Cao Bằng tạo nhiều chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

26/08/2026 09:03


Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi của tỉnh Cao Bằng ngày càng có nhiều chuyển biến tích cực, nhất là trong giảm nghèo, nâng cao thu nhập, đầu tư phát triển hạ tầng và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Tuy nhiên, với đặc thù là tỉnh miền núi, biên giới nên phát triển kinh tế - xã hội ở các xã, thôn, bản DTTS và miền núi trên địa bản tỉnh vẫn còn không ít khó khăn, thách thức cần tháo gỡ.

Những kết quả đạt được

Cao Bằng là tỉnh miền núi, biên giới có địa hình chia cắt, dân cư phân bố không tập trung và là một trong những địa phương có tỷ lệ đồng bào DTTS cao nhất cả nước, chiếm tới 96,93% dân số. Những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, dân cư vừa tạo nên bản sắc văn hóa đa dạng, vừa đặt ra nhiều thách thức đối với phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh đó, nhờ sự vào cuộc quyết liệt, đồng bộ của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp và sự đồng thuận, tham gia tích cực của người dân, việc phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi đã đạt được nhiều thành tựu, tháo gỡ những khó khăn về hạ tầng, sinh kế và các dịch vụ xã hội cơ bản. Qua đó, diện mạo vùng đồng bào DTTS và miền núi có nhiều chuyển biến tích cực, đời sống người dân từng bước được cải thiện, kết cấu hạ tầng ngày càng hoàn thiện, các điều kiện phát triển kinh tế - xã hội được nâng lên. Có được những chuyển biến tích cực này có sự đóng góp quan trọng từ việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi, giai đoạn 2021 - 2025.

Theo Báo cáo số 2186/BC-UBND ngày 27/6/2026 của Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng, đến giữa năm 2026, công tác chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp thực hiện quyết liệt, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Các nhiệm vụ được phân công cụ thể cho các sở, ngành và 56 xã, phường; tỉnh thường xuyên kiểm tra, đánh giá, nắm bắt tình hình và tháo gỡ khó khăn phát sinh trong quá trình thực hiện. Đồng thời, công tác tuyên truyền được triển khai rộng rãi, người dân được tham gia ý kiến, giám sát các dự án và nội dung liên quan trực tiếp đến cộng đồng, qua đó góp phần tạo sự đồng thuận trong quá trình triển khai, thực hiện.

Nhờ đó, công tác giảm nghèo vùng đồng bào DTTS ở Cao Bằng thời gian qua đã có chuyển biến rất tích cực. Số hộ nghèo đa chiều DTTS giảm nhanh, từ 51.616 hộ năm 2023 xuống còn 41.681 hộ năm 2025, giảm 9.931 hộ. Tương ứng tỷ lệ hộ nghèo đa chiều DTTS giảm từ 41,35% năm 2023 xuống còn 33% năm 2025, tương ứng giảm 8,35 điểm phần trăm. Trong đó, tỷ lệ hộ nghèo DTTS giảm rất nhanh từ 25,61% năm 2023 xuống còn 16,47% năm 2025, tương đương giảm 9,14 điểm phần trăm trong vòng 2 năm. Đến 30/6/2026, tỷ lệ giảm nghèo trong đồng bào DTTS bình quân giai đoạn đạt 4%/năm, đạt kế hoạch của tỉnh đề ra.

Hình 1. Hộ nghèo, hộ nghèo đa chiều DTTS tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2023 - 2025

Bai DT26.4.1

Nguồn: tác giả tổng hợp từ các báo cáo kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025

Cùng với những chuyển biến về giảm nghèo và đời sống, quy mô kinh tế của Cao Bằng cũng từng bước được cải thiện. GRDP bình quân đầu người tăng liên tục từ 38,71 triệu đồng năm 2022 lên 40,98 triệu đồng năm 2023, và đạt 49,62 triệu đồng năm 2025. Như vậy, sau 3 năm, GRDP bình quân đầu người của tỉnh đã tăng thêm 10,91 triệu đồng, tương đương tăng khoảng 28,2% so với năm 2022. Đây là tín hiệu cho thấy năng lực tạo ra giá trị của nền kinh tế địa phương đang từng bước được nâng lên, tạo thêm dư địa để cải thiện đời sống và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Đáng chú ý, tốc độ tăng GRDP cũng có xu hướng tích cực hơn qua từng năm. Năm 2022, GRDP của tỉnh tăng 4,46%, đến năm 2025 đã đạt 7,22%, cao hơn 2,76 điểm phần trăm so với năm 2022, cho thấy đà phục hồi và tăng trưởng của kinh tế Cao Bằng ngày càng rõ nét. Việc tốc độ tăng trưởng được cải thiện và GRDP bình quân đầu người liên tục tăng cho thấy nền kinh tế đang từng bước tạo thêm động lực phát triển, qua đó tạo nền tảng thuận lợi để tỉnh tiếp tục huy động nguồn lực, phát huy lợi thế và nâng cao chất lượng tăng trưởng trong giai đoạn tới.

