Phục hồi và tăng tốc: Những mục tiêu định hướng lớn của Việt Nam cho giai đoạn 2026 - 2030

11/02/2026 11:25


Việt Nam đang đứng trước cơ hội, vận hội mới cho quá trình tăng tốc và phát triển, nhiều mục tiêu lớn về kinh tế - xã hội đã được đặt ra cho giai đoạn 2026 - 2030, trong bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều yếu tố thuận lợi và thách thức đan xen. Theo đó, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, định hướng chính sách, giải pháp tổng thể và cụ thể cho những lĩnh vực then chốt như khoa học công nghệ, phát triển kinh tế nhà nước, phát triển kinh tế tư nhân, hội nhập quốc tế… Bài viết tập trung làm rõ xu hướng tăng tốc của Việt Nam nhìn từ các góc độ như động lực cho tăng trưởng, các nguyên nhân đạt được tăng trưởng cao trong hai năm trở lại đây; đồng thời, phân tích những chủ trương, mục tiêu lớn trong thời gian tới. Từ đó đưa ra những đề xuất phù hợp, đặc biệt là đổi mới tư duy tăng trưởng để Việt Nam có thể đạt được mục tiêu trung và dài hạn.

1. Bức tranh tăng trưởng và phục hồi của Việt Nam 

Câu hỏi đặt ra là trong thời gian vừa qua, Việt Nam đã phục hồi như thế nào, kể từ khi dịch Covid-19 xảy ra, cũng là thời điểm Việt Nam bắt đầu một chiến lược mới giai đoạn 2021 - 2030 về phát triển kinh tế - xã hội. So với thế giới, Việt Nam phục hồi tốt, không tăng trưởng âm mà đạt được mốc tăng trưởng cao rất nhanh, tốc độ phục hồi nhanh hơn, cao hơn các nước khác.

Tốc độ tăng trưởng trung bình của thế giới năm 2022 - 2024 đạt khoảng 3,05%. Nhóm nước thu nhập trung bình thấp có tốc độ tăng trưởng cao hơn. Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ phục hồi cao nhất.

Hình 1. Tốc độ phục hồi kinh tế tại một số nước và Việt Nam

adsad

Nguồn: Số liệu của Ngân hàng Thế giới

Năm 2024 gần như phục hồi hoàn toàn và trở lại với tốc độ tăng trưởng trên 7% như trước dịch Covid-19. Năm 2025, đạt 8,02% sát với mục tiêu đặt ra “từ 8% trở lên” trong Nghị quyết số 192/2025/NQ-QH. Một số các yếu tố giải thích cho tốc độ phục hồi nhanh của Việt Nam, bao gồm: 

(i) Quyết tâm chính trị của Chính phủ trong việc tạo ra tiền đề cho phục hồi và tăng trưởng nhanh. Có thể coi đây là yếu tố quan trọng nhất, đã gửi tín hiệu, sự lan tỏa cho cộng đồng doanh nghiệp, người dân về quyết tâm đạt mục tiêu tăng trưởng cao của Việt Nam. 

(ii) Nông nghiệp vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng tốt như các năm trước ở khoảng 3,5 - 3,7%. Đó là tốc độ tăng trưởng tương đối ấn tượng và việc duy trì được tốc độ tăng trưởng này là một điểm tựa, bệ đỡ cho phục hồi tiêu dùng, phát triển công nghiệp và dịch vụ ít nhất là trong giai đoạn Covid-19 cũng như sau này.

(iii) Sự phục hồi rất nhanh về công nghiệp và dịch vụ, đặc biệt là khu vực dịch vụ, có tốc độ tăng khoảng 7,3 - 8%, có những quý là 9,5% như quý III/2025. Tương tự như vậy, công nghiệp cũng đóng góp tương đối lớn do thuận lợi về thị trường xuất khẩu. Giai đoạn dịch Covid-19, có rất nhiều nước bị ảnh hưởng khá tiêu cực về mặt thương mại quốc tế, nhưng Việt Nam là một trong số ít quốc gia tận dụng được ảnh hưởng tích cực khi các lỗ hổng thị trường, các điểm tắc nghẽn về nguồn cung trên thế giới xảy ra. Trong từng nhóm ngành nhỏ của công nghiệp và dịch vụ, đã có những nhóm ngành có tốc độ 2 con số trong hai năm gần đây, như dệt may, sản xuất kim loại xây dựng, vận tải.

