nghèo, hộ cận nghèo DTTS cùng đã có bước chuyển biến tích cực, tổng tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo DTTS năm 2023 là 32,66% đã giảm xuống còn 15,34% năm 2025. Đáng chú ý là tỷ lệ hộ nghèo DTTS đã giảm mạnh, từ 14,75% năm 2023 xuống còn 5,1% năm 2025.
Thành tựu trong giảm nghèo vùng đồng bào DTTS của tỉnh Thanh Hóa
trong giai đoạn 2023 - 2025 (%)

Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo
theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025
Hơn nữa, Thanh Hóa cũng là địa phương có tỷ lệ hộ nghèo DTTS thấp nhất trong số 05 tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ (Hình dưới). Nhiều xã, thôn đặc biệt khó khăn đã được đưa ra khỏi diện hỗ trợ, đời sống người dân ngày càng ổn định và được cải thiện.
Thanh Hóa có tỷ lệ hộ nghèo DTTS thấp nhất trong vùng Bắc Trung Bộ năm 2025 (%) 
Nguồn: Báo cáo kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2025 theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Về hạ tầng giao thông: Đến hết năm 2025, 100% xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn vùng DTTS&MN đã có đường ô tô được cứng hóa; 100% thôn, bản có đường ô tô đến trung tâm xã được cứng hóa.
Ngoài ra, 95% thôn, bản có nhà sinh hoạt cộng đồng; 85% hộ dân sử dụng nước sạch; 70% hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh; 93% hộ được tiếp cận Internet. Bên cạnh đó, tỉnh cũng đã hỗ trợ xây mới và sửa chữa nhà ở cho 8.926 hộ nghèo và cận nghèo, với tổng kinh phí hơn 278 tỷ đồng, góp phần cải thiện điều kiện sống và tạo động lực để người dân yên tâm phát triển kinh tế. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân đã được cải thiện rõ rệt, thu nhập bình quân đầu người khu vực miền núi năm 2024 đạt 47,15 triệu đồng/năm, năm 2025 tăng lên mức 53,9 triệu đồng/năm; số xã khu vực III (xã đặc biệt khó khăn) giảm từ 21 xã xuống còn 17 xã. Khoảng cách phát triển giữa miền núi và đồng bằng từng bước được thu hẹp.
Hơn nữa, Thanh Hóa đã triển khai thành công, hoàn thành trước thời hạn cuộc vận động hỗ trợ xây dựng nhà ở cho hộ nghèo, gia đình chính sách và hộ khó khăn trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2024-2025. Chỉ trong 16 tháng từ khi phát động, tỉnh đã hoàn thành mục tiêu xóa nhà tạm, nhà dột nát cho 14.780 hộ, trong đó có 12.023 hộ đồng bào DTTS (chiếm 81,3%), với tổng nguồn lực huy động trên 1.600 tỷ đồng. Những ngôi nhà mới khang trang không chỉ giúp người dân ổn định cuộc sống, yên tâm lao động sản xuất mà còn là minh chứng cho tinh thần đoàn kết, tương trợ trong cộng đồng.
Việc bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, thúc đẩy bình đẳng giới và giải quyết các vấn đề xã hội đặc thù vùng DTTS&MN cũng được quan tâm, chú trọng, qua đó góp phần tạo dựng nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững nói chung của tỉnh. Đến 2025, tỷ lệ trường, lớp học được xây dựng kiên cố đạt 100%; tỷ lệ thôn, bản có nhà văn hóa - khu thể thao đạt khoảng 85%.
Tỉnh cũng đặc biệt chú trọng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, sử dụng cán bộ người DTTS. Trong những năm qua, hàng nghìn lượt cán bộ cấp xã, thôn, bản là người DTTS được bồi dưỡng, tập huấn về quản lý nhà nước, kỹ năng vận động nhân dân. Đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ làm công tác dân tộc ngày càng phát huy năng lực, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước ở cơ sở.
