


Ba Chẽ, Quảng Ninh là xã miền núi, với phần lớn diện tích là rừng và đất rừng, sở hữu nhiều tài nguyên, cây quế đang góp phần quan trọng cho sự chuyển mình mạnh mẽ của địa phương bởi tạo sinh kế bền vững, nâng tầm kinh tế lâm nghiệp.

Là một trong những địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao của cả nước, Quảng Ninh đã lồng ghép hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia trước đây như giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới (NTM) và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS-MN và hiện nay là lồng ghép chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS-MN vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội chung của Quảng Ninh. Đáng chú ý, sự quan tâm và việc thực hiện có hiệu quả chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS-MN của địa phương không chỉ đang tạo ra chuẩn sống mới cho người dân ở các địa bàn DTTS-MN, mà còn tạo ra và để lại nhiều dấu ấn đáng trân trọng, có tính lan toả trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS-MN nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung của Quảng Ninh.


Hành trình giảm nghèo của Quảng Ninh thời gian qua không chỉ là giảm mạnh nghèo nói chung và xóa hộ nghèo, hộ cận nghèo DTTS nói riêng, mà còn là tấm gương sáng, có tính lan toả để các tỉnh, thành trong cả nước có thể tham khảo, học hỏi kinh nghiệm cho địa phương.
Năm 2025, Quảng Ninh là địa phương duy nhất của cả nước hoàn thành mục tiêu không còn hộ nghèo theo chuẩn quốc gia và không còn hộ nghèo, hộ cận nghèo DTTS. Đạt được thành tựu này, có sự đóng góp không nhỏ từ cách làm, cách tiếp cận bài bản trong giảm nghèo của Quảng Ninh. Đó là, nếu như trước đây, công tác giảm nghèo chủ yếu tập trung vào hỗ trợ trực tiếp, thì Quảng Ninh đã chuyển mạnh sang hướng "trao cơ hội" để người dân tự chủ sinh kế và tín dụng chính sách xã hội đã trở thành một nguồn lực quan trọng, tiếp sức cho các hộ vùng đồng bào DTTS-MN phát triển sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và từng bước vươn lên làm chủ cuộc sống và phát triển toàn diện...

Sau 5 năm 2021 - 2025 thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, xây dựng NTM và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS-MN, Quảng Ninh đã đạt được nhiều kết quả nổi bật về giảm nghèo, không chỉ hoàn thành sớm mục tiêu "không còn hộ nghèo theo chuẩn quốc gia", mà còn tạo bước chuyển biến rõ nét trong đời sống người dân, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, nơi biên giới và hải đảo. Điểm nhấn trong công tác giảm nghèo của Quảng Ninh chính là địa phương không coi giảm nghèo như một chương trình riêng lẻ, mà là gắn kết, lồng ghép chặt chẽ giữa các chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, xây dựng NTM và chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS-MN. Sự lồng ghép này cho phép tận dụng hạ tầng NTM, khai thác chính sách dân tộc nhằm khắc phục những thiếu hụt dịch vụ cơ bản ở vùng sâu, vùng xa. Các chính sách an sinh được triển khai đồng bộ, từ nhà ở, vốn tín dụng, dạy nghề, đến hạ tầng dịch vụ vùng DTTS-MN... với mục tiêu chung hướng đến là người dân có cuộc sống ổn định, không có nguy cơ tái nghèo, có niềm tin và động lực để vươn lên phát triển.
Có thể thấy, với cách tiếp cận như đã nêu trên, giúp nguồn lực đầu tư được sử dụng hiệu quả, gắn liền với phát triển toàn diện nhằm không để ai bị bỏ lại phía sau, tạo sức chống chịu cho các hộ gia đình trước những cú sốc hoặc vấn đề kinh tế lớn có thể nảy sinh. Theo thống kê, thu nhập bình quân đầu người tại vùng đồng bào DTTS và miền núi ở Quảng Ninh hiện nay nằm trong nhóm cao nhất cả nước.
Thành tựu trong giảm nghèo của Quảng Ninh giai đoạn 2023 - 2025 (%)
Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo
theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025
Trong những năm qua, Quảng Ninh đã có bước tiến mạnh trong việc phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, đặc biệt tại các khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS-MN. Việc đầu tư đồng bộ vào hệ thống giao thông không chỉ giúp rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, mà còn góp phần quan trọng để nâng cao chất lượng cuộc sống, mở ra nhiều cơ hội mới trong phát triển kinh tế, giao thương, du lịch, tạo việc làm có thu nhập cho cho người dân vùng đồng bào DTTS-MN.