(iv) Duy trì được môi trường kinh tế vĩ mô ổn định. Đặc biệt là lạm phát đã được duy trì ở mức tương đối hợp lý, khoảng 3,1 - 3,5% cả lạm phát nói chung và lạm phát lõi. Tỷ giá và lãi suất gần đây có dấu hiệu bất ổn lớn, tuy nhiên vẫn trong tầm kiểm soát. 

Ngoài bốn lý do kể trên, nhìn từ góc độ tiêu dùng, trong ngắn hạn, tiêu dùng của khu vực dân cư và chi tiêu của Chính phủ đã giúp phục hồi kinh tế khá tốt. Tiêu dùng dân cư và chi tiêu chính phủ đã phục hồi nhanh từ quý II/2023 cho đến nay, về cơ bản tốc độ tăng tiêu dùng đã tiệm cận với mức trước dịch Covid-19. 

Một điểm đáng chú ý khác là dòng vốn rất lớn từ đầu tư công; không thể phủ nhận vai trò then chốt của đầu tư công trong việc thúc đẩy phục hồi tăng trưởng, đồng thời qua đó khẳng định vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế. Quy mô đầu tư công đã vượt lên ở giai đoạn trước năm 2019. Năm 2023 đạt khoảng 600 nghìn tỷ đồng, đối với kế hoạch vốn đầu tư công năm 2025, tổng số vốn giải ngân đạt 755,14 nghìn tỷ đồng. 

Về vai trò của thương mại và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Có thể thấy những điểm sáng trong thương mại đã đóng góp khá tích cực cho tăng trưởng của kinh tế Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng thương mại, của cả xuất khẩu và nhập khẩu trong thời gian bắt đầu của giai đoạn dịch Covid-19, chỉ có năm 2023 bị chững lại, các năm còn lại duy trì được tốc độ tăng xuất khẩu rất lớn trên 2 con số. 

Hình 2. Thương mại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025

retr

Nguồn: Cục Thống kê, số liệu năm 2025 

Mức tăng trưởng thương mại này là rất ấn tượng nếu so với mức tăng trưởng trung bình của thương mại toàn cầu khoảng 3,6%. Phần thặng dư xuất khẩu hàng hóa - cấu phần được tính trực tiếp vào tăng trưởng GDP - cũng có quy mô khá lớn, các năm trước đây chỉ khoảng 6 tỷ USD, Việt Nam đã có những thời điểm lên tới 28 tỷ USD hoặc là 24 tỷ USD. Con số của 9 tháng đầu năm 2025 là 16,8 tỷ USD và con số cuối năm là 18,64 tỷ USD.

Tương tự như thương mại, đầu tư FDI cũng tạo ra những kỷ lục mới. Có thời điểm đã có khá nhiều quan ngại về dòng vốn vào Việt Nam bởi căng thẳng thuế quan, về thuế tối thiểu toàn cầu, về tái cấu trúc chuỗi cung ứng… Tuy nhiên, thực tế cho thấy, Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn với các nhà đầu tư. Năm 2025, vốn FDI đăng ký đạt 38,42 tỷ USD và vốn thực hiện đạt mức kỷ lục mới là 27,62 tỷ USD (tăng 9% so với năm 2024 và xác lập mức cao nhất trong giai đoạn 2021 - 2025). Hai yếu tố về thương mại và đầu tư này đã giải thích phần lớn cho phục hồi và tăng trưởng của Việt Nam trong thời gian vừa qua.

