Kinh nghiệm quốc tế về phát triển trái phiếu chính quyền địa phương cho liên kết vùng và khuyến nghị cho Việt Nam

10/09/2026 13:55


Nhu cầu vốn cho hạ tầng liên kết vùng của Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030 đang tăng về quy mô, đặc biệt sau quá trình sắp xếp lại đơn vị hành chính và tái cấu trúc không gian phát triển theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Trong khi đó, các kênh huy động vốn truyền thống còn hạn chế. Trái phiếu chính quyền địa phương (TPCQĐP), dù đã được luật hóa từ hơn hai thập kỷ, đến nay vẫn là kênh huy động vốn có quy mô rất khiêm tốn. Tuy nhiên, những tín hiệu chính sách gần đây, đặc biệt là kế hoạch huy động vốn với quy mô đột biến của một số địa phương lớn cho thấy TPCQĐP đang đứng trước một bước ngoặt phát triển. Bài viết này khái quát nhu cầu vốn hạ tầng liên kết vùng, đánh giá thực trạng khung pháp lý và thực tiễn phát hành TPCQĐP tại Việt Nam, tổng hợp kinh nghiệm phát triển thị trường trái phiếu địa phương của Hoa Kỳ, Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia, từ đó đề xuất một số định hướng chính sách nhằm phát triển TPCQĐP thành một kênh huy động vốn thực chất, phục vụ mục tiêu liên kết vùng và tái cấu trúc không gian phát triển đất nước.

1. Sự cấp thiết của phát triển trái phiếu chính quyền địa phương cho liên kết vùng

Áp lực tái cấu trúc không gian phát triển sau sắp xếp đơn vị hành chính

Việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp đang tạo ra sự thay đổi đáng kể trong tổ chức không gian phát triển, chuyển từ tư duy quản lý theo địa giới sang khai thác lợi thế và tăng cường liên kết giữa các không gian kinh tế. Việt Nam vẫn duy trì sáu vùng kinh tế - xã hội, nhưng cấu trúc nội vùng có nhiều thay đổi; đáng chú ý, việc kết nối Duyên hải Nam Trung Bộ với Tây Nguyên mở rộng không gian phát triển, tăng khả năng kết nối khu vực nội địa với kinh tế biển và các đầu mối logistics.

Sự mở rộng không gian quản lý sau sắp xếp đơn vị hành chính đồng thời làm gia tăng nhu cầu đầu tư hạ tầng kết nối nội vùng và liên vùng, bao gồm giao thông, đô thị và hạ tầng số. Theo đó, đầu tư công đang từng bước chuyển từ cách tiếp cận phân tán theo địa giới sang phát triển theo không gian kinh tế và mạng lưới kết nối, tập trung vào các tuyến giao thông kết nối cực tăng trưởng, trung tâm sản xuất, logistics, cảng biển và đô thị lớn.

Đặc biệt, quy mô ngày càng lớn của các dự án cao tốc, vành đai, cầu, đường sắt và trục kết nối cảng biển khiến một địa phương khó có thể tự bảo đảm nguồn lực và tổ chức thực hiện hiệu quả. Các dự án như Vành đai 4 Hà Nội, hệ thống kết nối TP. Hồ Chí Minh với các trung tâm kinh tế lân cận hay mạng lưới giao thông tại Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy nhu cầu ngày càng rõ về cơ chế huy động và phối hợp nguồn lực ở cấp vùng, nhằm giảm chi phí logistics, khắc phục điểm nghẽn kết nối và mở rộng không gian tăng trưởng.

Khoảng cách giữa nhu cầu đầu tư và khả năng đáp ứng của ngân sách đòi hỏi đa dạng hóa nguồn lực

Nhu cầu đầu tư của Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030 được dự báo tăng mạnh, với tổng vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, trong đó nhu cầu đầu tư kết cấu hạ tầng có thể chiếm 30 - 40%. Đặc biệt, các dự án hạ tầng chiến lược, liên vùng có quy mô vốn rất lớn; riêng nhu cầu hoàn thiện mạng lưới đường bộ đến năm 2030 ước khoảng 900.000 tỷ đồng, trong khi tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng sau điều chỉnh có tổng mức đầu tư gần 290.000 tỷ đồng.

