Bức tranh tăng trưởng của các địa phương trong 6 tháng đầu năm 2026

07/08/2026 14:27


Trên cơ sở phân tích kết quả tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của 34 tỉnh, thành phố trong 6 tháng đầu năm 2026 và đối chiếu với mục tiêu tại Nghị quyết số 169/NQ-CP ngày 27/6/2026 của Chính phủ, bài viết phân tích bức tranh tăng trưởng kinh tế của các địa phương, các vùng kinh tế - xã hội và vai trò của các cực tăng trưởng quốc gia, các thành phố trực thuộc Trung ương trong dẫn dắt tăng trưởng. Kết quả cho thấy, kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, với tốc độ tăng trưởng GDP khoảng 8,18% so với cùng kỳ năm trước, đây là mức cao nhất trong 6 tháng đầu năm giai đoạn 2011 - 2026, nhưng phần lớn các địa phương có tốc độ tăng trưởng còn thấp hơn so với mục tiêu tăng trưởng được giao trong năm 2026. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả điều hành tăng trưởng góp phần thực hiện thành công mục tiêu phát triển kinh tế giai đoạn 2026 - 2030.

1. Đặt vấn đề

Kết quả 6 tháng đầu năm 2026 cho thấy nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, với tốc độ tăng trưởng GDP khoảng 8,18% so với cùng kỳ năm trước, mức cao nhất trong 6 tháng đầu năm của giai đoạn 2011 - 2026, song vẫn thấp hơn mục tiêu tăng trưởng 9,7% đã đề ra. Đồng thời, bức tranh tăng trưởng giữa các địa phương cho thấy sự phân hóa rõ nét, phản ánh sự khác biệt về quy mô và cơ cấu kinh tế, năng lực thu hút đầu tư, chất lượng nguồn nhân lực, khả năng huy động nguồn lực và hiệu quả quản trị phát triển. 

Ngày 27/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 169/NQ-CP giao mục tiêu tăng trưởng năm 2026 và cả giai đoạn 2026 - 2030 cho từng địa phương gắn với mục tiêu tăng trưởng chung của cả nước; đồng thời, yêu cầu các địa phương đổi mới tư duy phát triển, chủ động xác định các động lực tăng trưởng mới, tháo gỡ điểm nghẽn và nâng cao năng lực tổ chức thực hiện. Trong bối cảnh đó, phân tích kết quả tăng trưởng của các địa phương trong 6 tháng đầu năm 2026 sẽ cung cấp cơ sở đánh giá mức độ thực hiện mục tiêu tăng trưởng theo Nghị quyết số 169/NQ-CP, nhận diện sự khác biệt về động lực phát triển của địa phương, nhất là các cực tăng trưởng của vùng động lực và tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương. Từ đó đề xuất các chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành và hỗ trợ thực hiện thành công mục tiêu tăng trưởng. 

2. Tăng trưởng kinh tế của các địa phương trong 6 tháng đầu năm 2026 

2.1. Tổng quan tốc độ tăng trưởng kinh tế của các địa phương 

Trong 6 tháng đầu năm 2026, cả nước có 22/34 địa phương (chiếm 64,7% số địa phương) đạt tốc độ tăng trưởng GRDP cao hơn tốc độ tăng trưởng bình quân của cả nước; 12 địa phương còn lại có mức tăng trưởng thấp hơn bình quân cả nước. Các địa phương được phân thành ba nhóm cụ thể như sau: 

(1) Nhóm tăng trưởng vượt trội (tốc độ tăng trưởng GRDP trên 10%): Nhóm gồm 9/34 địa phương đạt tốc độ tăng trưởng GRDP hai con số là Hà Tĩnh (12,79%), Ninh Bình (11,44%), Hải Phòng (11,33%), Quảng Ninh (11,11%), Hưng Yên (10,72%), Bắc Ninh (10,56%), Phú Thọ (10,18%), Tây Ninh (10,12%) và Thái Nguyên (10,01%). Đây là nhóm địa phương có sự bứt phá về tốc độ tăng trưởng, cho thấy khả năng khai thác hiệu quả các lợi thế phát triển và thu hút các nguồn lực mới. Động lực chủ yếu của nhóm này đến từ khu vực công nghiệp và xây dựng, trong đó nhiều địa phương tận dụng tốt cơ hội từ xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng công nghệ toàn cầu, đồng thời được hỗ trợ bởi sự gia tăng đầu tư hạ tầng và đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công.