Hình 2. Tốc độ tăng GRDP và GRDP bình quân đầu người tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2022 - 2025

Bai DT26.4.2

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Cao Bằng năm 2025

Một trong những hướng đi quan trọng để giảm nghèo bền vững là hỗ trợ người dân phát triển sinh kế. Trong quá trình triển khai Chương trình, Cao Bằng đã chú trọng thực hiện các dự án hỗ trợ phát triển sản xuất cộng đồng và liên kết theo chuỗi giá trị, qua đó tạo điều kiện để người dân mở rộng sản xuất, nâng cao thu nhập. Lũy kế đến cuối năm 2025, tỉnh đã triển khai 891 dự án hỗ trợ sản xuất cộng đồng và 88 dự án liên kết theo chuỗi giá trị, thu hút hơn 46.530 hộ dân tham gia.

Thực tiễn cho thấy, hỗ trợ sinh kế đang từng bước chuyển từ hỗ trợ trực tiếp sang tạo điều kiện để người dân tham gia sản xuất hàng hóa, hình thành vùng nguyên liệu và liên kết tiêu thụ. Đây là hướng đi có ý nghĩa đối với một địa phương mà phần lớn người dân vùng cao vẫn dựa vào nông nghiệp, lâm nghiệp và các ngành nghề quy mô hộ gia đình. Khi được kết nối với hợp tác xã, doanh nghiệp và thị trường, các nguồn lực hỗ trợ có thể tạo hiệu ứng lớn hơn, giúp người dân nâng cao năng suất, giá trị sản phẩm và thu nhập.

Bên cạnh sinh kế, hạ tầng tiếp tục là một trong những lĩnh vực được ưu tiên. Đến 30/6/2026, 93,8% số xã có đường ô tô đến trung tâm được rải nhựa hoặc bê tông; 70% thôn có đường ô tô đến trung tâm được cứng hóa. Hạ tầng thiết yếu khác cũng có những kết quả đáng ghi nhận. Đến giữa năm 2026, 100% trạm y tế được xây dựng kiên cố, tỷ lệ đồng bào DTTS được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 94%, tỷ lệ hộ sử dụng điện lưới quốc gia và các nguồn điện phù hợp đạt 93%. Tuy nhiên, so với mục tiêu lần lượt là 95% đối với nước sinh hoạt và 99% đối với điện, các chỉ tiêu này vẫn còn khoảng cách cần tiếp tục thu hẹp.

Cùng với giao thông, điện và nước, hệ thống thiết chế văn hóa tiếp tục được củng cố. Đến 30/6/2026, 97% thôn có nhà sinh hoạt cộng đồng, vượt mục tiêu tối thiểu 80%. Tỷ lệ thôn có đội văn hóa, văn nghệ hoặc câu lạc bộ truyền thống hoạt động thường xuyên, có chất lượng cũng được đánh giá đạt yêu cầu. Đây không chỉ là điều kiện để tổ chức các hoạt động cộng đồng mà còn góp phần duy trì bản sắc văn hóa của các dân tộc, tạo nền tảng để phát triển du lịch cộng đồng và các sản phẩm văn hóa đặc trưng.

Trong lĩnh vực giáo dục, những kết quả đạt được đến giữa năm 2026 tiếp tục cho thấy khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ em vùng DTTS được cải thiện. Tỷ lệ trẻ 5 tuổi đến trường đạt 99,8%, tỷ lệ học sinh tiểu học trong độ tuổi đến trường đạt 99,6%, tỷ lệ học sinh THCS đạt 95,1%, tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên đọc thông, viết thạo tiếng phổ thông đạt 90,2%, các chỉ tiêu này đều đạt mục tiêu theo kế hoạch.

Lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khỏe người dân tiếp tục được cải thiện. Đến 30/6/2026, tỷ lệ phụ nữ mang thai được khám định kỳ ít nhất 4 lần trong thai kỳ đạt 82,9%, tỷ lệ phụ nữ sinh con tại cơ sở y tế hoặc có sự hỗ trợ của nhân viên y tế đạt 87,5%. Tỷ lệ đồng bào DTTS tham gia bảo hiểm y tế đạt 98% (mặc dù chưa đạt mục tiêu 100% nhưng đã tiệm cận kế hoạch). 

Một điểm đáng chú ý khác là đào tạo nghề đã có chuyển biến. Đến 30/6/2026, tỷ lệ lao động trong độ tuổi được đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu, điều kiện của đồng bào DTTS và đặc thù vùng miền núi đạt 50,9%, vượt ngưỡng mục tiêu trên 50%. Kết quả này tạo cơ sở để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động, nâng cao năng suất và mở rộng cơ hội việc làm ngoài nông nghiệp cho người dân vùng cao.

Cùng với các lĩnh vực dân sinh, Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) tiếp tục được tỉnh Cao Bằng xác định là một hướng quan trọng để phát triển kinh tế nông thôn. Tính đến tháng 6/2026, toàn tỉnh có 188 sản phẩm OCOP, gồm 10 sản phẩm 4 sao và 178 sản phẩm 3 sao, thuộc các nhóm thực phẩm, đồ uống, thủ công mỹ nghệ và dịch vụ du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, điểm du lịch. Các sản phẩm do 123 chủ thể thực hiện, trong đó có 24 hợp tác xã, 10 tổ hợp tác, 6 doanh nghiệp và 83 hộ sản xuất kinh doanh. Tỉnh đang tiếp tục phát triển tổ chức sản xuất, xây dựng vùng nguyên liệu ổn định cho sản phẩm OCOP trong năm 2026.

Việc phát triển OCOP cũng ngày càng gắn với bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa. Các sản phẩm đặc trưng của địa phương được giới thiệu trong các lễ hội truyền thống, qua đó kết hợp quảng bá sản phẩm với quảng bá văn hóa, cảnh quan và con người Cao Bằng. Đây là hướng đi phù hợp với lợi thế của một tỉnh có hệ thống di sản văn hóa phong phú, đồng thời mở ra khả năng kết nối giữa sản xuất nông nghiệp, sản phẩm địa phương và du lịch cộng đồng.

Những hạn chế, thách thức và nguyên nhân

Mặc dù nhiều chỉ tiêu đã đạt yêu cầu, kết quả đến 30/6/2026 cho thấy Cao Bằng vẫn còn không ít chỉ tiêu chưa đạt mục tiêu. Trong nhóm hạ tầng, tỷ lệ xã có đường ô tô đến trung tâm được rải nhựa hoặc bê tông mới đạt 93,8%, tỷ lệ hộ sử dụng điện đạt 93%, tỷ lệ đồng bào DTTS sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 94%; tỷ lệ đồng bào được xem truyền hình đạt 95% và nghe phát thanh đạt 98%. Những khoảng cách này phản ánh điều kiện địa hình và dân cư phân tán vẫn là trở ngại lớn đối với việc hoàn thiện hạ tầng ở vùng cao.

Trong lĩnh vực giáo dục, tỷ lệ học sinh THPT đến trường mới đạt 57,3%; trong y tế, tỷ lệ đồng bào DTTS tham gia bảo hiểm y tế đạt 98%, chưa đạt mục tiêu 100%. Những chỉ tiêu này cho thấy việc bảo đảm khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản vẫn cần được tiếp tục quan tâm, nhất là tại các địa bàn đặc biệt khó khăn.

Đáng lưu ý hơn là nhóm chỉ tiêu liên quan trực tiếp đến điều kiện sống và sinh kế của các hộ còn khó khăn. Đến 30/6/2026, việc giải quyết đất ở chưa đạt mục tiêu; hỗ trợ đất sản xuất, hỗ trợ chuyển đổi nghề, hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán, xây dựng công trình nước sinh hoạt tập trung và sắp xếp, ổn định dân cư đều còn thấp so với yêu cầu. Trong khi đó, hỗ trợ nhà ở đạt 856 hộ, đạt mục tiêu được giao.