Trong khi đó, khả năng đáp ứng của ngân sách nhà nước có giới hạn do phải đồng thời bảo đảm các nhiệm vụ chi, cân đối ngân sách và các chỉ tiêu an toàn nợ công. Điều này tạo ra khoảng cách ngày càng lớn giữa nhu cầu đầu tư và nguồn lực công có thể bố trí. Vì vậy, bài toán đặt ra không chỉ là tăng quy mô huy động, mà là thay đổi mô hình tài chính cho đầu tư phát triển, từ phụ thuộc chủ yếu vào ngân sách sang huy động và phối hợp đa nguồn lực.

Theo đó, ngân sách nhà nước cần chuyển mạnh từ vai trò “nguồn vốn chính” sang “vốn mồi, vốn dẫn dắt và công cụ chia sẻ, giảm thiểu rủi ro”, qua đó thu hút hiệu quả hơn nguồn lực tư nhân, tín dụng, vốn quốc tế và các nguồn vốn ngoài ngân sách. Đây là điều kiện quan trọng để mở rộng quy mô đầu tư hạ tầng mà không tạo áp lực quá mức lên cân đối ngân sách và nợ công.

Giới hạn của các kênh huy động vốn truyền thống khác

Hai kênh tín dụng ngân hàng và trái phiếu doanh nghiệp cũng còn những hạn chế trong tài trợ các dự án hạ tầng dài hạn. Đối với tín dụng ngân hàng, hạn mức tăng trưởng tín dụng và các yêu cầu về an toàn vốn phần nào hạn chế khả năng cung cấp nguồn vốn dài hạn, trong khi cơ cấu huy động của ngân hàng chủ yếu vẫn có kỳ hạn ngắn. Đối với trái phiếu doanh nghiệp, thị trường đang phục hồi sau giai đoạn biến động 2022 - 2023, nhưng mức độ minh bạch thông tin, chất lượng xếp hạng tín nhiệm và cơ sở nhà đầu tư tổ chức vẫn còn hạn chế, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn dài hạn cho phát triển hạ tầng.

Trong bối cảnh đó, TPCQĐP là công cụ cho phép chính quyền cấp tỉnh trực tiếp huy động vốn trung, dài hạn từ thị trường vốn trong nước để tài trợ các dự án đầu tư công thuộc thẩm quyền có thể được xem xét, đánh giá như một kênh bổ sung có tiềm năng lớn, đặc biệt phù hợp với đặc tính dài hạn, gắn với dòng tiền và lợi ích của từng địa bàn cụ thể của các dự án hạ tầng liên kết vùng.

2. Thực trạng khung pháp lý và thực trạng trái phiếu chính quyền địa phương tại Việt Nam

Về mặt pháp lý, TPCQĐP đã được quy định từ khá sớm trong hệ thống pháp luật ngân sách và quản lý nợ công của Việt Nam, với chủ thể phát hành là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, mục đích sử dụng vốn gắn với các chương trình, dự án đầu tư công cụ thể, và ba phương thức phát hành cơ bản là đấu thầu (qua Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội), bảo lãnh phát hành và đại lý phát hành. Đề án phát hành TPCQĐP phải quy định rõ mục đích, khối lượng, kỳ hạn, mệnh giá, lãi suất và cam kết của tổ chức phát hành, đồng thời lãi suất phát hành không được vượt khung do Bộ Tài chính quy định.