(2) Nhóm tăng trưởng cao hơn bình quân cả nước (tốc độ tăng trưởng GRDP đạt từ 8,18% đến dưới 10%): Nhóm gồm 13/34 địa phương là Lai Châu (9,91%), Đồng Nai (9,81%), Nghệ An (9,65%), Đà Nẵng (9,52%), Lào Cai (9,31%), Khánh Hoà (9,03%), An Giang (8,83%), Điện Biên (8,67%), TP. Hồ Chí Minh (8,55%), Quảng Ngãi (8,55%), Huế (8,33%), Hà Nội (8,22%), Gia Lai (8,21%). Kết quả này cho thấy nhiều địa phương đã phát huy được lợi thế về quy mô kinh tế, sự phát triển của lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, đầu tư và tiêu dùng, tạo nền tảng quan trọng để tiếp tục cải thiện tốc độ tăng trưởng trong thời gian tới. Tuy nhiên, mức tăng trưởng của nhóm vẫn cho thấy dư địa bứt phá còn phụ thuộc vào khả năng chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất và khai thác hiệu quả các động lực phát triển mới.

Hình 1: Tốc độ tăng trưởng GRDP của các địa phương 6 tháng đầu năm 2026

(Đơn vị: %)

screenshot_1786006204

(Nguồn: Xử lý từ số liệu tại Nghị quyết số 180/NQ-CP ngày 06/7/2026)

(3) Nhóm tăng trưởng khá (tốc độ tăng trưởng GRDP đạt từ 6% đến dưới 8,18%): Nhóm có 12/34 địa phương, gồm Sơn La (6,02%), Vĩnh Long (6,41%), Cà Mau (6,6%), Cần Thơ (6,7%), Lạng Sơn (7,02%), Đồng Tháp (7,14%), Thanh Hóa (7,21%), Tuyên Quang (7,72%), Đắk Lắk (7,84%), Cao Bằng (7,85%), Lâm Đồng (7,9%) và Quảng Trị (8,1%). Kết quả này cho thấy khả năng mở rộng quy mô sản xuất, thu hút đầu tư và khai thác các lợi thế phát triển chưa tạo được sự bứt phá so với yêu cầu của năm 2026, đòi hỏi tiếp tục thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực trong thời gian tới.

Đối chiếu với mục tiêu tăng trưởng được giao tại Nghị quyết số 169/NQ-CP ngày 27/6/2026 của Chính phủ, cụ thể:

(i) Trong 6 tháng đầu năm 2026, ngoài hai tỉnh là Hà Tĩnh và Ninh Bình đạt tốc độ tăng trưởng GRDP cao mục tiêu đề ra cho năm 2026, tỉnh Tây Ninh đạt tốc độ tăng trưởng GRDP bằng với mục tiêu năm 2026,  hầu hết các địa phương còn lại vẫn cách mục tiêu từ 0,5 - 4 điểm phần trăm, như Thanh Hóa (7,21% so với mục tiêu 11%); Hà Nội (8,22% so với 11%); Cần Thơ (6,70% so với 10,07%)... Điều này đặt ra áp lực rất cao cho các địa phương trong bối cảnh nền kinh tế trong nước còn đối mặt với nhiều thách thức, rủi ro từ kinh tế thế giới.