2. Các thách thức từ trong và ngoài nước

Việt Nam đã và đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn khi bắt đầu cho giai đoạn tăng trưởng và phát triển mới. Nhìn từ bên ngoài, yếu tố đầu tiên là xung đột và bất ổn đang gia tăng. Các cuộc xung đột Nga - Ukraine, Nam Mỹ, khu vực Trung Đông, thậm chí ở khu vực Đông Nam Á, căng thẳng Thái Lan - Campuchia là hệ quả về cạnh tranh nước lớn, với nhiều tiền lệ mới đang và sẽ tạo ra những bất ổn rất lớn.

Năm 2018 (khi căng thẳng thương mại Hoa Kỳ - Trung Quốc xảy ra) và kể từ tháng 4/2025 cho đến nay, xu hướng toàn cầu hóa dựa trên luật lệ và thương mại tự do đã bị đe dọa rất nghiêm trọng, các nước đang phải đối mặt với phi toàn cầu hóa, hoặc chủ nghĩa bảo hộ, chủ nghĩa dân tộc, ảnh hưởng tiêu cực đến dòng chảy thương mại và vốn. Tác động của thuế quan là một phần tất yếu, phần tác động tiêu cực không nhỏ khác là tính không chắc chắn về chính sách thương mại và đầu tư. Điều này tạo ra những tác động tiêu cực cho các quyết định đầu tư, quyết định tái cấu trúc chuỗi hay quyết định thương mại. Với Việt Nam, mặc dù có những tín hiệu tích cực nhưng gần đây, lại chịu ảnh hưởng khá tiêu cực. Trong kịch bản xấu nhất, có thể đến 1,2 điểm phần trăm tăng trưởng GDP đến năm 2030.

Hình 3. Ảnh hưởng của thuế quan Hoa Kỳ đến tăng trưởng

rhbdfb

Nguồn: Dự báo của Muphy, 2025

Một yếu tố quan trọng khác là sự bùng nổ của công nghệ, có cả tác động tích cực và tiêu cực. Tích cực là ở một góc độ nào đó Việt Nam có thể đi tắt đón đầu, đẩy mạnh chuyển đổi số để tạo ra động lực tăng trưởng mới. Tác động tiêu cực là sức ép rất lớn cạnh tranh dài hạn dựa trên năng suất và công nghệ, Việt Nam hoàn toàn có nguy cơ bị bỏ lại do năng lực đổi mới sáng tạo thấp, không tạo được ra công nghệ lõi hoặc công nghệ nguồn. 

Ngoài ra, một loạt các vấn đề về an ninh phi truyền thống như an ninh năng lượng, biến đổi khí hậu, đang rõ ràng hơn, nhanh hơn và tác động xấu hơn ở Việt Nam. Tần suất của các sự kiện tiêu cực của thời tiết như lũ lụt, sạt lở, xâm nhập mặn diễn ra nhanh hơn, nhiều hơn dự kiến sẽ ảnh hưởng khá nhiều đến cấu trúc sản xuất của Việt Nam trong tương lai gần. 

Nhìn từ bên trong, Việt Nam cũng đang phải đối mặt một loạt thách thức lớn. Sự lạc hậu của cấu trúc kinh tế, năng lực cạnh tranh thấp. Đây không phải là nguy cơ ngắn hạn mà là dài hạn dẫn đến sự tụt hậu hoặc không thoát ra khỏi bẫy thu nhập trung bình. Năng suất lao động của Việt Nam (tính bằng USD/lao động, theo sức mua tương đương) đang tương đương với năng suất của Thái Lan ở thời điểm năm 2002 hoặc tương đương với năng suất của Trung Quốc năm 2015. Đặc biệt, không thấy sự tiệm cận hay đuổi kịp về năng suất giữa Việt Nam với các nước có năng suất cao. Tốc độ tăng trưởng năng suất của nền kinh tế đang ở mức 5,8%/năm, điều này cho thấy tăng trưởng cao sẽ phải dựa rất nhiều vào mở rộng vốn, nói cách khác càng muốn tăng trưởng cao càng phải bơm nhiều vốn vào nền kinh tế do năng suất khó có thể thay đổi trong ngắn hạn. Như vậy, tăng trưởng dựa trên đầu tư sẽ khó để đảm bảo đi nhanh, đi dài, đi lâu, chưa kể các rủi ro liên quan như nợ công, lạm phát. 