Mặc dù khung pháp lý đã tương đối đầy đủ, thực tiễn phát hành TPCQĐP tại Việt Nam trong hơn hai thập kỷ qua cho thấy một bức tranh khá khiêm tốn và phân tán. Chỉ có một số ít địa phương (chủ yếu là Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội) thực sự chủ động triển khai công cụ này. Xét trên phạm vi toàn quốc, theo Bộ Tài chính, tổng lượng TPCQĐP phát hành trên thị trường sơ cấp Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 chỉ đạt 38.353,46 tỷ đồng, bình quân khoảng 3.835 tỷ đồng/năm cho cả nước, trong đó Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương phát hành lớn nhất với 20.110 tỷ đồng cho cả giai đoạn. Giai đoạn từ năm 2021 đến nay không có sự thay đổi về dư nợ TPCQĐP. Dư nợ TPCQĐP cuối năm 2024 và duy trì đến cuối 2025 ở mức 9.650 tỷ đồng, tương đương khoảng 0,08 - 0,1% GDP. Một số nguyên nhân của tình trạng trên là do: Việc phát hành TPCQĐP phải tuân thủ nghiêm ngặt các điều kiện về hạn mức dư nợ vay của ngân sách địa phương theo Luật Ngân sách Nhà nước và Luật Quản lý nợ công; Địa phương bắt buộc phải lập đề án phát hành chi tiết, đánh giá kỹ năng lực tài chính, nguồn trả nợ và phê duyệt từ cấp có thẩm quyền trước khi triển khai; Phần lớn nhu cầu vốn lớn tại các địa phương trọng điểm thường được cân đối qua nguồn vốn đầu tư công ngân sách trung ương, ODA hoặc vay lại từ Chính phủ thay vì phát hành trái phiếu riêng lẻ.

Tuy nhiên, từ năm 2026 đã có những bước thay đổi lớn về khuôn khổ pháp lý và tiềm năng phát triển TPCQĐP. Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15 và Luật Quản lý nợ công số 141/2025/QH15 tiếp tục củng cố khung pháp lý theo hướng tăng cường phân cấp, phân quyền cho địa phương. Theo đó, bội chi ngân sách địa phương cấp tỉnh được bù đắp bằng các nguồn vay trong nước, bao gồm phát hành TPCQĐP, vay lại nguồn Chính phủ vay về cho vay lại và các khoản vay khác theo quy định pháp luật. Bỏ quy định tỉnh lấy ý kiến chấp thuận của Bộ Tài chính về điều kiện, điều khoản của trái phiếu chính quyền địa phương (gồm khối lượng, mệnh giá, đồng tiền, kỳ hạn), phân cấp cho UBND cấp tỉnh báo cáo HĐND cấp tỉnh phê duyệt Đề án phát hành, đảm bảo trong tổng mức vay được Quốc hội phê duyệt. Các quy định này nhằm tăng tính linh hoạt và trách nhiệm của địa phương, đồng thời siết chặt kiểm soát trong hạn mức bội chi và dư nợ. Bên cạnh đó, cơ chế huy động vốn được mở rộng đối với một số địa phương đặc thù: theo Luật Thủ đô năm 2026, Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội được quy định việc phát hành TPCQĐP, trái phiếu dự án, trái phiếu công trình, trái phiếu đô thị và trái phiếu xanh. Theo hướng tiếp cận tại dự thảo Luật Phát triển đô thị (tháng 8/2026), Hội đồng nhân dân thành phố cũng được quy định việc phát hành các loại trái phiếu này và vay từ các tổ chức tài chính trong nước, nước ngoài, quốc tế để huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển, nhưng phải bảo đảm các chỉ tiêu an toàn nợ công theo quy định.

Trái phiếu chính quyền địa phương đang được các đô thị lớn nhìn nhận lại như một kênh huy động vốn chiến lược, gắn với các dự án hạ tầng trọng điểm như đường sắt đô thị, các tuyến vành đai, cầu vượt sông, xử lý môi trường và phát triển đô thị thông minh. Năm 2025, Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thông qua chủ trương vay trong nước tối đa khoảng 13.650 tỷ đồng, trong đó ưu tiên hình thức phát hành TPCQĐP (kỳ hạn 10 - 30 năm). Nghị quyết số 42/2026/NQ-HĐND (hiệu lực từ 01/7/2026) của Hà Nội tạo khung pháp lý cho phát hành TPCQĐP, trái phiếu dự án, trái phiếu công trình, trái phiếu đô thị và trái phiếu xanh. Dự kiến giai đoạn 2027-2030 huy động 150.000 - 200.000 tỷ đồng, tập trung vào đường sắt đô thị và hạ tầng trọng điểm. Các địa phương khác (như Cần Thơ) có kế hoạch quy mô nhỏ (khoảng 1.000 - 2.000 tỷ đồng) nhưng chưa có lộ trình thực hiện rõ rệt.

