Nhận diện vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước

11/02/2026 10:22


Trong tiến trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, khu vực kinh tế nhà nước (KTNN) luôn giữ vai trò chủ đạo, nắm giữ các ngành then chốt, định hướng và dẫn dắt các thành phần kinh tế khác cùng phát triển. Để có những giải pháp đột phá cho KTNN thực hiện tốt sứ mệnh của mình trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, cần thiết phải nhận diện và phân tích sâu rộng về vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế này.

1. Đặt vấn đề

Có thể khẳng định, với mọi quốc gia, KTNN luôn đóng vai trò quan trọng. Trong mô hình kinh tế thị trường tự do thì KTNN chủ yếu đóng vai trò “trọng tài” và “người gác cổng”, kiến tạo luật chơi và cung cấp hàng hóa công thiết yếu; còn trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở nước ta thì KTNN luôn giữ vai trò chủ đạo. Đây là nét khác biệt - mang tính ưu việt trong phát triển kinh tế thị trường của nước ta so với các nước tư bản hiện đại. 

Nội hàm của kinh tế nhà nước

Trên thế giới, nội hàm và phạm vi KTNN có sự khác nhau tùy thuộc vào thể chế và chính sách của từng nước. Ở các nước tư bản phát triển theo mô hình kinh tế thị trường tự do, KTNN chủ yếu giới hạn trong hoạt động của Chính phủ và các dịch vụ công căn bản; khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) tương đối nhỏ. Ngược lại, ở các nước theo đường lối XHCN hoặc kinh tế thị trường định hướng XHCN, phạm vi KTNN rộng lớn hơn. Hầu hết các nền kinh tế hiện đại đều là kinh tế hỗn hợp, tức là có sự kết hợp giữa khu vực tư nhân và khu vực nhà nước.

Có thể nói, KTNN là một phạm trù có tính mở. Tùy từng thể chế, phạm vi KTNN có thể thu hẹp ở các dịch vụ công cơ bản (trong mô hình kinh tế thị trường tự do) hoặc mở rộng tới nhiều ngành then chốt (trong mô hình định hướng XHCN). Hầu hết các quốc gia hiện đại đều vận hành mô hình kinh tế hỗn hợp, trong đó khu vực công và khu vực tư hỗ trợ, bổ sung cho nhau.

Tóm lại, KTNN là một bộ phận cấu thành không thể tách rời của nền kinh tế quốc dân, bao gồm mọi hoạt động kinh tế do nhà nước đảm trách hoặc kiểm soát nhằm phục vụ lợi ích chung. Khái niệm này mang tính phổ quát nhưng nội hàm cụ thể lại rất đa dạng tùy theo bối cảnh mỗi nước. Đối với nước ta, KTNN là một khái niệm có tính mở với nội hàm rộng; được nhìn nhận là thành phần kinh tế đặc biệt, do Nhà nước - với vai trò vừa quản lý, vừa trực tiếp sản xuất kinh doanh - đại diện sở hữu. Theo nghĩa rộng, KTNN bao gồm các bộ phận vật chất, nguồn lực của Nhà nước mà Nhà nước có quyền kiểm soát, chủ động sử dụng để tác động vào nền kinh tế, thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước. 

Tại Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79), khái niệm KTNN được xác định cụ thể, bao hàm toàn diện các nền tảng vật chất quan trọng của Nhà nước, gồm tổ chức kinh tế và nguồn lực do Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, ổn định vĩ mô và bảo đảm an ninh, quốc phòng, như: (1) Đất đai, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước, vùng biển, vùng trời, không gian ngầm; (2) Các công trình kết cấu hạ tầng do Nhà nước đầu tư xây dựng; (3) Ngân sách nhà nước; (4) Dự trữ quốc gia; (5) Các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách; (6) Doanh nghiệp nhà nước; (7) Tổ chức tín dụng nhà nước; (8) Vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống; (9) Đơn vị sự nghiệp công lập...