Bảng 1: Kết quả thực hiện mục tiêu tăng trưởng của các địa phương được giao tại Nghị quyết số 169/NQ-CP ngày 27/6/2026 của Chính phủ 

(Đơn vị: %)

screenshot_1786011184screenshot_1786011216

(Nguồn: Tổng hợp số liệu từ Nghị quyết số 169/NQ-CP ngày 27/6/2026 của Chính phủ và Nghị quyết số 180/NQ-CP ngày 06/7/2026)

(ii) Xét theo 6 vùng kinh tế - xã hội, bức tranh tăng trưởng GRDP 6 tháng đầu năm 2026 cho thấy sự phân hóa rõ nét. Đồng bằng sông Hồng là điểm sáng nổi bật với phần lớn các địa phương đạt mức tăng trưởng trên 10%, trong đó Ninh Bình đã cao mục tiêu năm 2026. Ngược lại, Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên đều chưa có nhiều địa phương bứt phá; chỉ Hà Tĩnh cao hơn mục tiêu, còn đa số vẫn thấp hơn kế hoạch năm. Đông Nam Bộ mới có Tây Ninh hoàn thành mục tiêu, trong khi hai đầu tàu kinh tế là TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chưa đạt kỳ vọng. Đồng bằng sông Cửu Long có tốc độ tăng trưởng thấp nhất khi tất cả các địa phương đều chưa hoàn thành mục tiêu tăng trưởng, với mức tăng chủ yếu dao động từ 6 - 8%.

2.2. Kết quả tăng trưởng kinh tế các cực tăng trưởng và thành phố trực thuộc Trung ương

Theo định hướng phát triển không gian quốc gia, Thủ đô Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Cần Thơ là 04 cực tăng trưởng quốc gia, giữ vai trò dẫn dắt các vùng động lực và thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế. Hải Phòng, Huế và Đồng Nai là ba thành phố trực thuộc Trung ương còn lại, tiếp tục phát huy vai trò là các trung tâm kinh tế quan trọng, tạo sức lan tỏa và tăng cường liên kết vùng. Kết quả tăng trưởng của bảy thành phố trong 6 tháng đầu năm 2026 phản ánh hiệu quả phát huy các động lực tăng trưởng và đóng góp quan trọng vào mục tiêu tăng trưởng của cả nước. Cụ thể như sau:

Thủ đô Hà Nội: Trong 6 tháng đầu năm 2026, GRDP của Thủ đô tăng 8,22%, cao hơn mức tăng chung của cả nước, tạo nền tảng tích cực để phấn đấu hoàn thành mục tiêu tăng trưởng 11% trong cả năm. Đầu tư tiếp tục là động lực quan trọng khi tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng 14,1% so với cùng kỳ. Thành phố đang đẩy nhanh giải phóng mặt bằng cho 1.428 dự án, trong đó có nhiều công trình hạ tầng chiến lược như các cầu vượt sông Hồng, các tuyến giao thông vành đai..., không chỉ mở rộng không gian phát triển của Thủ đô mà còn tăng cường kết nối với các địa phương trong vùng động lực phía Bắc, nâng cao hiệu quả liên kết vùng. Khu vực dịch vụ tăng 8,51%, đóng góp 5,8 điểm phần trăm vào mức tăng GRDP, tiếp tục là khu vực dẫn dắt tăng trưởng quan trọng nhất nhờ quy mô thị trường lớn và sự phát triển của thương mại, tài chính, du lịch, logistics.