Về phân bổ nguồn lực, trong giai đoạn 2021-2025, Trung ương đã phân bổ cho Thanh Hóa hơn 2.700 tỷ đồng để thực hiện 10 dự án thành phần. Đến năm 2025, tỉnh đã giao chi tiết hơn 2.690 tỷ đồng, đạt 99,45% kế hoạch vốn được giao. Sau hơn 4 năm triển khai, chương trình đã góp phần thu hẹp dần khoảng cách về mức sống, thu nhập của người dân giữa vùng miền núi với khu vực đồng bằng và so với mức bình quân chung của tỉnh.
Gần đây, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định giao bổ sung dự toán chi ngân sách Trung ương và kế hoạch đầu tư công vốn ngân sách Trung ương đợt 2, năm 2026 cho 27 tỉnh, thành (trong đó có Thanh Hóa) để triển khai các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 1 từ 2026 - 2030. Theo quyết định trên, Thanh Hóa được giao bổ sung 510,26 tỷ đồng từ vốn ngân sách Trung ương để thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN. Với số vốn bổ sung trên, Thanh Hóa là một trong các tỉnh, thành phố được phân bổ mức vốn cao trong đợt này. Sự quan tâm, bổ sung nguồn vốn từ nguồn ngân sách Trung ương là nguồn động lực hỗ trợ Thanh Hóa thực hiện tốt hơn, hiệu quả hơn nữa các chương trình mục tiêu quốc gia, từng bước nâng cao mức sống, thu nhập của người dân khu vực miền núi, trong đó có đồng bào người dân tộc thiểu số, đảm bảo "Không để ai bị bỏ lại phía sau".
Một số hạn chế, khó khăn
Dù chính sách giảm nghèo nói riêng, phát triển kinh tế - xã hội vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS&MN nói chung của tỉnh Thanh Hóa đã và đang ngày càng phát huy hiệu quả , làm thay đổi căn bản diện mạo làng quê, thôn bản và cải thiện đời sống người dân của khu vực này. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN cũng còn gặp phải không ít khó khăn, thách thức, cụ thể:
Một là, khung pháp lý chưa được hoàn thiện kịp thời và đồng bộ, một số quy định còn chồng chéo, thiếu thống nhất đã gây khó khăn cho tỉnh trong việc tiếp cận, nghiên cứu và triển khai. Đặc biệt trong cơ chế quản lý, sử dụng vốn sự nghiệp và vốn đầu tư phát triển.
Hai là, tỷ lệ giải ngân vốn còn thấp, nguồn vốn Trung ương phân bổ muộn dẫn đến ảnh hưởng tiến độ giải ngân vốn và thi công. Tại các địa phương miền núi, một số nhiệm vụ dù đã được bố trí vốn nhưng chưa thể triển khai hoặc phải điều chỉnh.
Ba là, khu vực miền núi của tỉnh vẫn còn nhiều khó khăn, nhất là tại các xã biên giới, vùng sâu, vùng xa. Hạ tầng giao thông, điện, nước sinh hoạt ở nhiều nơi chưa đồng bộ; nhiều đập, ngầm tràn tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn trong mùa mưa lũ, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và sản xuất của người dân.
Bốn là, tỷ lệ hộ nghèo vùng DTTS&MN vẫn còn cao so với mặt bằng chung; hạ tầng một số khu vực vùng sâu, vùng xa còn hạn chế; nguy cơ thiên tai, sạt lở đất cao vào mùa mưa bão. Thu nhập bình quân đầu người khu vực miền núi mới đạt 53,9 triệu đồng/người/năm, thấp hơn so với mục tiêu 66,2 triệu đồng/người/năm.
Triển vọng phát triển
Với những thành tựu đã đạt được như đã nêu trên và bước sang giai đoạn 2026 - 2030, tỉnh Thanh Hóa xác định tiếp tục ưu tiên các nguồn lực để phát triển vùng đồng bào DTTS&MN, trong đó tập trung phát triển sản xuất, tạo sinh kế, việc làm bền vững, giảm tỷ lệ hộ nghèo, nâng cao thu nhập và đời sống người dân; đồng thời khơi dậy tinh thần tự lực, tự cường, phát huy nội lực trong đồng bào DTTS&MN. Ngay từ năm 2026, tỉnh đã xây dựng và ban hành nhiều văn bản để tiếp tục thực hiện các chính sách phát triển các xã vùng đồng bào DTTS&MN.
