


Là tỉnh miền núi nằm ở khu vực Tây Bắc của Tổ quốc, nơi sinh sống của nhiều đồng bào các DTTS, như: Thái, Mông, Mường, Dao, Khơ mú, Xinh Mun… Trước đây, nhiều bản làng vùng sâu, vùng xa của Sơn La đã gặp phải nhiều khó khăn, hệ thống giao thông thiếu đồng bộ, sản xuất nông nghiệp chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống, đời sống của đồng bào các dân tộc còn nhiều thiếu thốn, tỷ lệ hộ nghèo ở nhiều địa phương còn cao, điều kiện học tập và chăm sóc sức khỏe của người dân còn hạn chế. Trước tình hình này, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, cùng với sự nỗ lực vươn lên của đồng bào các dân tộc, bức tranh phát triển chung vùng đồng bào DTTS của tỉnh Sơn La trong những năm qua đã thu được nhiều kết quả tích cực, tạo ra những điểm sáng và sức mạnh cho những bước chuyển mình nhanh hơn theo yêu cầu của thực tiễn phát triển trên nhiều lĩnh vực. Từ phát triển kinh tế, giảm nghèo, xây dựng hạ tầng đến nâng cao chất lượng giáo dục, y tế… Có được những chuyển biến tích cực này, có sự đóng góp không nhỏ từ việc tỉnh nhà đã thực hiện hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021 - 2025. Nói một cách bao quát, thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn tỉnh đã và đang tạo ra những đối thay tích cực cho vùng DTTS&MN. Đó là:
Kinh tế nông nghiệp ngày càng phát triển, người dân đã mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Nhiều vùng chuyên canh cây ăn quả như xoài, nhãn, mận, bơ, chanh leo được hình thành và phát triển quy mô lớn. Các hợp tác xã nông nghiệp ra đời, giúp người dân liên kết sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ. Nhiều loại nông sản của tỉnh Sơn La đã có mặt tại các siêu thị lớn trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân vùng cao.


Đồng bào các DTTS tỉnh Sơn La ngày càng có thu nhập ổn định từ phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá.
Về thu nhập trong giai đoạn 2021 - 2025, Sơn La đã đạt được những dấu ấn lớn với thu nhập bình quân của người DTTS tăng gấp 2 lần so với năm 2020. Công tác giảm nghèo vùng DTTS&MN ghi nhận nhiều kết quả tích cực. Ở các xã đặc biệt khó khăn, bình quân mỗi năm giảm trên 4% số hộ nghèo và hộ cận nghèo.
Hệ thống kết cấu hạ tầng ngày càng được đầu tư đồng bộ, 100% xã trong tỉnh đã có đường ô tô đến trung tâm được rải nhựa hoặc bê tông; 99% hộ gia đình được sử dụng điện lưới an toàn; 100% các trường học có học sinh bán trú tại vùng đặc biệt khó khăn đã được đầu tư nhà ở, bếp ăn, công trình vệ sinh; 96,85% bản có nhà văn hóa; các đội văn hóa, văn nghệ (câu lạc bộ) truyền thống hoạt động thường xuyên, có chất lượng… Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 96,3% dân số toàn tỉnh.
Lĩnh vực giáo dục cũng ghi nhận những kết quả đáng khích lệ, các chính sách hỗ trợ học sinh DTTS được triển khai hiệu quả, tạo điều kiện để trẻ em vùng cao được đến trường đầy đủ hơn. Mạng lưới trường lớp không ngừng được mở rộng, chất lượng dạy và học ngày càng được nâng cao. Nhiều học sinh DTTS&MN đã đạt thành tích cao trong học tập, trở thành nguồn nhân lực chất lượng cho địa phương trong tương lai.
Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được chú trọng, hệ thống y tế cơ sở được tăng cường cả về cơ sở vật chất lẫn đội ngũ cán bộ y tế; người dân được tiếp cận các dịch vụ khám, chữa bệnh thuận lợi hơn; tỷ lệ người tham gia bảo hiểm y tế ngày càng cao. Các chương trình phòng chống dịch bệnh, chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em được triển khai rộng khắp, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho đồng bào vùng cao.
Lĩnh vực văn hóa cũng được tỉnh hết sức quan tâm, tỉnh đã mở 17 lớp tập huấn truyền dạy di sản văn hóa phi vật thể cho 1.019 học viên giai đoạn 2021 - 2025. Những lễ hội truyền thống như Lễ hội Mợi của người Mường hay Lễ Nào Sồng của người Mông không chỉ được tái hiện sinh động, còn trở thành điểm nhấn thu hút du khách, mở ra cơ hội phát triển du lịch cộng đồng. Việc bảo tồn các lễ hội tại các bản làng là cách giữ gìn văn hóa, gắn kết cộng đồng, tạo niềm tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ…