Hình 2: Tốc độ tăng trưởng GRDP của 7 thành phố trực thuộc Trung ương 6 tháng đầu năm 2026

AMH

(Nguồn: Xử lý từ số liệu tại Nghị quyết số 180/NQ-CP ngày 06/7/2026)

Thành phố Đà Nẵng: Sau khi hợp nhất với Quảng Nam, Đà Nẵng có thêm dư địa phát triển với không gian kinh tế rộng lớn hơn, tăng cường kết nối giữa đô thị, công nghiệp, logistics, cảng biển và du lịch. Trong 6 tháng đầu năm 2026, GRDP của Thành phố tăng 9,52%, đứng đầu vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, khẳng định vai trò là cực tăng trưởng của vùng động lực miền Trung. Động lực tăng trưởng của Thành phố chủ yếu đến từ khu vực dịch vụ với tốc độ tăng 9,31%, đóng góp khoảng 52% vào mức tăng GRDP. Du lịch tiếp tục là ngành kinh tế mũi nhọn và đang chuyển dần sang nâng cao giá trị gia tăng thông qua phát triển các sản phẩm nghỉ dưỡng, sự kiện và trải nghiệm, đồng thời thu hút ngày càng nhiều khách quốc tế. Khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 11,72%, đóng góp gần 34% vào tăng trưởng GRDP. Qua đó, hình thành mô hình tăng trưởng cân bằng hơn giữa dịch vụ, công nghiệp và logistics, củng cố vai trò trung tâm kinh tế và cửa ngõ giao thương ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.

Thành phố Cần Thơ: Là trung tâm của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nhưng GRDP của Cần Thơ trong 6 tháng đầu năm 2026 chỉ tăng 6,7%, thấp hơn đáng kể so với các cực tăng trưởng khác, cho thấy dư địa phát triển vẫn còn lớn và cần được khai thác thông qua các động lực tăng trưởng mới. Khu vực dịch vụ là trụ cột của nền kinh tế với tốc độ tăng khoảng 7,6%, đóng góp gần 54% vào mức tăng GRDP. Hoạt động thương mại và du lịch duy trì đà khởi sắc khi tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt gần 127,8 nghìn tỷ đồng. Lượng khách du lịch đạt 7,54 triệu lượt, doanh thu du lịch đạt khoảng 6.608 tỷ đồng, tăng 21%, phản ánh sức phục hồi và mở rộng của ngành dịch vụ. Ở khu vực công nghiệp - xây dựng, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 9,2%; nhưng giá trị tăng thêm của khu vực này chỉ tăng khoảng 6,5%. Điều này cho thấy quy mô sản xuất công nghiệp của thành phố còn khiêm tốn, khả năng thu hút các dự án công nghiệp quy mô lớn còn hạn chế. Nông nghiệp tiếp tục là lợi thế nổi bật của Cần Thơ với mức tăng trưởng 4,47%, đóng góp khoảng 13% vào mức tăng GRDP của thành phố. Thành phố đang tích cực triển khai Đề án phát triển 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó quy mô thực hiện trên địa bàn đạt hơn 170.000 ha. 

Thành phố Hồ Chí Minh: Trong 6 tháng đầu năm 2026, GRDP của Thành phố tăng 8,55%, mức cao nhất trong 10 năm; chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 11,1%; tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt gần 310 nghìn tỷ đồng, tăng 9,9%; thu hút FDI đạt hơn 6,8 tỷ USD, tăng 114,2% so với cùng kỳ. Các lĩnh vực công nghệ cao, logistics, tài chính và đổi mới sáng tạo tiếp tục phát triển mạnh; hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của Thành phố tăng 12 bậc trên bảng xếp hạng toàn cầu, lần đầu tiên lọt vào Top 100 hệ sinh thái khởi nghiệp hàng đầu thế giới, hoàn thành mục tiêu sớm hơn 4 năm so với kế hoạch. Đồng thời, Chính phủ đã phê duyệt mở rộng Khu Công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh (SHTP) thêm gần 195 ha nhằm không gian phát triển mới cho hoạt động nghiên cứu - phát triển (R&D), chuyển giao công nghệ và tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học, hướng tới hình thành Công viên Khoa học và Công nghệ của Thành phố.