Già hóa dân số cũng là mối đe dọa, tất nhiên không phải ngay trước năm 2030, dự báo khoảng năm 2036. Già hóa dân số làm thay đổi lợi thế về lao động của Việt Nam, thay đổi cấu trúc tiêu dùng và mô hình kinh tế.

Nền kinh tế cũng đang đối mặt với những điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng, nhân lực. Cho đến nay, đã có nhiều quyết tâm về cải cách thể chế, đã chứng kiến đột phá về hạ tầng, nhưng về lao động còn nhiều vấn đề cần tháo gỡ. Trong mấy năm trước đây, mỗi năm Việt Nam chỉ cải thiện được khoảng gần 1 điểm phần trăm và hiện khoảng 29,2% đối với tỷ lệ lao động có kỹ năng. Đầu tư hạ tầng cũng đang đặt ra một số vấn đề. Trong các năm sau dịch Covid-19, Chính phủ đang tập trung khá nhiều vào xử lý các “điểm nghẽn” về cơ chế giải ngân, đề xuất các công trình lớn cho tăng trưởng dài hạn. Tuy nhiên, một danh mục đầu tư tối ưu cho tăng trưởng nhìn từ góc độ loại hình dự án phù hợp, lộ trình, cơ chế huy động và nợ phát sinh chưa được bàn thảo một cách đầy đủ. 

Bên cạnh đó, Việt Nam có độ mở lớn và đang chịu ảnh hưởng cả tiêu cực lẫn tích cực. Lợi ích của 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) hiện nay cụ thể là gì trong bối cảnh 75% xuất khẩu là từ khu vực FDI và tỷ lệ xuất khẩu được hưởng lợi từ thuế quan ưu đãi trung bình khá thấp (khoảng 33%), do không đáp ứng được tỷ lệ xuất xứ hàng hóa và các tiêu chuẩn phi thuế quan. Hệ quả là, cấu trúc kinh tế đang có sự tách rời hai khu vực FDI và trong nước. Thứ hai, độ mở về hàng hóa, thuế quan là lớn nhưng chưa đi kèm với độ mở về dịch vụ và thị trường tài chính sẽ phát sinh các vấn đề về thị trường vốn, thị trường dịch vụ và có thể dẫn đến các áp lực về tỷ giá, lãi suất cũng như giảm dần lợi thế so sánh khi năng suất không được cải thiện.  

3. Các mục tiêu, định hướng lớn 

Về các định hướng, mục tiêu chung

Nền tảng tăng trưởng cao trong năm 2024 - 2025 có thể tạo ra một xuất phát điểm thuận lợi cho tăng trưởng các năm tiếp theo. Việt Nam đang đặt ra các mục tiêu tăng trưởng rất cao trong 5 năm tới, gồm cả về kinh tế, xã hội và môi trường (tăng trưởng 2 con số, GDP/người khoảng trên 8.500 USD/năm, năng suất lao động được yêu cầu tăng 8,5%, từ mức 5,8% hiện nay và TFP đóng góp trên 50% cho tăng trưởng từ mức trên 40% hiện nay). 

Ngoài ra, về đảm bảo các cân đối lớn cho nền kinh tế, tích lũy tài sản sẽ phải đảm bảo mức 35 - 36% GDP từ mức hiện tại là 30 - 31% GDP và tiêu dùng cuối cùng khoảng 61 - 62%; tổng đầu tư cần ở mức khoảng 40% GDP là một mức tương đối lớn và đòi hỏi một tỷ lệ tiết kiệm hoặc nợ quốc gia rất cao. Huy động ngân sách khoảng 18% GDP và ở mức bội chi khoảng 5% GDP. Việt Nam cũng đặt mục tiêu liên quan đến năng lượng tái tạo, theo đó, đến năm 2030, tỉ lệ năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp khoảng 25 - 30% (Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia). 