Trong giai đoạn 2021 - 2025, Sơn La đã chú trọng và triển khai nhiều mô hình hỗ trợ sản xuất, đào tạo nghề, tạo sinh kế, giúp cho đồng bào các DTTS vươn lên thoát nghèo bền vững, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền. Dưới đây là những thành quả trong giảm hộ nghèo, hộ cận nghèo DTTS của tỉnh Sơn Lan thời gian qua:
Thành tựu giảm hộ nghèo, hộ cận nghèo DTTS hàng năm tỉnh Sơn La
giai đoạn 2023 - 2025 (hộ)
Nguồn: Kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo các năm 2023 - 2025 theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025
Bảng trên cho thấy, số hộ nghèo DTTS đã giảm đáng kể, từ 41.500 hộ năm 2023 đã giảm xuống còn 27.433 hộ năm 2025. Số hộ cận nghèo DTTS cũng đã giảm, từ 26.892 hộ năm 2023 xuống còn 22.414 hộ năm 2025.
Thành tựu giảm tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo DTTS hàng năm của tỉnh Sơn La giai đoạn 2023 - 2025 (%)

Nguồn: Kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo các năm 2023 - 2025 theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025
Về giảm tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo DTTS, hình trên cho thấy tổng tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo đến năm 2025 cũng đã giảm được 6,28 điểm phần trăm so với năm 2023. Hộ nghèo và cận nghèo DTTS giảm lần lượt từ 16% năm 2023 xuống còn 11,05% năm 2025 và từ 10,36% xuống còn 9,03%.
So với các tỉnh trong vùng trung du miền núi phía Bắc, Sơn Là địa phương có số hộ DTTS cao nhất vùng năm 2025 nhưng tỷ lệ hộ nghèo DTTS thấp hơn một số tỉnh, như: Cao Bằng, Tuyên Quang, Lai Châu và Điện Biên và đứng thứ 5 trong 9 tỉnh vùng trung du miền núi phía Bắc.
Đạt được những kết quả giảm hộ nghèo, hộ cận nghèo DTTS như đã nêu trên có sự đóng góp không nhỏ từ những cách làm hay và thiết thực của các cấp, các ngành của tỉnh. Có thể kể đến như sau:
Thứ nhất, là một trong 10 dự án thành phần của chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN, Dự án 3 “Phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp bền vững, phát huy tiềm năng, thế mạnh của các vùng miền để sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị” có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển sinh kế cho các hộ nghèo, cận nghèo ở vùng đồng bào DTTS&MN và các bản đặc biệt khó khăn. Các địa phương đã chủ động khảo sát, rà soát điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng và tập quán canh tác của người dân để xây dựng các mô hình, chuỗi sản phẩm phù hợp với tiềm năng, thế mạnh của từng vùng; đẩy mạnh tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật, giúp người dân nắm bắt được quy trình sản xuất theo chuỗi, nâng cao trình độ và năng lực canh tác.
Tham gia chuỗi sản xuất, các hộ được hỗ trợ về giống, vật tư, phân bón và thực hiện liên kết sản xuất hàng hóa gắn với thị trường. Qua 5 năm triển khai, toàn tỉnh đã hình thành 8 chuỗi sản xuất, gồm: 2 chuỗi cà phê; 3 chuỗi mận; 1 chuỗi xoài và 2 chuỗi nhãn, với tổng vốn đầu tư khoảng 35,2 tỷ đồng, hỗ trợ trực tiếp 372,5 ha cây ăn quả, có 974 hộ dân được thụ hưởng.