Thành phố Hải Phòng: Hải Phòng tiếp tục khẳng định vị trí là một trong những cực tăng trưởng công nghiệp quan trọng nhất của khu vực phía Bắc với tốc độ tăng trưởng GRDP trong 6 tháng đầu năm 2026 đạt 11,33%, cao nhất trong nhóm các thành phố trực thuộc Trung ương. Khu vực công nghiệp - xây dựng tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ đạo của Hải Phòng khi tăng 13,46%, đóng góp hơn 62% vào mức tăng GRDP. Các ngành điện tử, linh kiện, phương tiện giao thông và sản phẩm công nghiệp kỹ thuật cao tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt, từng bước định hình Hải Phòng trở thành trung tâm sản xuất công nghệ cao của phía Bắc và cả nước Động lực tăng trưởng được củng cố mạnh mẽ bởi dòng vốn FDI. Trong 6 tháng đầu năm 2026, Hải Phòng thu hút 3,135 tỷ USD vốn FDI, tăng 76,7% so với cùng kỳ, chủ yếu tập trung vào các khu công nghiệp, khu kinh tế và các dự án công nghệ cao, chế biến chế tạo[1]. Logistics và kinh tế cảng biển tiếp tục phát huy lợi thế với sản lượng hàng hóa thông qua cảng tăng 11,4%; cảng Hải Phòng tiếp nhận thành công tàu container gần 214.000 DWT, qua đó củng cố vị thế là trung tâm logistics và cửa ngõ hàng hải quốc tế của miền Bắc. Đồng thời, chuỗi sự kiện Lễ hội Hoa Phượng Đỏ - Hải Phòng 2026 cùng các chương trình kích cầu du lịch đã thu hút 7,28 triệu lượt khách, tăng 15,04%, trong đó khách quốc tế đạt 601 nghìn lượt, tạo thêm động lực cho các ngành thương mại, lưu trú và dịch vụ.

Thành phố Huế: Sau khi trở thành thành phố trực thuộc Trung ương từ ngày 01/01/2025, Huế đang từng bước định hình mô hình tăng trưởng dựa trên sự kết hợp giữa lợi thế di sản văn hóa với phát triển công nghiệp và các ngành dịch vụ chất lượng cao với GRDP của Thành phố tăng 8,33% trong 6 tháng đầu năm 2026. Khu vực dịch vụ tiếp tục giữ vai trò chủ đạo với tốc độ tăng trưởng GRDP khoảng 8,4% và đóng góp hơn 50% vào mức tăng trưởng chung. Du lịch tiếp tục là điểm sáng, thu hút hơn 4,3 triệu lượt khách, tăng 30% so với cùng kỳ; doanh thu du lịch tăng trên 50% nhờ phát huy hiệu quả giá trị của Quần thể Di tích Cố đô Huế, Festival Huế và các sản phẩm du lịch văn hóa, nghỉ dưỡng. Điều này cho thấy Huế đang chuyển từ khai thác lợi thế di sản đơn thuần sang phát triển kinh tế di sản. Khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 9,56% (riêng ngành công nghiệp tăng 10,20%), đóng góp khoảng 37% vào mức tăng GRDP. Xu hướng này không chỉ góp phần đa dạng hóa cơ cấu kinh tế, giảm dần sự phụ thuộc vào khu vực dịch vụ mà còn tạo nền tảng để Huế thu hút đầu tư vào các ngành công nghệ cao, công nghiệp xanh và đổi mới sáng tạo.

