Sơn La nỗ lực phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

27/08/2026 15:11


Là tỉnh miền núi, biên giới vùng Tây Bắc, Sơn La có địa bàn rộng, địa hình phức tạp với hơn 83% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS). Xác định phát triển vùng đồng bào DTTS và miền núi là nhiệm vụ hàng đầu và mang tính chiến lược trong phát triển của tỉnh nhà nên Sơn La ngày càng tập trung triển khai đồng bộ các chính sách, đồng thời huy động tối đa nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững vùng đồng bào DTTS và miền núi. Nhờ đó, diện mạo vùng đồng bào DTTS và miền núi nói chung; hạ tầng giao thông, thúc đẩy sản xuất, phát triển sinh kế và đời sống của người dân nói riêng từng bước được cải thiện, tạo nền tảng thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các địa phương trong tỉnh và hướng tới phát triển nhanh và bền vững hơn.

Những kết quả nổi bật trong phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đến năm 2025

Sơn La có diện tích khoảng 14.109,83 km², dân số khoảng 1,4 triệu người, với 75 đơn vị hành chính cấp xã sau sắp xếp năm 2025. Là tỉnh miền núi, địa hình chia cắt, đồng bào DTTS chiếm đa số, Sơn La xác định đầu tư hạ tầng, phát triển sinh kế, giảm nghèo, nâng cao chất lượng các dịch vụ xã hội và phát huy lợi thế nông nghiệp, du lịch là những nhiệm vụ trọng tâm. Qua triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2025 (Chương trình 1719), diện mạo kinh tế - xã hội của tỉnh, nhất là tại các địa bàn khó khăn, đã có nhiều chuyển biến rõ nét.

Huy động nguồn lực, tạo nền tảng cho phát triển vùng khó khăn

Một trong những kết quả nổi bật của Sơn La là tập trung nguồn lực đầu tư cho vùng đồng bào DTTS và miền núi. Giai đoạn 2021-2025, tỉnh được phân bổ hơn 5.857 tỷ đồng thực hiện Chương trình 1719, trong đó đến cuối năm 2025 đã giải ngân hơn 4.950 tỷ đồng, đạt 84,5%. Nguồn vốn được tập trung cho 10 dự án thành phần, ưu tiên hạ tầng thiết yếu, hỗ trợ sản xuất, đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt, giáo dục, y tế, sắp xếp dân cư và bảo tồn văn hóa.

Từ nguồn lực này, tỉnh đã giải quyết tình trạng thiếu đất ở, đất sản xuất cho 640 hộ; xây dựng 85 công trình cấp nước sinh hoạt; bố trí, sắp xếp ổn định dân cư tại 17 điểm với 956 hộ; cải tạo, xây mới 256 công trình giao thông nông thôn và hơn 140 công trình hạ tầng khác. Đây là nền tảng quan trọng để thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các địa bàn, nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ và tạo điều kiện để người dân phát triển sản xuất.

Bai DT26.5.1

Tổng kết Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 1 (2021 - 2025)(Nguồn: Cổng TTĐT tỉnh Sơn La)

Hạ tầng giao thông, điện, nước từng bước hoàn thiện

Hạ tầng giao thông được Sơn La xác định là khâu đột phá nhằm mở rộng không gian phát triển kinh tế - xã hội. Đến cuối năm 2025, 100% xã có đường ô tô đến trung tâm được nhựa hóa hoặc bê tông hóa; 78,3% số bản có đường được cứng hóa. Hệ thống giao thông được cải thiện không chỉ giúp người dân đi lại thuận lợi hơn mà còn giảm chi phí vận chuyển, tạo điều kiện đưa nông sản đến thị trường, thúc đẩy giao thương và phát triển du lịch tại các vùng nông thôn, miền núi.

Cùng với giao thông, các dịch vụ thiết yếu tiếp tục được mở rộng. Đến cuối năm 2025, 99,5% số hộ được sử dụng điện lưới an toàn và 97,5% dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh. Việc đầu tư 85 công trình cấp nước sinh hoạt góp phần cải thiện điều kiện sống, nâng cao chất lượng sức khỏe và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho sản xuất, học tập và sinh hoạt của người dân vùng cao.

Nông nghiệp phát triển theo hướng hàng hóa, gắn với du lịch và nâng cao thu nhập

Nông nghiệp tiếp tục là một trong những động lực quan trọng của kinh tế Sơn La. Tỉnh từng bước chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang phát triển các vùng sản xuất hàng hóa, xây dựng chuỗi liên kết và nâng cao giá trị nông sản. Trong giai đoạn 2021-2025, tỉnh triển khai 8 chuỗi sản xuất đối với các sản phẩm thế mạnh như cà phê, mận, xoài, nhãn, góp phần mở rộng thị trường và nâng cao giá trị sản xuất.