Một nguyên nhân quan trọng là Cao Bằng có địa hình phức tạp, nhiều khu vực núi cao, địa bàn rộng, dân cư phân tán, khiến chi phí đầu tư hạ tầng và cung cấp dịch vụ công cao. Thiên tai cũng tiếp tục gây sức ép lớn. Chỉ trong những tháng đầu năm 2026, mưa lớn, dông lốc, sét, mưa đá đã làm 2.230 nhà bị tốc mái, hơn 1.446 ha diện tích sản xuất nông nghiệp bị thiệt hại hoặc ảnh hưởng, 21 điểm trường và nhiều công trình công cộng bị hư hỏng. Các đợt mưa lớn trong tháng 5 tiếp tục gây ngập lụt, ảnh hưởng sản xuất và đời sống, với tổng thiệt hại ước tính khoảng 80 tỷ đồng tại thời điểm báo cáo.

Bên cạnh nguyên nhân khách quan, tiến độ thực hiện Chương trình còn chịu tác động từ những khó khăn trong quản lý và giải ngân nguồn lực. Đối với nguồn vốn ngân sách Trung ương năm 2025 được kéo dài sang năm 2026, đến 31/5/2026 mới giải ngân được 96,959 tỷ đồng trên tổng số 491,871 tỷ đồng, tương đương 19,7% kế hoạch; trong đó vốn đầu tư đạt 43,1%, còn vốn sự nghiệp mới đạt 11,2%.

Báo cáo cũng chỉ ra những nguyên nhân như nguồn vốn chuyển nguồn lớn, một số nguồn vốn nhỏ lẻ, dàn trải; việc rà soát, điều chỉnh nguồn vốn ở một số chủ đầu tư chưa sát thực tế; tâm lý e ngại trách nhiệm, chờ hướng dẫn cấp trên; cùng với những khó khăn trong quá trình chuyển tiếp khi sắp xếp tổ chức bộ máy và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Năng lực chuyên môn của một bộ phận cán bộ cấp xã, nhất là về tài chính, đầu tư và quản lý dự án, cũng còn hạn chế.

Như vậy, vấn đề đặt ra với Cao Bằng trong thời gian tới không chỉ là tiếp tục huy động thêm nguồn lực mà quan trọng hơn là phải nâng cao hiệu quả phân bổ, tổ chức thực hiện và giám sát nguồn lực. Đây là điều kiện quyết định để các chính sách hỗ trợ thực sự chuyển thành năng lực sản xuất, thu nhập và chất lượng sống cao hơn cho người dân.

Tập trung nguồn lực tạo chuyển biến trong giai đoạn 2026 - 2030

Bước sang giai đoạn phát triển mới (2026 - 2030), Cao Bằng đặt mục tiêu tiếp tục nâng cao thu nhập và giảm nghèo bền vững vùng đồng bào DTTS. Theo mục tiêu tỉnh xây dựng, GRDP bình quân của người dự kiến tăng từ 49,62 triệu đồng/người/năm lên 112 triệu đồng/người/năm vào năm 2030; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều vùng đồng bào DTTS và miền núi giảm xuống dưới 10%. Đồng thời, tỉnh phấn đấu 100% số xã và 100% số thôn vùng DTTS và miền núi thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn.

Để hiện thực hóa những mục tiêu trên, Cao Bằng có thể tham khảo một số khuyến nghị sau nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn, phát huy hiệu quả nguồn lực và tạo thêm động lực cho phát triển vùng đồng bào DTTS và miền núi trong giai đoạn 2026 - 2030.

Trước hết, cần tiếp tục đổi mới phương thức tổ chức thực hiện Chương trình, nâng cao trách nhiệm của chính quyền cơ sở và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm tra, giám sát. Việc tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 02/2026/NQ-HĐND ngày 13/5/2026 về phân cấp cho HĐND cấp xã quyết định phân bổ, điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn, hằng năm thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 là một bước quan trọng, tạo điều kiện để cơ sở chủ động hơn trong tổ chức thực hiện.

Thứ hai, cần ưu tiên nguồn lực cho các công trình hạ tầng thiết yếu, nhất là điện, nước, giao thông và hạ tầng số. Trong đó, nhu cầu đầu tư 455 công trình nước sinh hoạt với khoảng 731,931 tỷ đồng và 282 công trình điện với khoảng 572,512 tỷ đồng cho thấy đây phải là những lĩnh vực được ưu tiên trong phân bổ nguồn lực giai đoạn tới. Cùng với đầu tư mới, cần chú trọng duy tu, bảo dưỡng và nâng cao hiệu quả khai thác công trình sau đầu tư, tránh tình trạng công trình hoàn thành nhưng xuống cấp hoặc hoạt động không hiệu quả.