Thành phố Đồng Nai: Trở thành thành phố trực thuộc Trung ương thứ bảy của nước ta từ ngày 30/4/2026, Đồng Nai bước vào giai đoạn phát triển mới với vị thế và dư địa phát triển lớn hơn. Trong 6 tháng đầu năm 2026, GRDP của Thành phố tăng 9,81%. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ khu vực công nghiệp - xây dựng, với mức tăng 11,84%, đóng góp gần 65% vào mức tăng GRDP, cho thấy Đồng Nai tiếp tục phát huy lợi thế của một trung tâm sản xuất quy mô lớn với hệ sinh thái công nghiệp đa ngành và chuỗi cung ứng tương đối hoàn chỉnh. Đầu tư tiếp tục là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Đồng Nai khi thu hút gần 1,5 tỷ USD vốn FDI trong 6 tháng đầu năm, đồng thời tổng vốn đầu tư trong nước (bao gồm cả trong và ngoài các khu công nghiệp) đạt hơn 848 nghìn tỷ đồng, tương đương 530% kế hoạch năm. Dòng vốn đầu tư gia tăng không chỉ mở rộng năng lực sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế mà còn tạo nền tảng để Đồng Nai phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, logistics và dịch vụ hiện đại.

2.3. Đánh giá chung 

Nhìn chung, kinh tế cả nước trong 6 tháng đầu năm 2026 duy trì đà tăng trưởng tích cực, tạo nền tảng thuận lợi để phấn đấu hoàn thành mục tiêu tăng trưởng cả năm. Đã có 9/34 địa phương đạt tốc độ tăng trưởng hai con số, một số địa phương thuộc các vùng động lực tiếp tục phát huy vai trò đầu tàu trong thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp, dịch vụ và đổi mới sáng tạo, qua đó tạo sức lan tỏa đối với tăng trưởng của các vùng và cả nước.

Tuy nhiên, kết quả tăng trưởng giữa các địa phương còn phân hóa rõ nét. Phần lớn địa phương có kết quả tăng trưởng thấp hơn mục tiêu tăng trưởng được giao tại Nghị quyết số 169/NQ-CP; trong đó, 11/34 địa phương có tốc độ tăng trưởng dưới 8%. Đáng chú ý, cả 04 cực tăng trưởng quốc gia đều chưa đạt tăng trưởng hai con số; riêng Cần Thơ là cực tăng trưởng có tốc độ tăng trưởng thấp hơn mức bình quân cả nước; như vậy, vai trò dẫn dắt của một số cực tăng trưởng chưa được phát huy tương xứng với kỳ vọng.

Những hạn chế trên xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục tiềm ẩn nhiều rủi ro, xu hướng bảo hộ thương mại, biến động địa chính trị và thị trường quốc tế gây áp lực đối với sản xuất, xuất khẩu và thu hút đầu tư. Trong nước, một số điểm nghẽn về thể chế, kết cấu hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực đổi mới sáng tạo, khả năng hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp và tiến độ triển khai các dự án đầu tư chưa được khắc phục triệt để, làm hạn chế khả năng hình thành và phát huy các động lực tăng trưởng mới của nhiều địa phương.

3. Một số khuyến nghị 

Thứ nhất, đổi mới công tác điều hành tăng trưởng theo hướng phân loại địa phương theo mức độ hoàn thành mục tiêu và dư địa phát triển. Thường xuyên rà soát, cập nhật kịch bản tăng trưởng theo từng quý và từng ngành; tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn về đầu tư, sản xuất, thị trường và giải ngân đầu tư công đối với các địa phương còn cách xa mục tiêu theo Nghị quyết số 169/NQ-CP. Đồng thời, tạo điều kiện để các địa phương có dư địa tăng trưởng lớn phát huy tối đa tiềm năng, đóng góp nhiều hơn vào tăng trưởng chung.

Thứ hai, phát huy mạnh mẽ vai trò đầu tàu của các cực tăng trưởng và vùng động lực. Tập trung triển khai hiệu quả các cơ chế, chính sách đặc thù; ưu tiên phát triển các ngành có giá trị gia tăng cao như công nghiệp công nghệ cao, logistics, tài chính, đổi mới sáng tạo và kinh tế số, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh và tăng sức lan tỏa của các trung tâm kinh tế lớn đối với các địa phương trong vùng.