Bối cảnh hiện nay là cơ hội để TPCQĐP trở thành kênh huy động vốn quan trọng cho hạ tầng liên kết vùng. Mặt khác, sự gia tăng mạnh về quy mô phát hành đòi hỏi phải đồng bộ các điều kiện phát triển thị trường, từ nâng cao chất lượng tổ chức phát hành, kiểm soát sử dụng vốn đến mở rộng cơ sở nhà đầu tư dài hạn, qua đó hạn chế rủi ro tập trung, thanh khoản thấp và định giá chưa chính xác.

3. Kinh nghiệm quốc tế về phát triển trái phiếu chính quyền địa phương

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy sự phát triển của thị trường trái phiếu chính quyền địa phương phụ thuộc rất lớn vào nền tảng thể chế tài khóa liên cấp, năng lực tín nhiệm của chính quyền địa phương và mức độ phát triển của hệ sinh thái thị trường vốn. Bốn trường hợp dưới đây (Hoa Kỳ, Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia) đại diện cho bốn mô hình phát triển khác nhau, từ một thị trường trưởng thành bậc nhất thế giới đến những thị trường còn ở giai đoạn sơ khai hoặc gặp nhiều trở ngại.

Tại Hoa Kỳ, thị trường trái phiếu địa phương đã trưởng thành, quy mô hàng nghìn tỷ USD

Hoa Kỳ sở hữu thị trường trái phiếu địa phương lớn và lâu đời nhất thế giới, với quy mô dư nợ khoảng 4 - 4,5 nghìn tỷ USD. Chính quyền bang và địa phương đảm nhận khoảng 75% tổng chi đầu tư hạ tầng công của cả nước, trong đó khoảng 90% vốn đầu tư hạ tầng cấp bang, địa phương được huy động thông qua công cụ nợ trên thị trường trái phiếu địa phương. Thị trường này hình thành từ đầu thế kỷ XIX và ngày càng mở rộng về quy mô, lĩnh vực tài trợ.

Sự phát triển của thị trường dựa trên ba nền tảng chính. Chính quyền địa phương có nguồn thu tại chỗ và cơ chế pháp lý cho phép gắn nguồn thu với nghĩa vụ trả nợ, hình thành hai loại trái phiếu chủ đạo là trái phiếu bảo đảm bằng quyền đánh thuế (general obligation bonds) và trái phiếu bảo đảm bằng nguồn thu dự án (revenue bonds). Ưu đãi thuế đối với thu nhập từ lãi trái phiếu góp phần giảm chi phí huy động vốn và thu hút nhà đầu tư. Thị trường thứ cấp minh bạch, với cơ chế điều tiết chuyên trách và hệ thống công bố thông tin, tạo điều kiện để nhà đầu tư đánh giá và định giá rủi ro tín dụng theo năng lực tài khóa của từng chủ thể phát hành.

Kinh nghiệm Trung Quốc cho thấy việc phát triển thị trường trái phiếu chính quyền địa phương phải gắn với kiểm soát nợ ẩn và kỷ luật tài khóa

Sau gói kích thích năm 2008, việc sử dụng các công ty tài chính chính quyền địa phương (LGFVs) để huy động vốn ngoài bảng cân đối đã làm gia tăng nhanh nợ ẩn, với chi phí vay cao, kỳ hạn ngắn và mức độ minh bạch thấp, tạo ra rủi ro tài khóa và tài chính đáng kể. Từ năm 2014 - 2015, Trung Quốc chuyển sang mô hình “mở cửa trước - đóng cửa sau”: cho phép chính quyền địa phương huy động vốn trực tiếp thông qua trái phiếu chính thức, gồm trái phiếu chung và trái phiếu mục đích đặc biệt gắn với các dự án cụ thể; đồng thời hạn chế LGFVs vay mới thay mặt chính quyền, cấm bảo lãnh chính thức và từng bước yêu cầu các LGFVs hoạt động theo nguyên tắc thị trường. Song song với đó, các chương trình hoán đổi nợ quy mô lớn được triển khai nhằm chuyển nợ ẩn sang nợ chính thức với chi phí thấp hơn và kỳ hạn dài hơn.