Quảng Ninh chú trọng đầu tư đồng bộ hạ tầng giao thông để thúc đẩy sản xuất khu vực dân tộc thiểu số và miền núi
100% đường giao thông các xã vùng đồng bào DTTS-MN, biên giới đã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa. Các tuyến đường từ trung tâm xã đến thôn, bản cũng đã được cứng hóa đạt tiêu chí nông thôn mới. Hệ thống cầu cống, đường giao thông nông thôn, miền núi được đầu tư kiên cố theo hướng hiện đại, giúp người dân không còn bị cô lập trong mùa mưa lũ.

100% các thôn, bản được phủ sóng điện thoại di động và sóng 4G; 100% số hộ dân ở các xã, thôn, bản được sử dụng điện lưới quốc gia.
Dựa trên nền tảng hạ tầng kỹ thuật viễn thông, nhiều địa bàn đồng bào DTTS-MN đã ứng dụng thành công công nghệ thông tin, mạng Internet trong đời sống và sản xuất.
Hạ tầng mạng băng rộng cố định đã được triển khai đến tận các thôn, bản. 100% hộ đồng bào DTTS-MN, biên giới được bảo đảm hạ tầng truyền dẫn để xem truyền hình, nghe đài phát thanh quốc gia và Quảng Ninh.
Việc phát triển hạ tầng thông tin đã và đang giúp người dân vùng DTTS-MN chủ động tiếp cận, làm chủ các ứng dụng số. Nhờ đó, tiện ích công nghệ dần đi vào đời sống thiết thực hàng ngày, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền.

Một trong những dấu ấn quan trọng nữa cần phải kể đến, đó là sự quan tâm dành cho phát triển giáo dục và y tế vùng DTTS-MN của Quảng Ninh. Đây là hai lĩnh vực có ý nghĩa quyết định đến chất lượng nguồn nhân lực và đời sống của đồng bào các dân tộc. Do đó, Quảng Ninh đã đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp nhiều trường lớp học ở các xã, thôn bản vùng DTTS-MN, tạo điều kiện cho học sinh được học tập trong môi trường khang trang và an toàn.

Công tác tư vấn nghề nghiệp, đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường lao động cũng được đẩy mạnh nên đã và đang mở ra cơ hội việc làm bền vững cho thanh niên vùng DTTS-MN. Ngoài ra, Quảng Ninh cũng tiên phong trong việc thu hút, đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ người DTTS, từ đó nâng cao năng lực quản trị tại cơ sở.
Các chính sách hỗ trợ học sinh vùng khó khăn, vùng DTTS-MN, nơi biên giới tiếp tục được duy trì, mở rộng.
Với lĩnh vực y tế, Quảng Ninh cũng dành nguồn lực đáng kể để nâng cấp trạm y tế xã, bảo đảm phục vụ nhu cầu khám, chữa bệnh ban đầu cho nhân dân vùng sâu, vùng xa. Nhiều trạm y tế được đầu tư trang thiết bị hiện đại, có bác sĩ về làm việc, đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của đồng bào DTTS. 100% xã trên địa bàn đều đã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã. Bên cạnh đó, hệ thống các trung tâm y tế ở miền núi cũng được cải thiện, giúp người dân được tiếp cận dịch vụ y tế thuận lợi, giảm tình trạng phải di chuyển xa để khám và chữa trị bệnh.
Thời gian qua, Quảng Ninh cũng đã ban hành chính sách đặc thù hỗ trợ 100% thẻ BHYT cho hơn 70.000 người DTTS tại các xã mới ra khỏi diện đặc biệt khó khăn đến hết năm 2025. Các đề án chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và nâng cao thể trạng, tầm vóc người DTTS được triển khai đồng bộ, bài bản.
Những thành tựu đã đạt được từ việc triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 - 2025 như đã nêu trên đã tạo tiền đề quan trọng để Quảng Ninh bước vào thời kỳ mới với khát vọng phát triển mạnh mẽ.

