Cơ hội, thách thức và giải pháp phát triển kinh tế biển xanh ở Việt Nam

07/08/2026 14:43


Phát triển kinh tế biển xanh là xu thế, yêu cầu tất yếu trong phát triển bền vững ở các quốc gia có biển. Đối với nước ta, đây vừa là cơ hội nhưng cũng đan xen không ít thách thức bởi nước ta có nhiều tiềm năng về phát triển kinh tế biển, đồng thời cũng là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu. Do vậy, việc nhận diện cơ hội và thách thức trong phát triển kinh tế biển xanh ở nước ta có ý nghĩa thực tiễn hết sức quan trọng và cấp thiết bởi đây là cơ sở, luận cứ đặc biệt quan trọng giúp cho việc xây dựng giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế biển xanh và bền vững, góp phần hiện thực hóa nhanh mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển và phát triển bền vững mà Nghị quyết số 36-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã đề ra. 

1. Mở đầu 

Việt Nam là quốc gia biển và có tiềm năng, lợi thế lớn trong phát triển kinh tế biển, kinh tế biển sâu với hơn 3.260 km bờ biển, vùng biển rộng khoảng 1 triệu km², cùng hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ. Đây là nguồn tài nguyên chiến lược không chỉ về kinh tế mà còn về quốc phòng, an ninh và phát triển bền vững. Tuy nhiên, bên cạnh những tiềm năng, lợi thế phát triển này, phát triển kinh tế biển của nước ta cũng đang đứng trước những khó khăn, thách thức không nhỏ. Đó là nước ta đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường biển ngày càng nghiêm trọng, chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, đe dọa đến sự đa dạng của hệ sinh thái biển, suy giảm nguồn lợi hải sản, qua đó ảnh hưởng đến sinh kế của hàng triệu ngư dân và những lao động gắn biển.

Chính vì vậy, phát triển kinh tế biển xanh trở thành động lực tăng trưởng ngày càng quan trọng và là yêu cầu hết sức cấp thiết đối với nước ta. Bởi để phát triển kinh tế biển xanh nhanh và bền vững thì phải chuyển mạnh từ tư duy khai thác biển đơn ngành sang quản trị biển tổng hợp, hiện đại, dựa vào khoa học công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phải coi là nhiệm vụ liên ngành, liên vùng, liên địa phương. 

Trong những năm trở lại đây, thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, kinh tế biển và vùng bờ biển nước ta đã và đang có những thay đổi vượt bậc và đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Tất cả các ngành kinh tế biển đều có những bước tăng trưởng, đóng góp ngày càng lớn vào bức tranh phát triển kinh tế - xã hội chung của cả nước. Đạt được những thành tựu nêu trên là do: (i) Nhận thức về tầm quan trọng của biển và hải đảo, khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và phát triển bền vững kinh tế biển ngày càng được nâng cao trong các cấp lãnh đạo và nhân dân; (ii) Nước ta đã có cơ quan quản lý nhà nước tổng hợp về biển và hải đảo, có nhiều lực lượng tham gia quản lý biển. Đội ngũ cán bộ quản lý biển từ Trung ương đến địa phương có năng lực quản lý tổng hợp biển và hải đảo ngày càng được nâng cao; có khả năng triển khai một cách hiệu quả công tác quản lý tổng hợp về biển và hải đảo, hỗ trợ phát triển kinh tế biển xanh; (iii) Phương thức quản lý tổng hợp biển và hải đảo được thể chế hóa bằng luật và các văn bản dưới luật, mặc dù vẫn còn những hạn chế nhất định nhưng đang được triển khai thực hiện một cách đồng bộ trên toàn bộ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển. Cơ chế quản lý tài nguyên và môi trường, quản lý kinh tế ngày càng minh bạch, tạo điều kiện cho doanh nghiệp và người dân tham gia vào quá trình quản lý và phát triển kinh tế biển; (iv) Việt Nam là thành viên của nhiều chương trình, tổ chức quốc tế về quản lý tài nguyên, môi trường và phát triển kinh tế biển và được hỗ trợ phát triển kinh tế biển xanh. 

Hiện nay, nước ta có 21 tỉnh, thành phố ven biển với khoảng 4 triệu lao động trong ngành thủy sản và khoảng 20 triệu người dân ven biển hoặc trên đảo có sinh kế trực tiếp hoặc gián tiếp phụ thuộc vào nguồn lợi của biển đem lại.