Việc định hình rõ nội hàm khái niệm KTNN không chỉ mang ý nghĩa lý luận mà còn là yêu cầu thực tiễn, nhằm thống nhất nhận thức, hoàn thiện thể chế, phát huy vai trò chủ đạo của KTNN, nâng cao hiệu quả hoạt động của các chủ thể và hiệu quả sử dụng các nguồn lực nhà nước. Điều này thể hiện cụ thể qua các khía cạnh như: 

Thứ nhất, thống nhất nhận thức và làm rõ nội hàm, phạm vi của KTNN; khắc phục cách hiểu chung chung về KTNN, phản ánh đầy đủ hơn các nền tảng vật chất, nguồn lực và công cụ mà Nhà nước nắm giữ, quản lý và sử dụng để điều tiết nền kinh tế. 

Thứ hai, tiếp tục khẳng định vai trò chủ đạo của KTNN gắn với các nguồn lực then chốt của Nhà nước. Việc xác định rõ các thành tố của KTNN làm nổi bật vai trò của Nhà nước không chỉ thông qua hoạt động kinh doanh, mà còn thông qua quản lý, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực then chốt như đất đai, tài nguyên, ngân sách, hạ tầng, dự trữ quốc gia, tín dụng… 

Thứ ba, tạo cơ sở cho việc xây dựng, phân định và hoàn thiện thể chế, chính sách đối với các chủ thể và nguồn lực của KTNN; từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của các chủ thể KTNN cũng như hiệu quả huy động và sử dụng nguồn lực nhà nước vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu cho phát triển kinh tế - xã hội.

Lý luận về vai trò của kinh tế nhà nước

Kinh tế nhà nước có vai trò quan trọng và đa diện trong nền kinh tế quốc dân. Vai trò này thể hiện khác nhau tùy thuộc vào mô hình kinh tế (kinh tế thị trường tự do hay kinh tế thị trường định hướng XHCN), tùy thuộc vào giai đoạn phát triển (quốc gia phát triển hay đang phát triển), và trong việc thực thi các chức năng kinh tế vĩ mô cũng như khắc phục các hạn chế của thị trường. Vai trò của KTNN thể hiện trên các phương diện chính sau đây:

Vai trò của kinh tế nhà nước trong các mô hình kinh tế thị trường tự do và thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Trong nền kinh tế thị trường tự do (free-market economy), triết lý kinh tế nhấn mạnh vào bàn tay vô hình của thị trường và hạn chế tối đa sự can thiệp của nhà nước. Vai trò của khu vực nhà nước được nhìn nhận là hỗ trợ, bổ khuyết chứ không trực tiếp dẫn dắt nền kinh tế. Nhà nước được kỳ vọng tập trung vào thiết lập khung khổ pháp luật, bảo vệ quyền sở hữu tài sản, duy trì ổn định vĩ mô, cung cấp một số hàng hóa công cộng thiết yếu mà thị trường không cung cấp, và bảo đảm mạng lưới an sinh tối thiểu cho những người dễ bị tổn thương. Nói cách khác, khu vực công trong mô hình kinh tế thị trường tự do đóng vai “trọng tài” và “người gác cổng” cho thị trường, tránh can thiệp quá mức gây “méo mó” cạnh tranh.

Tư tưởng chủ nghĩa tự do kinh tế từ Adam Smith (1776) đến Milton Friedman (1962) đều cảnh báo việc nhà nước tham gia hoạt động kinh doanh có thể dẫn tới kém hiệu quả và mất tự do kinh tế. Những người theo quan điểm tự do tuyệt đối (libertarian) như Robert Nozick (1974) thậm chí chỉ chấp nhận “nhà nước tối thiểu” chỉ nhằm bảo đảm an ninh, trật tự; mọi hình thức tái phân phối hay dịch vụ khác đều bị coi là vượt phạm vi của nhà nước. Dù quan điểm này không phổ biến, nhưng cũng cho thấy trong mô hình thị trường tự do, KTNN bị giới hạn ở mức tối thiểu cần thiết.

Đối với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN (như trường hợp Trung Quốc, Việt Nam hiện nay), khu vực KTNN được xác định giữ vai trò chủ đạo, định hướng sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Đây là mô hình kinh tế hỗn hợp đặc thù, trong đó cơ chế thị trường được sử dụng để phân bổ nguồn lực nhưng dưới sự “dẫn dắt” của khu vực nhà nước nhằm đạt các mục tiêu XHCN dài hạn. Ở Việt Nam, quan điểm nhất quán là KTNN giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; nhưng bình đẳng trước pháp luật với các khu vực kinh tế khác, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; tiếp cận công bằng, công khai, minh bạch các nguồn lực, thị trường và cơ hội phát triển; cùng với các thành phần kinh tế trong nước, xây dựng nền kinh tế tự chủ, tự lực, tự cường, bảo đảm an ninh kinh tế, thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả.