Thứ hai, việc chuyển đổi phương thức sản xuất, ứng dụng khoa học kỹ thuật và từng bước hình thành vùng cây ăn quả tập trung tại một số địa phương đang giúp người dân nâng cao giá trị sản xuất, tạo thêm sinh kế, góp phần giảm nghèo bền vững.
Nếu như trước đây, nhiều hộ trồng cây ăn quả theo hướng nhỏ lẻ, manh mún, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm. Việc lựa chọn giống, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, thu hoạch và tiêu thụ sản phẩm chưa được chú trọng nên năng suất, chất lượng và giá trị kinh tế chưa cao. Dó đó, việc thực hiện chủ trương chuyển đổi diện tích đất dốc sang trồng cây ăn quả, đẩy mạnh tuyên truyền, vận động người dân phát triển những loại cây có lợi thế như xoài, nhãn, chuối. Cùng với đó, các lớp tập huấn, chuyển giao kỹ thuật được tổ chức; người dân được hướng dẫn chiết, ghép, cải tạo vườn tạp, lựa chọn giống mới có năng suất, chất lượng và giá trị kinh tế cao.
Thứ ba, tạo điều kiện cho các hộ DTTS tiếp cận tín dụng ưu đãi. Cùng với việc đổi mới phương thức cấp tín dụng, chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Sơn La cũng tập trung xây dựng, củng cố nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống Điểm giao dịch xã và mạng lưới Tổ tiết kiệm và vay vốn tại các bản làng. Với mạng lưới bao phủ rộng khắp như vậy, các hộ nghoè, hôj cần nghèo DTTS đều có thể tiếp cận được nguồn vốn chính sách ưu đãi. Có thể khẳng định, nguồn vốn tín dụng chính sách của Ngân hàng Chính sách xã hội đã và đang là “trụ cột” trong thực hiện các Chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo bền vững trên tỉnh miền núi Sơn La. Đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa, vùng cao biên giới ngày càng tin tưởng vào chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời thêm tin yêu đội ngũ cán bộ tín dụng chính sách.
Hơn nữa, để phát huy hiệu quả nguồn vốn vay, tỉnh cũng chú trọng hướng dẫn bà con cách thức canh tác, phát triển chăn nuôi, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, sử dụng nguồn vốn một cách tối ưu…
Triển vọng
Nghiên cứu cho thấy, triển vọng trong giảm nhanh hộ nghèo, hộ cận nghèo DTTS của tỉnh Sơn La trong thời gian tới là rất lớn. Điều này không chỉ thể hiện ở những thành tựu đã đạt được đang tạo đòn bẩy cho giảm nhanh hộ nghèo, hộ cận nghèo DTTS ở tỉnh Sơn La, mà quan trọng hơn trong giai đoạn 2026 - 2030, Sơn La đã xác định các chính sách dân tộc không chỉ tập trung hỗ trợ vùng đặc biệt khó khăn mà còn mở rộng ra các địa bàn khác để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS theo hướng toàn diện. Đặc biệt là việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2026 - 2030 theo đúng đối tượng, chủ thể và địa bàn được hưởng thụ.

Sơn La đẩy mạnh công tác giảm nghèo vùng đồng bào DTTS&MN và chú trọng thúc đẩy phát triển kinh tế các địa phương miền núi theo hướng bền vững.