Thứ ba, tiếp tục chuyển mạnh từ hỗ trợ đơn lẻ sang phát triển sinh kế theo chuỗi giá trị. Các mô hình sản xuất cần được lựa chọn dựa trên lợi thế từng địa bàn, nhu cầu thị trường và khả năng tham gia của người dân. Các sản phẩm như dược liệu, hạt dẻ, bò Mông, miến dong và những sản phẩm nông nghiệp đặc hữu cần được tổ chức lại theo hướng có vùng nguyên liệu ổn định, ứng dụng khoa học - kỹ thuật, nâng cao chế biến và xây dựng thương hiệu. Chương trình OCOP cần tiếp tục chuyển từ mở rộng số lượng sang nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và khả năng tiêu thụ.

Thứ tư, tập trung giải quyết các vấn đề dân sinh còn tồn tại, đặc biệt là đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt và bố trí dân cư. Đây là nhóm chỉ tiêu còn nhiều hạn chế đến giữa năm 2026, do đó cần rà soát từng nhóm hộ, từng địa bàn để có phương án phù hợp: hỗ trợ đất ở đối với hộ đủ điều kiện, hỗ trợ chuyển đổi nghề đối với hộ không còn quỹ đất sản xuất; đồng thời bố trí, sắp xếp dân cư ở những khu vực có nguy cơ cao về lũ quét, sạt lở.

Thứ năm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Việc tỷ lệ học sinh THPT đến trường mới đạt 57,3% cho thấy cần có giải pháp mạnh hơn để duy trì học sinh sau THCS, nhất là ở vùng sâu, vùng xa. Đồng thời, đào tạo nghề phải gắn chặt với nhu cầu thị trường, các ngành dịch vụ, du lịch, chế biến nông sản và những lĩnh vực có khả năng tạo việc làm, nâng cao thu nhập ngay tại địa phương. Mục tiêu đến năm 2030 là nâng tỷ lệ lao động được đào tạo nghề, từng bước chuyển dịch lao động từ sản xuất nhỏ lẻ sang các hoạt động có năng suất và giá trị gia tăng cao hơn.

Thứ sáu, gắn phát triển kinh tế - xã hội với bảo tồn văn hóa và củng cố quốc phòng, an ninh khu vực biên giới. Với lợi thế về văn hóa các dân tộc, Cao Bằng có thể phát triển mạnh hơn các mô hình du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái gắn với sản phẩm OCOP và các lễ hội truyền thống. Đồng thời, phát triển hạ tầng và sinh kế ở khu vực biên giới không chỉ tạo điều kiện nâng cao đời sống người dân mà còn góp phần củng cố "thế trận lòng dân", giữ vững an ninh, trật tự và chủ quyền biên giới quốc gia.

Với mục tiêu đề ra đến năm 2030, Cao Bằng cần tiếp tục tập trung nguồn lực cho hạ tầng thiết yếu, phát triển sinh kế theo chuỗi giá trị, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và quản lý, huy động hiệu quả nguồn vốn phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi. Nếu giải quyết tốt những điểm nghẽn hiện nay, đồng thời phát huy nội lực của cộng đồng các dân tộc, vùng đồng bào DTTS và miền núi Cao Bằng sẽ có thêm nền tảng để phát triển nhanh hơn, bền vững hơn, từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nơi đây.

ThS. Phạm Anh Tuấn

 

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026), Quyết định công bố kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2025 theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025;

2. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2025), Quyết định công bố kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2024 theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025;

3. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2024), Quyết định công bố kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2023 theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025;

4. Thống kê tỉnh Cao Bằng (2026), Niên giám thống kê tỉnh Cao Bằng năm 2025;

5. UBND tỉnh Cao Bằng (2026), Báo cáo số 2186/BC-UBND ngày 27/6/2026 về tình hình thực hiện Hợp phần 2 Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Cao Bằng;

6. UBND tỉnh Cao Bằng (2026), Báo cáo kết quả thực hiện công tác dân tộc 6 tháng đầu năm 2026;

7. UBND tỉnh Cao Bằng (2025), Báo cáo số 3504/BC-UBND về xây dựng nội dung các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2030;

8. UBND tỉnh Cao Bằng (2025), Báo cáo số 3697/BC-UBND đánh giá kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025.