Bên cạnh các mục tiêu kinh tế, một loạt các mục tiêu về xã hội và môi trường cũng được đặt ra, trong đó có hai điểm khá quan trọng là chỉ số HDI khoảng 0,78. Về tỷ lệ lao động qua đào tạo sẽ ở mức khoảng 35 - 40% lực lượng lao động. Hiện nay, tỷ lệ này đang là khoảng 28%, có nghĩa là trong 5 năm tới Việt Nam phải đưa được tỷ lệ này tăng khoảng 2 - 2,5 điểm %/năm để đạt được mục tiêu trên. Đồng thời, phải thực hiện các cam kết quốc tế đặc biệt là Net Zero, đây đang là những mục tiêu không nhỏ của nền kinh tế.

Về xây dựng và cải thiện hạ tầng

Việt Nam đặt mục tiêu xây dựng cơ bản khung kết cấu hạ tầng quốc gia. Bao gồm hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội. Với hạ tầng kỹ thuật, cải thiện hệ thống giao thông là việc đã và đang làm rất quyết liệt, tới năm 2030 phải hình thành được hệ thống cao tốc, xây dựng được các tuyến đường sắt quan trọng, các cảng biển và các cảng hàng không. Việt Nam đặt ra định hướng phát triển và hình thành 2 vùng trọng điểm, gắn với hai cực tăng trưởng quanh thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Việt Nam đang hướng tới một mức độ đô thị hóa khoảng trên 50% và hình thành từ 3 đến 5 đô thị ở tầm quốc tế. 

Bên cạnh hạ tầng giao thông, hạ tầng điện cũng là một phần quan trọng nhằm đi trước đón đầu phục vụ cho các mục tiêu tăng trưởng. Có những thay đổi rất lớn trong định hướng liên quan đến việc tiếp cận với hạ tầng điện, bao gồm việc khởi động lại dự án về điện hạt nhân, nới lỏng hoặc là thay đổi các cơ chế đầu tư và mua bán năng lượng tái tạo; xây dựng các kho dự trữ về năng lượng; xây dựng các tuyến đường truyền tải điện mới, phát triển lưới điện thông minh. 

Cải thiện hạ tầng thông tin là một trong những định hướng mang tính đi trước đón đầu, đặc biệt khi đang nhấn mạnh vào chuyển đổi số ở Việt Nam. Theo đó, các hạ tầng viễn thông, hạ tầng về truyền dẫn dữ liệu, hạ tầng về 5G, 6G cần được phát triển để bắt kịp được tốc độ thay đổi của khoa học công nghệ hiện nay, ngoài ra, là phát triển một loạt các hạ tầng khác của công nghệ số như trung tâm dữ liệu, hệ thống đường truyền…

Hạ tầng thủy lợi và phòng, chống thiên tai là một trong những điểm rất cấp thiết trong thời gian tới, đặc biệt là sau khi đã trải qua năm 2025 với rất nhiều tổn thất. Thiên tai xảy ra nhiều ở các địa phương từ miền Bắc đến miền Trung và miền Nam phá huỷ rất nhiều công trình thuỷ lợi và giao thông, vì vậy nhu cầu ưu tiên cho phục hồi, cải thiện hệ thống hạ tầng này trong năm 2026 - 2027 là rất lớn.

Với hạ tầng xã hội, gồm có hạ tầng trong giáo dục, văn hóa, thể thao và du lịch, y tế, khoa học công nghệ. Có một số điểm khá quan trọng trong các định hướng chiến lược hiện nay, ví dụ như hạ tầng về giáo dục sẽ là những đột phá về nguồn lực cho giáo dục, về không gian cho giáo dục, về tái tổ chức lại các cơ sở giáo dục, về xây dựng các cơ sở hạ tầng thiết yếu cho giáo dục. Hiện nay, Việt Nam đã chuẩn bị chương trình cải cách giáo dục với ngân sách khoảng 580 nghìn tỷ đồng.