Tóm lại, trong mô hình thị trường tự do, KTNN có vai trò thiên về hỗ trợ khung khổ cho thị trường; còn trong mô hình định hướng XHCN thì KTNN giữ vai trò chủ đạo, định hướng và dẫn dắt phát triển. Hai mô hình này thể hiện hai cực của phổ quan điểm về vai trò nhà nước trong kinh tế. Do đó, vai trò KTNN là vấn đề cân bằng động, thay đổi theo triết lý phát triển và hoàn cảnh lịch sử của mỗi quốc gia.

Vai trò của kinh tế nhà nước tại quốc gia phát triển và quốc gia đang phát triển

Đối với các quốc gia phát triển

Vai trò của KTNN cũng biến đổi tương ứng với trình độ phát triển kinh tế của quốc gia. Đối với các quốc gia phát triển (nhóm OECD, các nước công nghiệp hóa), ở đó khu vực tư nhân đã phát triển mạnh, thị trường vận hành tương đối hiệu quả, vì thế vai trò truyền thống của KTNN tập trung vào các hoạt động sau: (i) Điều tiết các ngoại tác tiêu cực của thị trường phát triển cao (như ô nhiễm môi trường, độc quyền doanh nghiệp lớn); (ii) Duy trì mạng lưới an sinh xã hội trong điều kiện xã hội thịnh vượng nhưng già hóa và đầu tư cho tương lai dài hạn (nghiên cứu cơ bản, chống biến đổi khí hậu) mà tư nhân chưa muốn tham gia.

Các nền kinh tế thị trường tự do cũng thừa nhận vai trò của nhà nước trong việc xử lý những “thiếu sót của thị trường hiện đại”, bảo đảm an ninh chuỗi cung ứng, an ninh năng lượng, và dẫn dắt quá trình chuyển đổi xanh. Ví dụ, năm 2022 - 2023, Chính phủ Nhật Bản đã can thiệp mua lại công ty sản xuất Chip chiến lược JSR nhằm bảo vệ ngành bán dẫn quốc gia trước biến động chuỗi cung ứng; Chính phủ Pháp quốc hữu hóa hoàn toàn tập đoàn điện EDF để có thể đầu tư mạnh cho điện hạt nhân và năng lượng tái tạo, bảo đảm an ninh năng lượng sau cú sốc Nga - Ukraine. Những động thái này minh chứng rằng ở các nước phát triển, vai trò KTNN có xu hướng mở rộng trở lại ở những lĩnh vực chiến lược và khi quốc gia đối mặt thách thức mới như phát triển công nghiệp nền tảng, khủng hoảng khí hậu, bất bình đẳng xã hội…

Đối với các quốc gia đang phát triển

Đối với các quốc gia đang phát triển, KTNN thường giữ vai trò chủ động và tích cực hơn trong tiến trình phát triển. Lý do là khu vực tư nhân ở các nước này thường còn non trẻ, nguồn vốn tư nhân hạn chế và dễ có những thất bại thị trường trầm trọng (thiếu hạ tầng, thiếu ngành công nghiệp cơ bản, khoảng cách giàu nghèo cao). Do đó, từ sau Thế chiến II, hầu hết các nước thuộc thế giới thứ ba khi giành độc lập đều mở rộng khu vực công để dẫn dắt công nghiệp hóa và cung cấp dịch vụ công cộng cơ bản. Vì thế, KTNN được xem như động lực phát triển ban đầu ở các quốc gia này.

Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận rằng vai trò của KTNN ở nhiều nước đang phát triển đã gặp không ít vấn đề như quản lý yếu kém dẫn đến DNNN thua lỗ, tham nhũng, gánh nặng cho ngân sách, trong khi đó khu vực tư nhân từng bước phát triển mạnh mẽ. Vì vậy, quan điểm phát triển hiện nay thiên về cách tiếp cận cân bằng: Nhà nước vẫn cần giữ vai trò kiến tạo và hỗ trợ, nhưng đồng thời phải tạo điều kiện cho thị trường và tư nhân phát triển. Trung Quốc được xem là ví dụ thành công của sự kết hợp này. Giai đoạn đầu cải cách (những năm 1980 - 1990), Trung Quốc cho phép kinh tế tư nhân phát triển nhưng vẫn giữ khu vực nhà nước kiểm soát các huyết mạch; đến nay, họ có cả doanh nghiệp tư nhân rất mạnh (Alibaba, Tencent) lẫn DNNN khổng lồ (Sinopec, ICBC) cùng tồn tại và nhà nước sử dụng các công cụ pháp lý và sở hữu để định hướng chung. Tương tự, Việt Nam cũng coi kinh tế tư nhân là một “động lực quan trọng” nhưng KTNN vẫn giữ vai trò “chủ đạo” và do đó, các nỗ lực cải cách nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực KTNN đang tiếp tục được đẩy mạnh theo hướng phù hợp hơn với kinh tế thị trường, bối cảnh và xu thế phát triển mới.

Tóm lại, ở các quốc gia đang phát triển, khu vực KTNN thường giữ vai trò “dẫn đường” và “chống đỡ” trong giai đoạn đầu, nhưng về dài hạn, khi kinh tế đã lớn mạnh, vai trò nhà nước cần điều chỉnh để tránh trì trệ, phát huy được động lực thị trường và thích ứng linh hoạt với bối cảnh, xu thế. Ở các quốc gia phát triển, vai trò của KTNN có thể thu hẹp hơn, nhưng lại quan trọng trong các nhiệm vụ “trọng tài” thị trường và “hậu cần” cho xã hội phức tạp (như bảo hiểm xã hội, quản lý rủi ro hệ thống…). Dù ở giai đoạn nào, sự hiện diện của KTNN đều cần thiết để đảm bảo cho nền kinh tế phát triển bền vững và bao trùm; chỉ khác biệt về mức độ và phạm vi cụ thể.

2. Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước ở Việt Nam 

Qua từng thời kỳ phát triển của đất nước, nhận thức về nội hàm và phạm vi của KTNN có sự thay đổi. Tuy nhiên, KTNN luôn được khẳng định giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, thể hiện tại Hiến pháp và các Văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương, từ Đại hội Đảng VIII tới Đại hội XIII. Cụ thể, vai trò chủ đạo của KTNN đã được nêu rõ tại Hiến pháp năm 2013 (Điều 51, 53, 55), trong đó tại Điều 51 nhấn mạnh: “Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”. Vai trò chủ đạo của KTNN thể hiện tính chất quyết định của khu vực kinh tế này đối với phát triển quốc gia trên một số khía cạnh sau:

Kinh tế nhà nước đang nắm giữ một phần rất lớn tài sản quốc gia, bao gồm đất đai, tài nguyên, mạng lưới kết cấu hạ tầng trọng yếu, phần vốn tại doanh nghiệp và các quyền tài sản khác, nhờ đó giữ vai trò chi phối đối với các “huyết mạch” và tài nguyên chiến lược của quốc gia; giúp nâng cao khả năng độc lập, tự chủ, tự cường, bảo đảm các cân đối lớn và an ninh kinh tế.

Kinh tế nhà nước là một trong những công cụ quan trọng để Nhà nước duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, khắc phục các “khuyết tật” của thị trường thông qua sử dụng hiệu quả, công bằng, công khai, minh bạch các nguồn lực công, bao gồm ngân sách nhà nước, chính sách tài chính - tiền tệ, dự trữ quốc gia… và thông qua vận hành hiệu quả các mô hình tổ chức của KTNN như DNNN, các định chế tài chính nhà nước và các đơn vị sự nghiệp công lập.

Khu vực KTNN nắm giữ vị trí tiên phong, nòng cốt, dẫn dắt trong những ngành trọng yếu của nền kinh tế, nhất là những lĩnh vực mới, lĩnh vực chiến lược hoặc cần vốn đầu tư rất lớn mà khu vực tư nhân trong nước chưa đủ năng lực thực hiện.

