Điểm sáng kinh tế vĩ mô Việt Nam năm 2025 và triển vọng năm 2026
11/02/2026 10:10
Năm 2025 là năm cuối của giai đoạn 5 năm 2021 - 2025, đánh dấu giai đoạn bản lề trong tiến trình phát triển kinh tế của Việt Nam, khi nền kinh tế không chỉ tiếp tục phục hồi mà còn từng bước củng cố các trụ cột vĩ mô quan trọng. Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, Việt Nam vẫn nổi lên với nhiều điểm sáng đáng chú ý về ổn định và điều hành kinh tế vĩ mô. Bài viết này tập trung phân tích những đánh giá về kinh tế vĩ mô năm 2025 và những triển vọng cho năm 2026.
1. Điểm sáng kinh tế vĩ mô năm 2025
Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn được bảo đảm
Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam khi là năm cuối thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KTXH) giai đoạn 2021 - 2025, là năm có nhiều sự kiện trọng đại[1], mang dấu ấn lớn. Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động phức tạp, Việt Nam vẫn đạt được những kết quả tích cực, nổi bật là việc giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát hiệu quả và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Cụ thể:
Kinh tế vĩ mô ổn định là thành tựu nổi bật trong năm 2025. Đạt được kết quả này là nhờ Chính phủ đã kiên định mục tiêu ổn định, chủ động điều hành linh hoạt các chính sách kinh tế, qua đó, hạn chế tối đa tác động tiêu cực từ bên ngoài. Các thị trường cơ bản như tiền tệ, ngoại hối, tín dụng và hàng hóa vận hành tương đối thông suốt, không để xảy ra biến động lớn, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuất - kinh doanh (SXKD) và củng cố niềm tin của doanh nghiệp, nhà đầu tư và người dân.
Một điểm sáng quan trọng khác là lạm phát năm 2025 được kiểm soát tốt, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 3,31% so với năm 2024, nằm trong ngưỡng mục tiêu Quốc hội đề ra. Điều này phản ánh sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa chính sách tiền tệ (CSTT) thận trọng và chính sách tài khóa (CSTK) chủ động, linh hoạt. Việc điều hành giá các mặt hàng thiết yếu theo lộ trình phù hợp, cùng với bảo đảm nguồn cung hàng hóa, đã góp phần ổn định mặt bằng giá cả, qua đó duy trì sức mua của người dân và ổn định đời sống xã hội.
Năm 2025 cũng ghi nhận sự ổn định tương đối vững chắc của các cân đối lớn trong nền kinh tế. Cân đối thu - chi ngân sách nhà nước (NSNN) được đảm bảo khi thu NSNN năm 2025 ước tăng 34,7% so với dự toán và tăng 30,3% so với năm 2024; đồng thời, NSNN đảm bảo kinh phí thực hiện các nhiệm vụ phát triển KTXH quan trọng, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, chi phòng chống khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh và thực hiện các chính sách an sinh xã hội (ASXH); nợ công duy trì trong giới hạn an toàn (đạt 35 - 36% GDP, dưới trần 60% GDP), góp phần giữ vững kỷ luật tài chính quốc gia. Cán cân thương mại tiếp tục ở trạng thái tích cực, dự trữ ngoại hối được củng cố, tạo “vùng đệm” quan trọng trước những rủi ro từ bên ngoài. Cung - cầu các yếu tố sản xuất cơ bản như năng lượng, lương thực, lao động cơ bản được đáp ứng, hạn chế nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức cao, quy mô nền kinh tế được mở rộng
Năm 2025, tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Việt Nam tăng 8,02% so với năm 2024, đạt mức tăng trưởng cao trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất định. Đây là mức tăng trưởng cao trong giai đoạn 2011 - 2025, cho thấy nền kinh tế đã phục hồi mạnh mẽ và chuyển sang giai đoạn tăng trưởng cao hơn với nền tảng vĩ mô ổn định. Tăng trưởng kinh tế có xu hướng cải thiện dần trong năm, trong đó, quý IV/2025 tăng 8,46%, là mức tăng cao nhất so với cùng kỳ các năm trong giai đoạn 2011 - 2025, phản ánh sự lan tỏa ngày càng rõ của các động lực tăng trưởng và sự phục hồi đồng đều của các khu vực kinh tế.
Hình 1. Tăng trưởng GDP phân theo khu vực kinh tế các quý năm 2025 (%) 
Nguồn: Cục Thống kê
Xét theo khu vực kinh tế, tăng trưởng năm 2025 được đóng góp bởi cả ba khu vực, trong đó, khu vực dịch vụ và khu vực công nghiệp - xây dựng giữ vai trò chủ đạo. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,78%, đóng góp 5,30% vào mức tăng chung của nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,95%, đóng góp 43,62%; khu vực dịch vụ tăng 8,62%, đóng góp 51,08%, là khu vực đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng GDP.