Hạ tầng về văn hóa, thể thao và du lịch cũng là một trong những điểm mới. Đây là một trong những định hướng có tính đột phá của Việt Nam. Văn hóa được coi như một không gian phát triển mới. Phát triển hạ tầng văn hóa không chỉ là bảo tồn văn hóa, mà còn hướng đến mục tiêu xây dựng văn hóa trở thành một ngành công nghiệp văn hóa và ngành kinh tế - xã hội quan trọng. 

Hạ tầng về y tế cũng là một điểm cần tập trung đầu tư. Trong giai đoạn dịch Covid-19 đã bộc lộ những điểm yếu của hệ thống y tế Việt Nam, trong đó quan trọng là hệ thống y tế dự phòng. Đặc biệt là sau khi sáp nhập các tỉnh bỏ cấp huyện, tái cơ cấu hệ thống y tế là một việc rất cần thiết. Bên cạnh đó là phát triển các ngành dược, trang thiết bị y tế để đảm bảo phục vụ người dân với một tiêu chuẩn thu nhập cao hơn và an ninh y tế khi rủi ro dịch bệnh có thể xảy ra.

Hạ tầng khoa học công nghệ, đầu tư cho khoa học công nghệ được đặt mục tiêu khoảng 5% GDP từ mức 0,4 - 0,5% trong các năm trước đây. Như vậy, vấn đề không phải là vốn mà là những hạng mục nào để phù hợp và tạo ra động lực cho tăng trưởng? Việt Nam đang tập trung vào 7 nhóm vấn đề: Xây dựng hệ sinh thái cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, xây dựng các điểm, các phòng thí nghiệm trọng điểm, xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia để kích hoạt được tinh thần về đổi mới sáng tạo cũng như là khởi nghiệp…

Về phân bổ lại không gian tăng trưởng

Việt Nam đã thực hiện cải cách về số lượng, quy mô tỉnh và phân vùng so với trước đây. Sáp nhập các tỉnh, bỏ cấp huyện và phân lại vùng, cho thấy Việt Nam đang có cách tiếp cận mới về không gian kinh tế. Đặc biệt là đã xóa bỏ những điểm nghẽn về liên kết vùng, về tính kinh tế theo quy mô; xóa bỏ những rào cản không cần thiết (ví dụ như trước đây, trong Luật Ngân sách nhà nước liên quan đến việc chi tiêu ngân sách của các tỉnh cho các tỉnh khác. Khi thực hiện sáp nhập các tỉnh, các rào cản về mặt thể chế này đã được gỡ bỏ). Như vậy, Chính phủ đang kỳ vọng vào việc tăng liên kết giữa các tỉnh trước đây khi đã trở thành tỉnh mới và tăng liên kết các vùng. 

Bên cạnh đó, với mục tiêu tăng trưởng 2 con số, Việt Nam cũng đang đặt ra các mục tiêu tăng trưởng cho từng vùng. Cũng như chung cho quốc gia, mục tiêu mới cao hơn rất nhiều so với mục tiêu cũ. Trước đây có thể nhìn thấy hai vùng động lực là vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam bộ đặt mục tiêu tăng trưởng GDP khoảng 9% hoặc 8 - 8,5%, hiện mục tiêu mới là 10 - 11%, cao hơn rất nhiều so với mức trung bình của cả nước và các vùng còn lại. Vùng Đồng bằng sông Cửu Long trước đây là một vùng tăng trưởng thấp, do yếu tố về nguồn nhân lực và hạ tầng, cũng đang được đặt mục tiêu tăng trưởng ở mức 9 - 9,5% từ mức cũ là khoảng 6%. 