Đáng chú ý, phát triển nông nghiệp ngày càng gắn với du lịch cộng đồng, du lịch nông nghiệp và khai thác giá trị văn hóa bản địa. Các vùng sản xuất nông nghiệp, bản làng, lễ hội, sản phẩm đặc trưng và nghề truyền thống từng bước trở thành những yếu tố tạo sức hút du lịch. Qua đó, người dân không chỉ có thu nhập từ sản xuất nông nghiệp mà còn có thêm cơ hội phát triển dịch vụ, lưu trú, ẩm thực và bán sản phẩm địa phương. Giai đoạn 2021-2025, hơn 70.600 lao động được kết nối việc làm, chuyển đổi nghề; trên 7.800 người nghèo, cận nghèo được đào tạo nghề, từng bước nâng cao khả năng tự chủ kinh tế của người dân.

Thu nhập của đồng bào DTTS trên địa bàn tỉnh Sơn La có xu hướng cải thiện rõ rệt qua các năm. Năm 2023, thu nhập bình quân đạt 21,68 triệu đồng/người/năm; năm 2024 dự kiến đạt 24,78 triệu đồng/người/năm. Đến năm 2025, thu nhập bình quân của đồng bào DTTS được xác định đạt khoảng 39,2 triệu đồng/người/năm, tăng đáng kể so với năm 2023 và hướng tới mục tiêu thời gian tới tăng gấp đôi so với năm 2023. Kết quả này phản ánh tác động tích cực của các chính sách hỗ trợ sinh kế, phát triển sản xuất hàng hóa, đào tạo nghề, tạo việc làm và đầu tư kết cấu hạ tầng trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Giảm nghèo có chuyển biến rõ rệt, đời sống người dân từng bước được nâng lên

Giảm nghèo là một trong những kết quả nổi bật nhất trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Sơn La. Việc kết hợp đầu tư hạ tầng với hỗ trợ sinh kế, đào tạo nghề, tạo việc làm và mở rộng tiếp cận các dịch vụ xã hội đã góp phần giảm nghèo theo hướng bền vững hơn.

Theo kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022-2025, tỷ lệ nghèo đa chiều của tỉnh giảm từ 23,27% năm 2023 xuống 19,23% năm 2024 và còn 16,94% năm 2025. Riêng tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 14,17% xuống 10,89% và còn 9,37% trong cùng giai đoạn. Tỷ lệ hộ cận nghèo cũng giảm từ 9,10% năm 2023 xuống 7,57% năm 2025. Trong giai đoạn thực hiện Chương trình 1719, tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo tại các xã đặc biệt khó khăn giảm bình quân 4,47%/năm.

Hộ nghèo và cận nghèo theo chuẩn đa chiều của tỉnh Sơn La

Năm Tỷ lệ nghèo đa chiều Tổng số hộ nghèo và hộ cận nghèo Tỷ lệ hộ nghèo Hộ nghèo Tỷ lệ hộ cận nghèo Hộ cận nghèo
(%) (Hộ)  (%) (Hộ)  (%) (Hộ)
2023 23,27 69.197 14,17 42.147 9,10 27.050
2024 19,23 57.645 10,89 32.652 8,34 24.993
2025 16,94 51.001   9,37 28.212 7,57 22.789

Nguồn: Kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều tỉnh Sơn La
giai đoạn 2022 - 2025

Giáo dục, y tế và an sinh xã hội được quan tâm, chất lượng cuộc sống được cải thiện

Cùng với phát triển kinh tế, Sơn La chú trọng bảo đảm an sinh xã hội và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Giai đoạn 2021-2025, tỉnh đầu tư, tăng cường cơ sở vật chất cho 179 trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú; tỷ lệ trường, lớp được kiên cố hóa đạt 73,3%. Tỷ lệ học sinh đến trường đạt trên 90%, riêng cấp tiểu học và THCS đạt trên 98%; tỷ lệ người DTTS biết đọc, biết viết tiếng phổ thông đạt trên 94%. Những kết quả này góp phần nâng cao cơ hội tiếp cận giáo dục, hạn chế nguy cơ tái nghèo và tạo nền tảng phát triển nguồn nhân lực tại vùng khó khăn.

Trong lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khỏe, đến năm 2025, 98% đồng bào DTTS tham gia bảo hiểm y tế; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm còn 17,4%. Việc mở rộng bảo hiểm y tế cùng với cải thiện hệ thống hạ tầng, nước sạch và các dịch vụ thiết yếu góp phần nâng cao khả năng tiếp cận chăm sóc sức khỏe của người dân, nhất là tại vùng sâu, vùng xa.

Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là người DTTS ngày càng được chú trọng. Tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức DTTS đạt 26,4% ở cấp tỉnh và 86,1% ở cấp xã, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách tại cơ sở và tăng cường sự tham gia của đồng bào trong quản lý, phát triển địa phương.

Bảo tồn văn hóa gắn với phát triển du lịch, tạo thêm sinh kế cho người dân

Sơn La cũng đạt nhiều kết quả trong việc phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc gắn với phát triển du lịch. Thông qua Dự án 6 của Chương trình 1719, tỉnh tập trung bảo tồn, phục dựng lễ hội, truyền dạy văn hóa phi vật thể, duy trì các câu lạc bộ văn hóa dân gian và phát triển du lịch cộng đồng. Riêng năm 2025, có 7 lễ hội truyền thống của các DTTS được bảo tồn, phát huy và khai thác phục vụ du lịch; 7 câu lạc bộ văn hóa dân gian được duy trì.

Từ các lễ hội truyền thống, nghề thủ công, sản phẩm thổ cẩm đến các bản du lịch cộng đồng, Sơn La đang từng bước chuyển hóa giá trị văn hóa thành nguồn lực kinh tế. Việc kết hợp giữa nông nghiệp, văn hóa và du lịch không chỉ tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người dân mà còn góp phần bảo tồn bản sắc, nâng cao ý thức cộng đồng và tạo động lực phát triển bền vững.

Nhìn tổng thể, những kết quả đạt được trong giảm nghèo, nâng cao thu nhập, hoàn thiện hạ tầng, phát triển nông nghiệp hàng hóa, mở rộng giáo dục - y tế và bảo tồn văn hóa cho thấy Sơn La đang từng bước chuyển từ hỗ trợ trực tiếp sang tạo nền tảng để người dân chủ động phát triển sinh kế. Đây là cơ sở quan trọng để tỉnh tiếp tục thu hẹp khoảng cách phát triển, nâng cao chất lượng cuộc sống và phát huy hiệu quả hơn nữa tiềm năng kinh tế - xã hội của vùng đồng bào DTTS và miền núi trong giai đoạn tới.

Bai DT26.5.2

Sơn La phát huy lợi thế từng bước nâng cao giá trị cây cà phê (Nguồn: Cổng TTĐT tỉnh Sơn La)

Thách thức

Nhìn chung, mặc dù đã đạt nhiều kết quả tích cực, Sơn La vẫn còn đối mặt với không ít khó khăn trong phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi. Địa hình rộng, chia cắt, dân cư phân tán khiến chi phí đầu tư và hoàn thiện hạ tầng còn cao, trong khi một số tuyến giao thông, công trình thiết yếu ở vùng sâu, vùng xa chưa đồng bộ. Sinh kế của người dân vẫn phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp, quy mô sản xuất còn nhỏ, khả năng liên kết chuỗi, chế biến và tiêu thụ nông sản chưa đồng đều, nên thu nhập và khả năng tích lũy còn hạn chế, nguy cơ tái nghèo vẫn hiện hữu. Chất lượng nguồn nhân lực, đào tạo nghề và việc làm tại chỗ chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển; khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội ở một số địa bàn còn chênh lệch. Bên cạnh đó, quá trình triển khai Chương trình 1719 vẫn gặp vướng mắc về cơ chế, thủ tục, năng lực tổ chức thực hiện và giải ngân một số nguồn vốn, nhất là vốn sự nghiệp và hỗ trợ phát triển sản xuất. Sau sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, việc phân định lại vùng DTTS và miền núi cũng đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện tiêu chí, cơ chế chính sách để bảo đảm những địa bàn thực sự khó khăn tiếp tục được thụ hưởng chính sách phù hợp.

Triển vọng trong thời gian tới

Trong giai đoạn 2026-2030, vùng đồng bào DTTS và miền núi Sơn La có nhiều dư địa phát triển dựa trên những kết quả đã đạt được về hạ tầng, giảm nghèo và cải thiện sinh kế. Trước hết, nông nghiệp hàng hóa và chế biến nông sản tiếp tục là động lực quan trọng, với việc mở rộng các vùng sản xuất tập trung, nâng cao chất lượng, đẩy mạnh chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và phát triển chuỗi giá trị đối với các sản phẩm thế mạnh như cà phê, cây ăn quả, chè và dược liệu.

Phát triển du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái gắn với bảo tồn văn hóa cũng mở ra cơ hội tạo sinh kế mới cho người dân. Việc kết hợp cảnh quan, bản sắc dân tộc, lễ hội, ẩm thực, nghề truyền thống với các vùng sản xuất nông nghiệp có thể hình thành những sản phẩm du lịch đặc trưng, qua đó tạo thêm việc làm và thu nhập tại chỗ.