Trong giai đoạn 2023 - 2026, Trung Quốc tiếp tục siết kỷ luật phát hành và thúc đẩy thương mại hóa LGFVs, thông qua hạn chế phát hành mới, tăng cường giám sát sử dụng vốn trái phiếu mục đích đặc biệt, phân loại rủi ro theo địa phương và triển khai chương trình xử lý nợ ẩn quy mô lớn. Đồng thời, phạm vi sử dụng và cơ chế trả nợ của trái phiếu mục đích đặc biệt được điều chỉnh linh hoạt hơn nhằm nâng cao khả năng tài trợ cho các dự án có hiệu quả kinh tế. Các biện pháp này đã góp phần giảm đáng kể nợ ẩn, hạ chi phí vay và tăng tính minh bạch của kênh huy động vốn chính thức. Tuy nhiên, việc chuyển nợ ẩn thành nợ công khai không đồng nghĩa với xử lý triệt để rủi ro tài khóa; nợ chính thức tiếp tục gia tăng, trong khi nhiều LGFVs vẫn thiếu dòng tiền và chính quyền địa phương chịu áp lực từ suy giảm nguồn thu đất đai và nghĩa vụ tái cấp vốn.

Bài học cốt lõi từ Trung Quốc là phát triển TPCQĐP cần đi cùng với một cơ chế quản lý nợ tổng thể, trong đó đồng thời kiểm soát nợ ngoài bảng cân đối, nâng cao minh bạch, giới hạn phát hành mới và thúc đẩy khả năng tự chủ tài chính của địa phương. Hoán đổi nợ chỉ là giải pháp giảm áp lực trong ngắn và trung hạn; tính bền vững dài hạn phụ thuộc chủ yếu vào khả năng tạo nguồn thu ổn định, chất lượng dự án đầu tư và mức độ thương mại hóa thực chất của các tổ chức vay vốn.

Thị trường TPCQĐP tại Ấn Độ và Indonesia đã tồn tại nhiều thập kỷ nhưng vẫn chưa phát triển

Ấn Độ cho thấy rõ khoảng cách giữa khung pháp lý và thực tiễn phát triển thị trường trái phiếu đô thị. Sau cải cách Hiến pháp lần thứ 74 năm 1992, thị trường được thúc đẩy mạnh hơn từ năm 2017 thông qua cơ chế hỗ trợ tài chính của Chính phủ trung ương cho các đợt phát hành đầu tiên của chính quyền đô thị (ULB), cùng với yêu cầu huy động vốn đối ứng trong Chương trình Thành phố thông minh. Tuy nhiên, quy mô thị trường vẫn rất hạn chế, với tổng giá trị phát hành của các ULB chỉ khoảng 13 tỷ rupee. Nguyên nhân chủ yếu là năng lực tài khóa và quản trị của chính quyền đô thị còn yếu, nguồn thu hạn chế và chi phí tiếp cận thị trường cao. Kinh nghiệm Ấn Độ cho thấy, khung pháp lý và ưu đãi tài chính cần đi cùng với nâng cao năng lực tài khóa, quản trị và tín nhiệm của chủ thể phát hành.

Tại Indonesia, dù khung pháp lý về TPCQĐP đã được thiết lập và tiếp tục hoàn thiện, đến nay thị trường vẫn chưa có đợt phát hành thực tế. Những trở ngại chính gồm thiếu hướng dẫn kỹ thuật, năng lực chuẩn bị dự án và dòng tiền hoàn trả. Trường hợp Indonesia cho thấy khung pháp lý chỉ là điều kiện cần; để thị trường hình thành còn đòi hỏi dự án khả thi, nguồn trả nợ rõ ràng và niềm tin của nhà đầu tư.

Từ những kinh nghiệm quốc tế đã phân tích ở trên cho thấy: Sự phát triển bền vững thị trường TPCQĐP trước hết đòi hỏi minh bạch nghĩa vụ nợ và xác định rõ trách nhiệm tài khóa của từng cấp chính quyền. Đồng thời, chính quyền địa phương phải có năng lực tài khóa và nguồn thu ổn định để bảo đảm khả năng trả nợ. Khung pháp lý cần đi kèm hướng dẫn thực thi, năng lực chuẩn bị dự án và cơ chế quản trị phù hợp. Bên cạnh đó, hệ thống xếp hạng tín nhiệm, công bố thông tin, thị trường thứ cấp và cơ sở nhà đầu tư đa dạng là những điều kiện quan trọng để nâng cao khả năng huy động vốn. Đối với các địa phương có quy mô và năng lực tài chính hạn chế, cơ chế huy động vốn gộp có thể giúp mở rộng khả năng tiếp cận thị trường với chi phí hợp lý.