Thứ ba, thúc đẩy hình thành các động lực tăng trưởng mới phù hợp với lợi thế của từng địa phương. Phát triển mạnh các ngành công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo (AI), công nghiệp bán dẫn, trung tâm dữ liệu, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và các ngành dịch vụ chất lượng cao, tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững.

Thứ tư, nâng cao chất lượng tăng trưởng và tính tự chủ của nền kinh tế địa phương. Thu hút FDI theo hướng có chọn lọc, ưu tiên các dự án có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn và khả năng chuyển giao công nghệ; đồng thời phát triển công nghiệp hỗ trợ, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Thứ năm, nâng cao hiệu quả điều phối phát triển vùng. Hoàn thiện cơ chế điều phối vùng, đẩy nhanh triển khai các dự án hạ tầng liên vùng, phát triển các hành lang kinh tế và chuỗi giá trị quy mô vùng; tăng cường phối hợp trong quy hoạch, phân bổ nguồn lực và thu hút đầu tư nhằm phát huy lợi thế bổ trợ giữa các địa phương, nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng nguồn lực của từng vùng.

Ban Kinh tế vĩ mô và Dự báo

Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính

Nguồn: Trung tâm Thông tin kinh tế, tài chính và thống kê

Tài liệu tham khảo

1. Chính phủ (2026), Nghị quyết số 169/NQ-CP ngày  27/6/2026 về mục tiêu tăng trưởng của các địa phương năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030 để thực hiện Kết luận số 18-KL/TW của Trung ương, Nghị quyết số 25/2026/QH16 của Quốc hội và Nghị quyết số 109/NQ-CP của Chính phủ.

2. Chính phủ (2026), Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 8/01/2026 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026.

3. Chính phủ (2026), Nghị quyết số 180/NQ-CP ngày 06/7/2026 về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6 năm 2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương.

4. Chính phủ (2026), Nghị quyết số 169/NQ-CP ngày 27/6/2026 về mục tiêu tăng trưởng của các địa phương năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030 để thực hiện Kết luận số 18-KL/TW của Trung ương, Nghị quyết số 25/2026/QH16 của Quốc hội và Nghị quyết số 109/NQ-CP của Chính phủ.

5. Thống kê các địa phương 6 tháng đầu năm 2026.

6. Quỳnh Nga (2026), Hải Phòng thu ngân sách ước đạt 113.500 tỷ đồng, tăng 12,4% trong 6 tháng đầu năm 2026, truy cập https://thoibaotaichinhvietnam.vn/hai-phong-thu-ngan-sach-uoc-dat-113500-ty-dong-tang-124-trong-6-thang-dau-nam-2026-200211.html (06/7/2026).

7. Lê Hiếu (2026), Huế: Du lịch phục hồi mạnh mẽ, tạo động lực tăng trưởng kinh tế, truy cập https://vov.vn/du-lich/hue-du-lich-phuc-hoi-manh-me-tao-dong-luc-tang-truong-kinh-te-post1314084.vov (10/7/2026).

8. Anh Đào (2026), GRDP Đà Nẵng tăng 9,52% trong 6 tháng đầu năm 2026, truy cập https://nhandan.vn/grdp-da-nang-tang-952-trong-6-thang-dau-nam-2026-post972958.html (02/7/2026).

9. Văn Thắng (2026), Kinh tế Cần Thơ 6 tháng đầu năm: Duy trì đà tăng trưởng, tạo nền tảng cho giai đoạn phát triển mới, truy cập https://www.vietnam.vn/kinh-te-can-tho-6-thang-dau-nam-duy-tri-da-tang-truong-tao-nen-tang-cho-giai-doan-phat-trien-moi (08/7/2026).

10. Tường Vi (2026), Thu hút đầu tư trong nước tại Ðồng Nai tăng đột biến, truy cập https://baodongnai.com.vn/kinh-te/202607/thu-hut-dau-tu-trong-nuoc-tai-ong-nai-tang-dot-bien-0f2012a/ (13/7/2026).