2. Cơ hội và thách thức trong phát triển kinh tế biển xanh 

Cơ hội 

Tiềm năng kinh tế biển của nước ta là rất lớn, nổi bật trên nhiều lĩnh vực, như: tài nguyên, vận tải, khai thác và chế biến hải sản, du lịch và các khu kinh tế ven biển. Bởi vậy, phát triển kinh tế biển bền vững ở nước ta đã được xác định là một trong những ưu tiên quan trọng trong nhiều chiến lược và chính sách phát triển quốc gia. Tiêu biểu như Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 139/2024/QH15 của Quốc hội về Quy hoạch không gian biển quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Bên cạnh những cơ hội phát triển kinh tế biển xanh được tạo ra từ các chủ trương, cơ chế, chính sách nêu trên. Phát triển kinh tế biển xanh ở nước ta còn đứng trước nhiều cơ hội khác, cụ thể là: 

Thứ nhất, nước ta có điều kiện tự nhiên thuận lợi, có tiềm năng và lợi thế cho phát triển kinh tế biển hướng tới tăng trưởng xanh và phát triển bền vững kinh tế biển. Đặc biệt là vị thế của vùng ven biển, các đảo và quần đảo cho phép xây dựng thành những khu kinh tế ven biển và kinh tế đảo đặc thù gắn với bảo tồn thiên nhiên. 

Thứ hai, cơ hội cấu trúc lại các ngành công nghiệp hàng hải và đánh bắt nuôi trồng thủy hải sản theo hướng xanh hóa. Việt Nam có đường bờ biển với nhiều khúc khuỷu, nhiều eo, vũng, vịnh kín có độ sâu lớn, không gian rộng lớn ở ven biển và trên bờ biển rất thuận lợi làm cảng biển và phát triển các khu kinh tế ven biển và hơn 114 cửa sông lớn nhỏ đổ ra biển thuận lợi cho kết nối đường thủy nội địa. Đồng thời, vùng biển của Việt Nam tiệm cận với các tuyến đường hàng hải quốc tế và khu vực với trung bình gần 300 lượt tàu biển vận chuyển qua Biển Đông mỗi ngày, trong đó có hơn 50% tàu có trọng tải trên 5.000 DWT, khoảng 15 - 20% tàu có trọng tải từ 30.000 DWT trở lên, chiếm 1/4 lượng tàu hoạt động trên các vùng biển trên toàn cầu. Bên cạnh thuận lợi cho phát triển cảng hàng hóa, nhiều vị trí ven bờ biển nước ta phù hợp để xây dựng các nhà máy đóng tàu và sửa chữa tàu biển, là điểm thuận lợi cho công nghiệp đóng và sửa chữa tàu biển phát triển.

Thứ ba, tiềm năng phát triển du lịch theo hướng kinh tế xanh. Các vùng ven biển của Việt Nam với đường bờ biển dài và hàng nghìn hòn đảo ven bờ mang tiềm năng lớn cho phát triển du lịch biển xanh. Việt Nam có nhiều bãi biển đẹp, trong đó có một số bãi biển và vịnh được đánh giá đẹp hàng đầu thế giới, như: bãi biển Mỹ Khê (Đà Nẵng), Phú Quốc (An Giang), Eo Gió (Gia Lai), vịnh Nha Trang, vịnh Lăng Cô, vịnh Hạ Long…; nhiều khu vực ven biển có rừng ngập mặn (rừng ngập mặn Cà Mau, rừng ngập mặn Cần Giờ…) cùng nhiều làng nghề, lễ hội độc đáo thu hút khách du lịch trong và ngoài nước. Những tiềm năng trên đã mở ra cơ hội để phát triển du lịch, xây dựng và truyền bá văn hóa Việt Nam. 

Thứ tư, tiềm năng phát triển năng lượng tái tạo. Trong những năm qua để phát triển nguồn năng lượng xanh dần thay thế nguồn năng lượng truyền thống là dầu, khí và than, góp phần giảm thiểu phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, Việt Nam đã nghiên cứu và triển khai đồng thời các nguồn năng lượng gió, mặt trời trên đất liền và ven biển. Theo Cục Biển và Hải đảo Việt Nam, vùng ven biển nước ta, đặc biệt vùng ven bờ đồng bằng sông Cửu Long có diện tích rộng khoảng 112.000 km2, khu vực có độ sâu từ 30 - 60m có diện tích rộng khoảng 142.000 km2 có tiềm năng phát triển điện gió biển rất tốt. Còn theo Ngân hàng Thế giới, Việt Nam có tiềm năng 475.000 MW điện gió ngoài khơi ở vùng biển có độ sâu nhỏ hơn 200m. Đây là một trong những lợi thế tự nhiên lớn nhất khu vực châu Á để phát triển năng lượng sạch. 