Ngày 21/01/2026, Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã ban hành Quyết định số 267/QĐ-UBND phê duyệt danh sách thôn vùng đồng bào DTTS&MN, thôn đặc biệt khó khăn; xã vùng đồng bào DTTS&MN, xã khu vực I, II, III trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026 - 2030. Đây là căn cứ quan trọng để triển khai các chương trình, chính sách dân tộc và chính sách an sinh xã hội được hiệu quả hơn trong thời gian tới. Theo đó, toàn tỉnh Thanh Hóa có 1.389 thôn thuộc vùng đồng bào DTTS, 1.238 thôn miền núi và 1.462 thôn thuộc vùng đồng bào DTTS&MN. Trong số này, có 653 thôn được xác định là thôn đặc biệt khó khăn, chiếm tỷ lệ lớn và tập trung chủ yếu tại các xã miền núi cao, khu vực biên giới và vùng sâu, vùng xa. Việc xác định rõ các thôn đặc biệt khó khăn là cơ sở để ưu tiên nguồn lực đầu tư, hỗ trợ phát triển hạ tầng, sinh kế và nâng cao đời sống người dân. Đối với cấp xã, tỉnh Thanh Hóa hiện có 78 xã thuộc vùng đồng bào DTTS&MN, trong đó, 04 xã thuộc khu vực I, 17 xã thuộc khu vực II và 57 xã thuộc khu vực III - khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Quyết định là căn cứ pháp lý quan trọng, tạo nền tảng để tỉnh tiếp tục triển khai hiệu quả các chính sách dân tộc, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào DTTS&MN trong giai đoạn 2026-2030.
Tiếp theo, ngày 03/6/2026, Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã có Quyết định số 1623/QĐ-UBND ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2026 - 2030 trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa với mục tiêu tập trung phát triển toàn diện vùng đồng bào DTTS&MN, thực hiện giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững, bảo đảm bình đẳng giới và an sinh xã hội cho mọi tầng lớp nhân dân; phát triển kinh tế nông thôn được định hướng theo mô hình xanh, tuần hoàn, sinh thái, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền, nhóm dân cư.
Tỉnh cũng đề ra một số mục tiêu cụ thể để phấn đấu đến năm 2030 như có ít nhất 80% số xã và 12% số thôn, bản miền núi đạt chuẩn nông thôn mới; có thêm 328 sản phẩm OCOP được công nhận; thu nhập bình quân của người dân nông thôn tăng gấp 2,5 lần so với năm 2020; tăng thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số bằng 1/2 bình quân chung của tỉnh; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều vùng đồng bào DTTS&MN giảm xuống dưới 10%; cơ bản không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn. Tổng nhu cầu nguồn vốn dự kiến thực hiện Kế hoạch trong giai đoạn 2026-2030 ước khoảng gần 29.131 tỷ đồng, trong đó vốn Trung ương chiếm khoảng 18,91%, vốn địa phương chiếm khoảng 23,61%, vốn lồng ghép khoảng 17,6%, vốn tín dụng chiếm khoảng hơn 20%, còn lại là nguồn vốn thu hút từ doanh nghiệp và huy động từ cộng đồng khoảng 19,8%.
Ngày 17/7/2026, Hội đồng Nhân dân tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 29/2026/NQ-HĐND quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2026 - 2030 làm căn cứ quan trọng để tỉnh tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, hiệu quả, bền vững cho các xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào DTTS&MN… nhằm tạo chuyển biến rõ nét trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững.
Theo Kế hoạch số 251/KH-UBND ngày 16/7/2026 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa về thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, trong năm 2026, toàn tỉnh đặt quyết tâm chuyển đổi mạnh mẽ từ “tư duy sản xuất nông nghiệp” sang “tư duy kinh tế nông nghiệp”, phấn đấu đạt được các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, cụ thể: phấn đấu có 09 xã đạt chuẩn nông thôn mới; có 05 thôn/bản thuộc vùng DTTS&MN đạt chuẩn nông thôn mới; công nhận mới và nâng hạng cho 65 sản phẩm OCOP, phát triển sản phẩm OCOP không chỉ dừng lại ở quy mô hộ gia đình hay đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật đơn thuần mà tập trung vào xây dựng chuỗi giá trị và thương hiệu bền vững; giảm tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn toàn tỉnh từ 1% trở lên. Nhu cầu nguồn vốn để thực hiện các mục tiêu trong năm 2026 của Kế hoạch là khoảng 4.497 tỷ đồng.