Với các hành lang kinh tế: Thể hiện sự liên kết giữa các tỉnh, giữa các vùng với nhau. Trong định hướng phát triển, Việt Nam đang đặt ra 3 hành lang kinh tế từ nay tới năm 2030 là hành lang Bắc Nam, trở thành xương sống của liên kết kinh tế. Hành lang thứ hai tính từ Lào Cai về thành phố Hà Nội và các tỉnh như Hải Phòng và Quảng Ninh, kết nối các tỉnh miền núi phía Bắc với vùng động lực tăng trưởng ở Đồng bằng sông Hồng. Đây cũng là hành lang khơi thông được dòng chảy về thương mại và đầu tư Trung Quốc. Hành lang thứ ba là hành lang Mộc Bài - Thành phố Hồ Chí Minh - Đồng Nai, tạo sự thông thương quốc tế và thông thương giữa Đông Nam bộ với Tây Nguyên hoặc với Đồng bằng sông Cửu Long. Sau năm 2030 cũng sẽ có nhiều hành lang khác tiếp cận theo hướng Đông Tây, có thể kể đến như hành lang từ Điện Biên, Sơn La, Phú Thọ; hành lang Cầu Treo - Vũng Áng, Lao Bảo… nhưng đầu tư để trở thành hành lang kinh tế là một thách thức không nhỏ. 

Việt Nam cũng đang mở rộng các vùng động lực. Có 4 vùng động lực trước đây là vùng động lực phía Bắc, phía Nam, Đồng bằng sông Cửu Long, Miền Trung. Hiện đang bổ sung thêm vùng động lực Bắc Trung bộ. Phạm vi các vùng này đang được mở rộng theo hướng Tây. 

Nhìn chung, Việt Nam đang đứng trước những cơ hội nhưng cũng không ít thách thức. Cơ cấu tăng trưởng lạc hậu, nguy cơ có thể bị tụt hậu, không thoát ra được của bẫy thu nhập trung bình. Việt Nam cũng đối mặt với một thực trạng về việc các điểm nghẽn lớn chưa được xử lý dứt điểm như về hạ tầng, nguồn nhân lực, thể chế. Nếu nhìn vào thời điểm trước đây khoảng 2 năm, các điểm nghẽn đó còn nổi cộm. Tuy nhiên, với những bước đột phá về thể chế từ đầu năm 2025, có thể tin tưởng rằng các điểm nghẽn đó đã được “bắt mạch” và đang được xử lý với một tâm thế mới. Những mục tiêu, định hướng lớn đặt ra hiện nay vừa là sức ép, vừa tạo niềm tin và không khí mới cho một giai đoạn phát triển mới. Mặc dù vậy, cần phải tiếp tục có những cách làm và các giải pháp mới với tư duy, phương thức lãnh đạo, mô hình tăng trưởng mới, khơi thông nguồn lực, không gian mới. Trong đó, tư duy phát triển mới, đột phá có tính bao trùm lên tất cả.

TS. Nguyễn Như Quỳnh

Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính

Nguồn: Trung tâm Thông tin kinh tế, tài chính và thống kê

Tài liệu tham khảo

1. Cục Thống kê (2024), Xuất, nhập khẩu điện tử, máy tính và linh kiện - động lực tăng trưởng và kỳ vọng năm 2024. 

2. Cục Thống kê (2023), Niên giám thống kê Việt Nam 2023.

3. Elisabeth, D. (2025), Việt Nam 2045: Nâng cao vị thế thương mại trong một thế giới đang thay đổi - Con đường dẫn đến tương lai thu nhập cao của Việt Nam.

4. OECD (2025), Kinh tế Việt Nam đối mặt thách thức lớn về năng suất, thương mại và chuyển đổi xanh, Thời báo Kinh tế Việt Nam.

5. OECD Data Explorer. (2024), Global Value Chain Participation Index.

6. World Bank (2023), Connecting to Compete 2023: Trade Logistics in the Global Economy - The Logistics Performance Index (LPI) and Its Indicators, Washington, DC: World Bank.