Giải pháp giảm nghèo
Dưới đây là một số giải pháp định hướng góp phần đẩy nhanh giảm tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo DTTS cho tỉnh nhà tham khảo:
Một là, phân loại các nhóm hộ nghèo, hộ cận nghèo DTTS để áp dụng chính sách hỗ trợ phù hợp.
Trong số các hộ nghèo, hộ cận nghèo DTTS lại bao gồm những nhóm với những đặc điểm khác nhau. Để nâng cao năng lực thoát nghèo, không có nguy cơ tài nghèo cho các hộ lại cần phải có những giải pháp phù hợp, khác nhau cho từng nhóm.


Việc phê duyệt danh sách thôn/bản, xã vùng đồng bào DTTS&MN là cơ sở quan trọng để triển khai
các chính sách dân tộc, đặc biệt là chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm
nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN và phân bổ nguồn lực đầu tư
phát triển trong giai đoạn mới
Hai là, sớm hoàn thiện chính sách hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp cho hộ nghèo DTTS.
Tiếp tục áp dụng các chính sách cho hộ nghèo đang phát huy hiệu quả như chính sách bảo hiểm y tế, hỗ trợ con em DTTS đi học, chính sách tiếp cận tín dụng ưu đãi, hỗ trợ cây con giống, xây dựng các công trình dịch vụ xã hội chung cho bà con đồng bào DTTS. Riêng đối với với những hộ vừa thoát nghèo, hộ cận nghèo nên duy trì việc hưởng lợi từ các chính sách thêm một thời gian, để tránh nguy cơ tái nghèo.
Ba là, nâng cao năng lực tựthoát nghèo của người dân thông qua phát triển vốn con ngườiNâng cao năng lực tự thoát nghèo của người dân, đặc biệt là nhóm hộ có nhu cầu và khả năng vươn lên, là giải pháp then chốt để giảm nghèo bền vững. Điều này đòi hỏi phải tập trung phát triển “vốn con người” cho đồng bào DTTS, bao gồm nâng cao học vấn, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực quản lý kinh tế hộ gia đình, và ý chí vươn lên thoát nghèo.
Bốn là, tăng cường phối hợp liên ngành trong công tác giảm nghèo. Để giải quyết tình trạng thiếu phối hợp đồng bộ giữa các ban, ngành, địa phương, cần cụ thể hóa cơ chế phối hợp trong việc triển khai các chương trình, chính sách giảm nghèo. Việc thiết lập kênh thông tin liên lạc thường xuyên, tổ chức các hội nghị, diễn đàn trao đổi kinh nghiệm giữa các đơn vị là rất cần thiết.
Năm là, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộlàm công tác giảm nghèo. Nhằm khắc phục tình trạng thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao trong công tác giảm nghèo, cần đầu tư vào việc nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ. Cần tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác giảm nghèo, đặc biệt là cán bộ cấp xã, thôn bản.
TS. Nguyễn Văn Thuật, ThS. Đoàn Thanh Tùng
Tài liệu tham khảo
1. UBND tỉnh Sơn La, Quyết định số 68/QĐ-UBND ngày 9/1/2026 phê duyệt danh sách thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thôn đặc biệt khó khăn; xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã khu vực I, II, III, giai đoạn 2026 - 2030 trên địa bàn tỉnh Sơn La;
2. UBND tỉnh Sơn La, Kế hoạch số 163/KH-UBND về triển khai thực hiện Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045;
3. Kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo các năm 2023 - 2025 theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025;
4. Báo Nhân Dân điện tử (tháng 9/2026), Sơn La tạo chuyển biến ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số;
5. Báo và phát thanh, truyền hình Sơn La (tháng 9/2026), Phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững vùng đồng bào dân tộc;
6. Báo và phát thanh, truyền hình Sơn La (tháng 9/2026), Nguồn lực tiếp sức giảm nghèo bền vững.
_______________________________
1, 2 Theo Báo Sơn La điện tử, tháng 4/2026.
3 Theo Báo Sơn La điện tử, tháng 9/2026.