Về hạ tầng, trong giai đoạn 2026 - 2030, tỉnh dự kiến xây dựng 46 cây cầu bê tông cốt thép để thay thế 31 ngầm tràn và 15 cầu treo xuống cấp tại khu vực vùng đồng bào DTTS&MN với tổng kinh phí khoảng 646 tỉ đồng. Riêng trong năm 2026 tỉnh sẽ khởi công đồng loạt 31 cầu. Song song đó, tỉnh đặt mục tiêu hoàn thành 64 khu tái định cư cho gần 2.000 hộ dân ở vùng có nguy cơ sạt lở, lũ quét, với kinh phí khoảng 1.100 tỉ đồng. Bên cạnh đó, để đáp ứng nhu cầu cấp thiết của đồng bào vùng DTTS&MN trong giai đoạn 2026-2027, tỉnh đã đề xuất hỗ trợ cho 301 dự án, gồm 150 dự án nước sinh hoạt tập trung, 24 dự án nước sinh hoạt phân tán, 121 dự án điện sinh hoạt và 6 công trình thiết yếu khác, với tổng nhu cầu vốn gần 990,24 tỷ đồng.
Về thu hút đầu tư, sản xuất, tỉnh đặt mục tiêu khuyến khích doanh nghiệp lên miền núi, tạo việc làm tại chỗ như dự án nhà máy sắn Mường Lát, nhà máy ván tre ép OSB tại xã Thiết Ống, nhà máy giày dép xuất khẩu ở Ngọc Lặc… cùng với định hướng phát triển các nhà máy chế biến sâu nông - lâm sản của tỉnh.
Về phát triển du lịch, tỉnh coi đây là “mũi nhọn mềm”, trong đó ưu tiên phát triển với các loại hình du lịch sinh thái, cộng đồng, văn hóa - tâm linh. Pù Hu, Pù Luông, Xuân Liên, Bến En được tỉnh định hướng trở thành hạt nhân cho chuỗi sản phẩm du lịch xanh gắn với phát triển vùng đồng bào DTTS&MN. Tỉnh cũng định hướng khôi phục và phát triển nghề truyền thống như rèn của người Mông, dệt thổ cẩm của người Thái, Mường, đan cót ở các vùng luồng để từng bước hỗ trợ đồng bào DTTS gia tăng thu nhập, nâng cao mức sống.
Về nông nghiệp, tỉnh định hướng tái cơ cấu theo hướng vùng sản xuất tập trung, phát triển các cây, con đặc sản như nếp Cay Nọi Mường Lát, quế Thường Xuân, vịt Cổ Lũng, gà Mông, bò vàng Thanh Hóa…
Lĩnh vực giáo dục, y tế, an sinh xã hội vùng đồng bào DTTS&MN cũng được tỉnh Thanh Hóa coi là một trong những trụ cột của phát triển bền vững. Tỉnh sẽ quy hoạch lại hệ thống trường lớp theo hướng trường liên cấp, trường nội trú, bán trú. Mục tiêu đến năm 2030, 100% trường lớp ở miền núi được kiên cố hóa; 16 trường liên cấp tại 16 xã biên giới được hoàn thành và đưa vào sử dụng ngay từ năm học 2026 - 2027, phục vụ khoảng 8.000 - 10.000 học sinh khu vực miền núi. Chính sách cho giáo viên và học sinh vùng đặc biệt khó khăn sẽ được hoàn thiện để giữ chân đội ngũ, nâng cao chất lượng dạy và học. Về y tế, tỉnh ưu tiên đầu tư trạm y tế xã và nâng cấp các bệnh viện khu vực như Mường Lát, Quan Hóa, Lang Chánh, Bá Thước, Ngọc Lặc với mục tiêu để người dân miền núi được tiếp cận kỹ thuật y tế cao hơn đồng thời giảm chi phí và thời gian đi lại.
Những nội dung nêu trên chính là những cơ sở quan trọng, mở ra triển vọng rộng lớn cho phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN của tỉnh Thanh Hóa.