4. Khuyến nghị chính sách cho Việt Nam

Trên cơ sở đánh giá thực trạng trong nước và đối chiếu với kinh nghiệm quốc tế, một số định hướng chính sách sau đây được đề xuất nhằm phát triển TPCQĐP thành một kênh huy động vốn thực chất, phục vụ hiệu quả mục tiêu liên kết vùng và tái cấu trúc không gian phát triển của Việt Nam trong giai đoạn tới:

Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý theo hướng tích hợp quản lý ngân sách, đầu tư công và vay nợ địa phương, gắn quyền huy động vốn với trách nhiệm cân đối và trả nợ. Trong quá trình hợp nhất Luật Ngân sách Nhà nước và Luật Đầu tư công, cần thiết kế thống nhất quy trình từ lựa chọn, phê duyệt dự án, xác định nguồn vốn, quyết định vay và phát hành TPCQĐP đến quản lý, giám sát và trả nợ; đồng thời quy định rõ tiêu chí dự án được tài trợ bằng trái phiếu và cơ chế xác định hạn mức phát hành phù hợp với năng lực tài chính, khả năng trả nợ và hiệu quả đầu tư của từng địa phương. Qua đó, khắc phục tình trạng phân tách giữa quyết định đầu tư và quyết định huy động vốn, bảo đảm vay gắn với dự án, dự án gắn với khả năng trả nợ và khả năng trả nợ gắn với nguồn lực ngân sách.

Thứ hai, xây dựng và vận hành hệ thống xếp hạng tín nhiệm độc lập cho chính quyền địa phương. Cần từng bước hình thành hệ thống đánh giá tín nhiệm dựa trên các chỉ tiêu về năng lực tài khóa, dư nợ, khả năng trả nợ, chất lượng nguồn thu, nghĩa vụ nợ tiềm ẩn và hiệu quả sử dụng vốn. Kết quả xếp hạng là cơ sở để nhà đầu tư đánh giá và định giá rủi ro, qua đó hình thành mặt bằng lãi suất phù hợp với mức độ tín nhiệm của từng địa phương, thay vì dựa vào kỳ vọng về sự hỗ trợ của ngân sách trung ương. Về dài hạn, cơ chế này sẽ tăng cường kỷ luật thị trường, khuyến khích địa phương nâng cao năng lực tài chính và sử dụng vốn hiệu quả, đồng thời hạn chế hình thành rủi ro đạo đức và tâm lý ỷ lại vào hỗ trợ của Trung ương. Đây là bài học cốt lõi từ quá trình cải cách của Trung Quốc và là nền tảng cho sự phát triển bền vững của thị trường Hoa Kỳ.

Thứ ba, nghiên cứu mô hình quỹ hoặc cơ chế gộp chung rủi ro (pooled financing) cho nhóm địa phương có quy mô kinh tế, ngân sách còn hạn chế, tương tự kinh nghiệm Quỹ Phát triển Đô thị Tamil Nadu (Ấn Độ). Thay vì yêu cầu từng địa phương phải đáp ứng đầy đủ điều kiện để phát hành độc lập, có thể nghiên cứu mô hình quỹ hoặc tổ chức trung gian thực hiện huy động vốn tập trung cho một nhóm địa phương có nhu cầu và mức độ tín nhiệm phù hợp, trên cơ sở phân bổ vốn và nghĩa vụ trả nợ theo từng địa phương, từng dự án. Cơ chế này giúp tận dụng lợi thế quy mô, giảm chi phí phát hành, phân tán rủi ro và nâng cao khả năng tiếp cận vốn dài hạn, đồng thời tạo điều kiện huy động nguồn lực cho các dự án có tính chất liên kết vùng mà một địa phương riêng lẻ khó có thể tự tài trợ. Điều kiện để thực hiện là: Cần thiết kế chặt chẽ cơ chế phân bổ rủi ro và nghĩa vụ trả nợ (tránh rủi ro đạo đức - moral hazard); phải có công cụ tăng cường tín nhiệm (credit enhancement) đủ mạnh; khung pháp lý phải cho phép tổ chức trung gian phát hành và quản lý nghĩa vụ nợ thay mặt nhóm địa phương; cần xây dựng năng lực thẩm định dự án và giám sát sử dụng vốn.