Đối với năng lượng sóng, các kết quả tính toán hiện nay đều cho thấy tiềm năng năng lượng sóng vùng ven bờ biển nước ta tương đối lớn, phụ thuộc trực tiếp vào hai mùa gió Đông Bắc và gió Tây Nam. Ở các vùng thoáng, có đà sóng lớn theo hướng đông bắc, tây nam và nam đều nhận được dòng năng lượng sóng khá lớn. 

Thách thức 

Bên cạnh những cơ hội phát triển nêu trên, phát triển kinh tế biển xanh ở nước ta cũng phải đối mặt với những thách thức chủ yếu sau: 

(1) Một trong những khó khăn lớn nhất là cách tiếp cận phát triển kinh tế biển theo hướng xanh hóa phải khởi đầu từ tư duy, nhận thức thống nhất cho đến hành động cụ thể. Việc thực hiện chuyển sang và thúc đẩy phát triển kinh tế biển xanh đòi hỏi sự hy sinh những lợi ích kinh tế trước mắt, đây được coi là nút thắt, thách thức rất lớn. Bởi xây dựng và phát triển nền kinh tế biển xanh là vấn đề mới nên nhận thức của các cấp, các ngành, các địa phương ven biển và người dân còn chưa thực sự đầy đủ, thậm chí còn rất khác biệt. 

(2) Vấn đề tài chính. Là nước đang phát triển với GDP bình quân đầu người còn thấp, nước ta phải đối mặt với những hạn chế về năng lực tài chính, cả trong khu vực công và tư nhân. Quá trình chuyển đổi sang các ngành công nghiệp xanh đòi hỏi sự đầu tư lớn, đây cũng là thách thức đối với các doanh nghiệp và yêu cầu phát triển cơ sở hạ tầng cho vùng ven biển. 

(3) Biến đổi khí hậu nói chung, đặc biệt là mực nước biển dâng nói riêng đang trở thành vấn đề cấp bách toàn cầu, cùng với đó là hệ sinh thái tự nhiên đang chịu áp lực ngày càng tăng do phát triển kinh tế và tình hình khai thác quá mức, sử dụng tài nguyên biển và hải đảo chưa hiệu quả, thiếu bền vững dẫn đến tình trạng cạn kiệt nguồn lợi hải sản ở vùng ven bờ. Các hệ sinh thái ven biển (rừng ngập mặn, vùng triều, rạn san hô…) có xu hướng suy giảm nghiêm trọng do tác động của hoạt động kinh tế, xây dựng. 

(4) Nguồn lao động hạn chế. Số lượng và chất lượng nguồn lao động trong các ngành kinh tế biển Việt Nam vừa thiếu vừa yếu, như: ngành hàng hải, du lịch, dịch vụ cảng, ngư nghiệp… Trong đó, lao động trong các lĩnh vực như thủy sản, du lịch và công nghiệp biển còn hạn chế và hầu hết là lao động phổ thông, đồng thời, lực lượng lao động trẻ có xu hướng chuyển sang làm việc trong các khu công nghiệp, các thành phố lớn và không còn hứng thú với các công việc ngư nghiệp. 

(5) Tình trạng ô nhiễm môi trường biển trên diện rộng do hoạt động kinh tế và sinh hoạt phát sinh thải ra ngày càng phức tạp. Ước tính khoảng 70 - 80% lượng rác thải trên biển có nguồn gốc từ nội địa khi các nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp, khu dân cư xả nước thải, chất thải rắn không qua xử lý ra các con sông ở vùng đồng bằng ven biển hoặc xả thẳng ra biển; trong khi đó, các hoạt động du lịch có ảnh hưởng tới 20 - 30% đến môi trường sinh thái, cảnh quan tự nhiên của biển. Bên cạnh đó, ô nhiễm do tai nạn tàu theo dòng hải lưu di chuyển về bờ biển Việt Nam và hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí cũng đang gây ô nhiễm hệ sinh thái biển, tác động trực tiếp đến sinh kế của người dân sinh sống ven biển. 

3. Giải pháp phát triển kinh tế biển xanh 

Để góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế biển xanh ở nước ta. Có thể tham khảo một số giải pháp chủ yếu sau đây: 

Một là, hoàn thiện hệ thống pháp luật và mô hình quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. 