Một số giải pháp trọng tâm
Để phát huy những kết quả đã đạt được, đồng thời khắc phục những khó khăn, tồn tại trong phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN trong thời gian tới, tỉnh Thanh Hóa có thể tham khảo một số giải pháp trọng tâm sau đây:
Một là, rà soát, cập nhật các cơ chế, chính sách mới của Trung ương để kịp thời triển khai, bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tiễn của tỉnh. Cùng với đó, cần rà soát kỹ các chỉ tiêu của từng chương trình, chính sách, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và khả thi trong quá trình triển khai thực hiện.
Hai là, ưu tiên nguồn lực cho các nhu cầu thiết yếu của đồng bào DTTS&MN; đẩy nhanh tiến độ giải ngân; tăng cường kiểm tra, giám sát để bảo đảm sử dụng nguồn vốn hiệu quả, góp phần nâng cao đời sống người dân vùng DTTS&MN.
Ba là, phát triển kinh tế sinh kế bền vững và chuỗi giá trị bản địa. Tập trung chuyển đổi mô hình sản xuất từ hỗ trợ nhỏ lẻ sang liên kết chuỗi giá trị; ưu tiên kinh tế dưới tán rừng, cây dược liệu, nông sản đặc trưng của tỉnh và chương trình OCOP; đẩy mạnh phát triển du lịch cộng đồng, du lịch văn hóa trải nghiệm gắn với bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc (Mường, Thái, Dao, H'Mông...).
Bốn là, tăng cường lồng ghép, sử dụng hiệu quả các nguồn lực từ các Chương trình mục tiêu quốc gia và các nguồn vốn hợp pháp khác, ưu tiên bố trí cho các xã miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh.
Năm là, tiếp tục đổi mới giáo dục khu vực vùng cao, củng cố hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú; mở rộng đào tạo nghề cho lao động, đặc biệt là lao động người DTTS gắn với nhu cầu tuyển dụng thực tế của doanh nghiệp. Chú trọng đào tạo, quy hoạch và sử dụng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số tại chỗ; phát huy vai trò của người có uy tín trong cộng đồng.
Sáu là, ưu tiên phát triển các sản phẩm đặc hữu, sản phẩm có lợi thế, sản phẩm OCOP, đặc biệt trên địa bàn các xã vùng đồng bào DTTS&MN; đưa các sản phẩm lên các sàn giao dịch điện tử, chú trọng nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu và gắn với hoạt động xúc tiến, quảng bá, mở rộng thị trường tiêu thụ.
ThS. Đoàn Thanh Tùng
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026), Quyết định công bố kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2025 theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025;
2. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2025), Quyết định công bố kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2024 theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025;
3. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2024), Quyết định công bố kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2023 theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025;
4. Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Quyết định số 267/QĐ-UBND ngày 21/01/2026 phê duyệt danh sách thôn vùng đồng bào DTTS&MN, thôn đặc biệt khó khăn; xã vùng đồng bào DTTS&MN, xã khu vực I, II, III trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026 - 2030;
5. Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Quyết định số 1623/QĐ-UBND ngày 03/6/2026 về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2026 - 2030 trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa;
6. Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Kế hoạch số 251/KH-UBND ngày 16/7/2026 về thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, trong năm 2026;
7. Hội đồng Nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Nghị quyết số 29/2026/NQ-HĐND ngày 17/7/2026 quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2026 - 2030;
8. Báo Nông nghiệp và Môi trường (2026), Khơi dậy sức bật mới từ nông thôn Thanh Hóa;
9. Báo Đại Đoàn Kết (2025), Thanh Hóa: Những chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện từ chương trình Mục tiêu quốc gia 1719;
10. Báo Thanh Hóa (2026), Ưu tiên nguồn lực cho các nhu cầu thiết yếu của đồng bào DTTS&MN.
11. Tạp chí Tổ chức nhà nước và lao động (2026), Thanh Hóa tập trung phát triển sản phẩm OCOP gắn với xây dựng nông thôn mới hiện đại;
12. Báo Văn hóa (2026), Miền núi Thanh Hóa trước “cú hích” mới từ chương trình hành động của Bí thư Tỉnh ủy.