Tại Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển KTNN, vai trò chủ đạo của KTNN tiếp tục được khẳng định và thể hiện qua các quan điểm chỉ đạo sau:

(1) Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế, định hướng chiến lược phát triển, giữ vững quốc phòng, an ninh; góp phần phát huy giá trị văn hoá và tiến bộ công bằng, an sinh xã hội; là nguồn lực quan trọng để Nhà nước chi phối, can thiệp kịp thời đáp ứng các yêu cầu đột xuất, cấp bách phát sinh.

(2) Kinh tế nhà nước bình đẳng trước pháp luật với các khu vực kinh tế khác, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; tiếp cận công bằng, công khai, minh bạch các nguồn lực, thị trường và cơ hội phát triển; cùng với các thành phần kinh tế trong nước, xây dựng nền kinh tế tự chủ, tự lực, tự cường, bảo đảm an ninh kinh tế, thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả.

(3) Các nguồn lực KTNN phải được rà soát, thống kê, đánh giá, hạch toán đầy đủ theo nguyên tắc thị trường, gắn với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Khơi thông các điểm nghẽn, giải phóng nguồn lực; quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả, chống thất thoát, lãng phí. Đánh giá tác động và phân tích lợi ích - chi phí xã hội của đầu tư nguồn lực vật chất của Nhà nước theo thông lệ quốc tế. Giải quyết tốt mối quan hệ giữa Nhà nước - thị trường - xã hội. Tách bạch việc sử dụng nguồn lực nhà nước trong cung cấp hàng hoá, dịch vụ công, thực hiện nhiệm vụ chính trị với các hoạt động kinh doanh.

(4) Kinh tế nhà nước phải tiên phong kiến tạo phát triển, dẫn dắt, mở đường, thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ cấu lại nền kinh tế và xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đẩy mạnh cơ cấu lại DNNN; tập trung nâng cao hiệu quả hoạt động, áp dụng công nghệ tiên tiến, mô hình quản trị hiện đại theo chuẩn mực quốc tế. Chú trọng xây dựng và phát triển các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, DNNN, ngân hàng thương mại nhà nước lớn, giữ vai trò tiên phong, dẫn dắt, tạo động lực thúc đẩy các ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược, có năng lực cạnh tranh khu vực và toàn cầu hoặc các ngành, lĩnh vực thiết yếu. Phát huy vai trò của các DNNN, đơn vị sự nghiệp công lập trong mối quan hệ liên kết, hợp tác nghiên cứu, phát triển khoa học và công nghệ.

3. Kết luận

Kinh tế nhà nước là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân ở mọi quốc gia, song vai trò và phạm vi của KTNN có sự khác biệt tùy theo mô hình kinh tế và trình độ phát triển. Ở Việt Nam, KTNN là khu vực kinh tế đặc biệt, do Nhà nước vừa thực hiện chức năng quản lý, vừa đại diện chủ sở hữu; được xác định giữ vai trò chủ đạo, nắm giữ các ngành, lĩnh vực then chốt, định hướng và dẫn dắt sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Theo đó, vai trò chủ đạo của KTNN được khẳng định xuyên suốt trong Hiến pháp và các văn kiện của Đảng, gần đây nhất là Nghị quyết số 79-NQ/TW. KTNN nắm giữ các nguồn lực then chốt của quốc gia, giữ vai trò quan trọng trong ổn định vĩ mô, bảo đảm an ninh kinh tế và dẫn dắt phát triển các ngành, lĩnh vực chiến lược. Đồng thời, KTNN được xác định phát triển bình đẳng với các khu vực kinh tế khác, vận hành theo nguyên tắc thị trường, nâng cao hiệu quả, minh bạch và tiên phong trong kiến tạo phát triển, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đổi mới mô hình tăng trưởng.

ThS. Đoàn Thị Kim Dung

Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính

Nguồn: Trung tâm Thông tin kinh tế, tài chính và thống kê

Tài liệu tham khảo

1. Adam Smith (1776), The Wealth of Nation.

2. Milton Friedman (1962), Capitalism and Freedom.

3. Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước.

4. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.

5. Robert Nozick (1974), Anarchy, State, and Utopia.