Để bảo đảm phát triển kinh tế biển nhanh và bền vững, phù hợp với tiềm năng phát triển kinh tế biển của Việt Nam cần áp dụng phương thức quản lý mới, phương thức quản lý tổng hợp biển và hải đảo theo cách tiếp cận hệ sinh thái hướng tới phát triển một nền kinh tế biển xanh hài hòa lợi ích kinh tế từ các hoạt động kinh tế ngành, khai thác, sử dụng một cách hợp lý, tiết kiệm tài nguyên, bảo tồn, bảo vệ tài nguyên, môi trường, các hệ sinh thái và đa dạng sinh học biển. Để đạt được mục tiêu này, có thể xem xét: (i) Hoàn thiện thể chế và cơ chế chính sách về tài nguyên, môi trường biển, vùng biển và hải đảo phù hợp với hệ thống pháp luật của Việt Nam và quốc tế về phát triển kinh tế biển xanh bền vững; (ii) Đẩy mạnh và triển khai có hiệu quả quy hoạch không gian biển, trong đó, phân tích kỹ các chức năng của từng vùng biển và hải đảo để bảo đảm khai thác hiệu quả, có lợi nhất một số chức năng quan trọng trong giới hạn không làm ảnh hưởng tới các chức năng khác và dẫn đến cạn kiệt tài nguyên, suy thoái, ô nhiễm môi trường, phá hủy các hệ sinh thái biển; (iii) Nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện các mô hình quản lý tổng hợp biển và hải đảo, đặc biệt là quản lý tổng hợp vùng bờ. Trong các mô hình này, phải bảo đảm sự điều phối, phối hợp chặt chẽ của tất cả các cấp theo ngành dọc, các cơ quan chức năng cùng cấp và sự tham gia tích cực, chủ động của người dân để bảo đảm các quy định pháp luật về quản lý tài nguyên môi trường biển và vùng bờ biển được thực hiện hiệu quả; (iv) Thực hiện đúng các quy định về “quản lý thích ứng”, trong đó bảo đảm các chính sách, mô hình quản lý luôn được đánh giá, điều chỉnh sau mỗi chu trình quản lý để bảo đảm sát thực và hiệu quả. 

Hai là, xây dựng và đưa vào áp dụng sâu rộng các mô hình cộng đồng tham gia bảo tồn, khai thác và sử dụng bền vững các hệ sinh thái biển.

Thực tế cho thấy, khi có sự tham gia quản lý của cộng đồng sẽ bảo đảm khai thác, sử dụng bền vững, hiệu quả tài nguyên và môi trường biển. Mô hình cộng đồng tham gia bảo tồn, khai thác và sử dụng bền vững các hệ sinh thái biển đã được áp dụng thành công ở một số địa phương, ví dụ như rừng dừa nước ven sông Hoài ở Hội An, khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm… Các mô hình này cần được nghiên cứu, hoàn thiện để nhân rộng. Đặc biệt, cần xây dựng cơ chế để người dân được tạo điều kiện tham gia và trực tiếp hưởng lợi từ quá trình quản lý. 

Nước ta đã rất thành công trong việc áp dụng mô hình cộng đồng trong xóa đói, giảm nghèo thông qua việc giám sát cộng đồng đối với nguồn vốn vay xóa đói, giảm nghèo từ Ngân hàng Chính sách xã hội. Mô hình xóa đói, giảm nghèo dựa vào cộng đồng của nước ta có thể được tham khảo, nghiên cứu, áp dụng để xây dựng mô hình cộng đồng tham gia bảo tồn, khai thác và sử dụng bền vững các hệ sinh thái biển. 

Ba là, bảo vệ đa dạng sinh học, nguồn lợi cá biển bằng nghề cá bền vững. 

Các nghiên cứu đều cho thấy, đánh bắt quá mức bằng các hình thức hủy diệt là nguyên nhân chính gây suy giảm nguồn lợi cá biển Việt Nam. Do vậy, nước ta cần tiếp tục hoàn thiện và triển khai thực hiện một cách hiệu quả các chính sách, quy định pháp luật về phát triển nghề cá bền vững, chống đánh bắt hủy diệt, đánh bắt trái phép. Cần triển khai thực hiện việc cấm biển tại các khu vực phù hợp theo thời gian và xây dựng kế hoạch chuyển đổi, bảo đảm sinh kế cho ngư dân. 

TS. Nguyễn Văn Thuật, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính

 Nguồn: Trung tâm Thông tin kinh tế, tài chính và thống kê 

 

Tài liệu tham khảo 

1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2018), Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. 

2. Quốc hội (2024), Nghị quyết số 139/2024/QH15 ngày 28/6/2024 của Quốc hội về Quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

3. Thủ tướng Chính phủ (2021), Quyết định số 1658/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050. 

4. Nguyễn Chu Hồi (2020), sách Kinh tế biển xanh: Các vấn đề và cách tiếp cận cho Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật. 

5. Đào Dũng (2025), Phát triển kinh tế biển xanh cho Việt Nam - Lời khuyên từ chuyên gia, Báo Tin tức và Dân tộc - TTXVN. 

6. TS. Nguyễn Đình Đáp, TS. Đoàn Thị Thu Hương (2022), Xây dựng các kịch bản kinh tế biển xanh để phát triển kinh tế đại dương bền vững, Tạp chí Ngân hàng.