Hạ tầng và chuyển đổi số được kỳ vọng tiếp tục tạo nền tảng mở rộng không gian phát triển. Việc hoàn thiện giao thông nông thôn, điện, nước, trường học, cơ sở y tế và hạ tầng viễn thông sẽ giúp các bản vùng cao kết nối tốt hơn với thị trường và dịch vụ xã hội, đồng thời tạo điều kiện để người dân tiếp cận thương mại điện tử, dịch vụ số và các cơ hội kinh tế mới.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tạo việc làm bền vững sẽ là yếu tố then chốt để giảm nghèo lâu dài. Sơn La có triển vọng chuyển dịch một bộ phận lao động từ sản xuất nông nghiệp năng suất thấp sang chế biến nông sản, du lịch, dịch vụ và các ngành nghề phi nông nghiệp thông qua đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường.

Cuối cùng, giảm nghèo sẽ chuyển mạnh từ hỗ trợ trực tiếp sang nâng cao năng lực tự chủ của người dân, gắn giảm nghèo với thu nhập, việc làm, giáo dục, y tế và tiếp cận các dịch vụ cơ bản. Nếu tiếp tục tháo gỡ các điểm nghẽn về hạ tầng, nguồn nhân lực, thị trường và tổ chức thực hiện chính sách, Sơn La có nhiều cơ hội thu hẹp khoảng cách phát triển, nâng cao chất lượng cuộc sống và xây dựng vùng đồng bào DTTS và miền núi phát triển bền vững trong giai đoạn 2026-2030.

Giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của tỉnh Sơn La thời gian tới

Những kết quả đạt được trong thời gian qua là nền tảng quan trọng để Sơn La tiếp tục bứt phá trong giai đoạn phát triển mới. Để phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của địa phương, nâng cao chất lượng đời sống người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi theo hướng nhanh, bền vững và bao trùm, tỉnh cần tập trung triển khai một số giải pháp trọng tâm sau:

Thứ nhất, tiếp tục huy động, lồng ghép và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư từ ngân sách Trung ương, ngân sách địa phương và các nguồn lực xã hội hóa; ưu tiên đầu tư đồng bộ hệ thống hạ tầng giao thông, thủy lợi, điện, nước sạch, viễn thông và hạ tầng số tại vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới nhằm tạo nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

Thứ hai, đẩy mạnh cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, phát triển các vùng chuyên canh cây trồng, vật nuôi có lợi thế; mở rộng liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, phát triển kinh tế hợp tác, nâng cao chất lượng sản phẩm OCOP, gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ và xây dựng thương hiệu, qua đó nâng cao thu nhập và giảm nghèo bền vững cho đồng bào DTTS.

Thứ ba, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua tăng cường đào tạo nghề, phát triển kỹ năng số, hỗ trợ khởi nghiệp, giải quyết việc làm và tạo điều kiện để người lao động tiếp cận khoa học, kỹ thuật, chuyển đổi số trong sản xuất và kinh doanh; đồng thời thu hút doanh nghiệp đầu tư vào vùng đồng bào DTTS, tạo thêm nhiều việc làm ổn định tại địa phương.

Thứ tư, tiếp tục thực hiện hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo đa chiều, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, bảo hiểm y tế và hỗ trợ sinh kế cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo; chú trọng công tác phòng, chống thiên tai, bố trí, sắp xếp dân cư tại các khu vực có nguy cơ sạt lở, lũ quét, góp phần hạn chế nguy cơ tái nghèo.

Thứ năm, đẩy mạnh bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc gắn với phát triển du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái và du lịch trải nghiệm; tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong quản lý, quảng bá, tiêu thụ sản phẩm và phát triển dịch vụ, góp phần khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của địa phương và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS theo hướng nhanh, bền vững và bao trùm.

ThS. Nguyễn Thu Trang

 

Tài liệu tham khảo:

1. Quốc hội (2020), Nghị quyết số 120/2020/QH14 ngày 19/6/2020 về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2030;

2. Thủ tướng Chính phủ (2021), Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: 2021-2025;

3. UBND tỉnh Sơn La (2025), Báo cáo tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2025 trên địa bàn tỉnh Sơn La;

4. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026), Quyết định số 806/QĐ-BNNMT ngày 11/3/2026 về việc công bố kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2025 theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022-2025;

5. Báo Sơn La (2026), “Đổi thay từ chính sách dân tộc”, ngày 03/02/2026;

6. Báo Nông nghiệp và Môi trường (2026), “Sơn La thúc đẩy phát triển sản xuất từ Chương trình mục tiêu quốc gia”, ngày 24/3/2026.