Thứ tư, ưu tiên gắn phát hành TPCQĐP với các dự án hạ tầng liên kết vùng có dòng tiền hoàn trả rõ ràng, đặc biệt là các dự án hạ tầng giao thông trục, hạ tầng đô thị, hạ tầng số phục vụ kết nối các địa bàn sau sắp xếp đơn vị hành chính; đồng thời phát triển các loại hình trái phiếu chuyên biệt (trái phiếu dự án, trái phiếu công trình, trái phiếu xanh) như định hướng đã được trao quyền cho Hà Nội theo Luật Thủ đô năm 2026, làm mô hình thí điểm để nhân rộng cho các địa phương khác.

Thứ năm, mở rộng và đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư tổ chức trong nước, đặc biệt là các quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ hưu trí tự nguyện, doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ - những định chế có nguồn vốn dài hạn phù hợp với đặc tính kỳ hạn của trái phiếu hạ tầng - đi kèm với cải thiện tính thanh khoản của thị trường thứ cấp và minh bạch hóa thông tin về mục đích sử dụng vốn, tiến độ giải ngân và hiệu quả dự án được tài trợ.

Thứ sáu, gắn phát triển thị trường TPCQĐP với lộ trình cải cách phân cấp tài khóa tổng thể, bảo đảm nguồn thu ngân sách địa phương - đặc biệt tại các đô thị lớn, các cực tăng trưởng vùng - được phân chia tương xứng hơn với vai trò đóng góp kinh tế, tạo nền tảng thu bền vững để chính quyền địa phương có đủ năng lực trả nợ khi mở rộng quy mô huy động vốn qua kênh trái phiếu, tránh nguy cơ tích tụ rủi ro tài khóa địa phương tương tự những gì Trung Quốc đã trải qua trong giai đoạn phát triển nóng của thị trường LGFV trước cải cách năm 2014.

Với cách tiếp cận đồng bộ theo các định hướng trên, TPCQĐP có tiềm năng trở thành một trụ cột huy động vốn bổ sung quan trọng, giảm áp lực cho ngân sách nhà nước và hệ thống tín dụng ngân hàng, đồng thời tạo động lực tài chính thực chất cho quá trình tái cấu trúc không gian phát triển và tăng cường liên kết vùng của Việt Nam trong giai đoạn 2026 - 2030 và các năm tiếp theo.

ThS. Lưu Ánh Nguyệt, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, Bộ Tài chính

Nguồn: Trung tâm Thông tin kinh tế, tài chính và thống kê 

Tài liệu tham khảo

1. Government Finance Officers Association (GFOA), Municipal Securities Rulemaking Board (MSRB), Municipal Securities: Financing the Nation's Infrastructure, msrb.org.

2. National League of Cities (2026), Where Do Cities Get Most Infrastructure Funding? Municipal Bonds, nlc.org.

3. Penn Institute for Urban Research (2026), Special Briefing on Boosting Infrastructure Investment for Global Cities: Lessons from the U.S. Municipal Bond Market, penniur.upenn.edu.

4. Lam, W. R. and Wang, J. (2018), Local Government Bonds, in The Future of China's Bond Market, International Monetary Fund.

5. Ideas for India (2026), Municipal Bonds in India: A 30-Year Story, Still Unfinished, ideasforindia.in.

6. Asian Development Bank (2023), Mobilizing Resources through Municipal Bonds, ADB, Manila.

7. World Bank (2016), Case Studies in Blended Finance for Water and Sanitation: Pooled Municipal Bond Issuance in Tamil Nadu (India).

8. Brookings Institution (2026), Municipal Bond Market Could Be the Answer to Financing Woes of Smart Cities, brookings.edu.