Năm 2026 là năm đầu thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS-MN giai đoạn 2026 - 2030 theo cơ chế mới và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Quảng Ninh tiếp tục ưu tiên đầu tư cho vùng DTTS-MN và biên giới và bố trí khoảng 9.785 tỷ đồng ngân sách cho thực hiện chương trình này, trong đó khoảng 9.000 tỷ đồng vốn đầu tư công và 785 tỷ đồng chi thường xuyên. Riêng năm 2026, tỉnh bố trí 2.400 tỷ đồng vốn đầu tư công cho 32 địa phương.
Theo Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Quảng Ninh, trong 6 tháng đầu năm 2026, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS-MN, vùng đồng bào tôn giáo trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì ổn định; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.
Sở Dân tộc và Tôn giáo đã tham mưu cho UBND tỉnh ban hành nhiều cơ chế, chính sách quan trọng trong lĩnh vực dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo. Trong đó có quyết định số 25/2026/QĐ-UBND về quy chế phối hợp tham mưu quản lý nhà nước lĩnh vực dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Tham mưu tổng kết nghị quyết số 06-NQ/TU và xây dựng dự thảo nghị quyết mới về phát triển vùng đồng bào DTTS-MN đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 gắn với phát triển bền vững.
Tại kỳ họp thứ 6 HĐND tỉnh Quảng Ninh khóa XV diễn ra vào đầu tháng 7/2026 vừa qua, Bà Nguyễn Thị Tuyết Hạnh, Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh đã kiến nghị, UBND tỉnh sớm phân bổ vốn cho các địa phương, ưu tiên vùng đồng bào DTTS-MN, biên giới, hải đảo; đồng thời sớm ban hành các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo sinh kế, góp phần giảm nghèo bền vững và nâng cao đời sống người dân.

Sau khi Chính phủ ban hành quy định mới về phân định vùng DTTS-MN và trước khi chính thức trở thành thành phố, Quảng Ninh đã phê duyệt danh sách thôn, bản, khu phố vùng đồng bào DTTS-MN giai đoạn 2026 - 2030. Theo đó, toàn Quảng Ninh có 190 thôn, bản, khu phố thuộc vùng đồng bào DTTS-MN, trong đó có 171 thôn, bản, khu phố thuộc vùng DTTS và 147 thôn, bản, khu phố thuộc vùng miền núi. Danh sách được xác định trên cơ sở Nghị định số 272/2025/NĐ-CP của Chính phủ về phân định vùng DTTS-MN giai đoạn 2026 - 2030, đồng thời thay thế danh sách đã được ban hành trước đó.
Các thôn, bản, khu phố được phê duyệt phân bố tại 28 xã, phường và đặc khu trên địa bàn Quảng Ninh, tập trung ở các địa phương có đông đồng bào DTTS sinh sống như: Ba Chẽ, Bình Liêu, Hoành Mô, Lục Hồn, Kỳ Thượng, Đường Hoa, Quảng Đức, Hải Sơn, Vân Đồn…
Với việc phê duyệt này, Quảng Ninh trở thành địa phương đầu tiên trong cả nước hoàn thành việc phê duyệt danh sách sau sắp xếp thôn, bản, khu phố. Đây là căn cứ quan trọng để Quảng Ninh lập kế hoạch đầu tư, phân bổ nguồn lực, triển khai chương trình mục tiêu quốc gia và các chính sách an sinh, phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với từng địa bàn DTTS-MN. Điều này cho thấy, định hướng và quyết tâm của Quảng Ninh trong việc tiếp tục ưu tiên nguồn lực, chăm lo toàn diện đời sống đồng bào DTTS-MN, nơi biên giới, hải đảo để tạo thêm các động lực mới cho người dân phát triển.

Hơn nữa, ngày 24/8/2026 vừa qua, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 36/2026/QH16 về việc thành lập thành phố Quảng Ninh trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của tỉnh Quảng Ninh. Nghị quyết chính thức có hiệu lực từ ngày 01/9/2026, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tiến trình phát triển của Quảng Ninh. Đây cũng chính là một động lực mới, có ý nghĩa quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững của thành phố Quảng Ninh nói chung, các địa phương vùng đồng bào DTTS-MN trên địa thành phố nói riêng trong thời gian tới theo hướng ngày càng thu hẹp khoảng cách vùng miền và không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của đồng bào các DTTS-MN.
TS. Nguyễn Văn Thuật, ThS. Phạm Thị Quỳnh Trang
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Nông nghiệp và môi trường, kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2025 theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025;
2. UBND tỉnh Quảng Ninh, Quyết định số 2800/QĐ-UBND ngày 1/8/206 phê duyệt danh sách thôn, bản, khu phố vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2030;
3. Dấu ấn 5 năm phát triển vùng dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Ninh (baoquangninh.vn);
4. Tạp chí Thương hiệu và Công luận (2026), Quảng Ninh đẩy nhanh thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia;
5. Tạp chí Tổ chức nhà nước và Lao động (2026), Động lực phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi từ các Chương trình mục tiêu quốc gia ở Quảng Ninh.