Có thể thấy, cơ cấu đóng góp cho tăng trưởng kinh tế năm 2025 không phụ thuộc vào một khu vực đơn lẻ mà được nâng đỡ bởi sự tham gia đồng thời của các khu vực chủ chốt. Vai trò dẫn dắt của khu vực dịch vụ phản ánh xu hướng chuyển dịch cơ cấu theo hướng hiện đại hóa gắn với mở rộng tiêu dùng và du lịch, trong khi khu vực công nghiệp - xây dựng tiếp tục giữ vai trò trụ cột trong mở rộng năng lực sản xuất, xuất khẩu và tạo nền tảng cho tăng trưởng trung hạn, qua đó, khẳng định tính bền vững tương đối của đà tăng trưởng năm 2025.
Năm 2025 cũng đánh dấu bước chuyển quan trọng của chu kỳ tăng trưởng, khi nền kinh tế không chỉ phục hồi mà đã bước sang giai đoạn tăng trưởng cao hơn. Xét trong giai đoạn 2021 - 2025, tăng trưởng kinh tế thể hiện tính chu kỳ tương đối rõ, cơ cấu tăng trưởng chuyển dịch theo hướng hiện đại hơn với vai trò ngày càng lớn của khu vực dịch vụ và công nghiệp chế biến, chế tạo, đồng thời chất lượng tăng trưởng từng bước được cải thiện thông qua nâng cao năng suất lao động, giá trị gia tăng và mở rộng quy mô nền kinh tế.
Bên cạnh đó, quy mô nền kinh tế Việt Nam tiếp tục được mở rộng rõ nét, phản ánh sự phục hồi vững chắc và gia tăng năng lực sản xuất sau giai đoạn chịu nhiều biến động do Covid-19, chính sách thuế quan của Hoa Kỳ, biến động địa chính trị... GDP theo giá hiện hành ước đạt 12.847,6 nghìn tỷ đồng, tương đương khoảng 514 tỷ USD, tăng đáng kể so với năm 2024. GDP bình quân đầu người đạt khoảng 125,5 triệu đồng, tương đương 5.026 USD, tiếp tục được cải thiện và vượt ngưỡng 5.000 USD, cho thấy vị thế kinh tế và mức sống trung bình của Việt Nam tiếp tục được nâng lên trong khu vực.
Năng suất lao động được cải thiện
Cùng với việc mở rộng quy mô GDP và thu nhập, năng suất lao động năm 2025 tiếp tục được cải thiện, theo giá hiện hành ước đạt khoảng 245,0 triệu đồng/lao động, tương đương 9.809 USD/lao động; theo giá so sánh, năng suất lao động tăng 6,83%.
Năng suất lao động năm 2025 được cải thiện nhờ tổng hợp nhiều yếu tố mang tính nền tảng và dài hạn, phản ánh sự chuyển biến cả về chất lượng tăng trưởng lẫn hiệu quả sử dụng nguồn lực của nền kinh tế.
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực
Năm 2025, cơ cấu GDP của Việt Nam tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phản ánh sự thay đổi trong phân bổ nguồn lực giữa các khu vực kinh tế; theo giá hiện hành, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 11,64% GDP, công nghiệp và xây dựng 37,65%, dịch vụ 42,75%, và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm 7,96%. Cơ cấu này cho thấy khu vực dịch vụ tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, phù hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế có độ mở cao, gắn với mở rộng tiêu dùng, thương mại, vận tải, du lịch và các dịch vụ phục vụ SXKD trong bối cảnh đô thị hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.
Đầu tư tiếp tục là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Năm 2025, đầu tư tiếp tục là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh môi trường vĩ mô ổn định và niềm tin của các khu vực đầu tư được cải thiện. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành ước đạt 4.150,5 nghìn tỷ đồng, tăng 12,1% so với năm 2024, cho thấy quy mô đầu tư được mở rộng rõ rệt và đóng góp tích cực vào tổng cầu. Đầu tư khu vực nhà nước tăng mạnh gắn với đẩy nhanh giải ngân các dự án hạ tầng trọng điểm. Đầu tư khu vực ngoài nhà nước tiếp tục phục hồi cùng hoạt động SXKD, trong khi vốn FDI thực hiện đạt 27,62 tỷ USD, tăng 9,0%, là mức cao nhất trong 5 năm gần đây. Sự gia tăng đầu tư không chỉ hỗ trợ tăng trưởng ngắn hạn mà còn tạo nền tảng cho tăng trưởng trung hạn thông qua mở rộng năng lực sản xuất và cải thiện kết cấu hạ tầng, đồng thời, phản ánh sự phối hợp tương đối hiệu quả giữa CSTK và CSTT.
Hình 2. Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành hàng năm giai đoạn 2021 - 2025 (Nghìn tỷ đồng) 
Nguồn: Cục Thống kê
Thương mại tiếp tục cải thiện
Năm 2025, xuất khẩu tiếp tục là động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế, phản ánh mức độ hội nhập sâu của nền kinh tế. Theo sử dụng GDP, xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 16,27% so với năm 2024, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng chung. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 475,04 tỷ USD, tăng 17,0%, kim ngạch nhập khẩu đạt 455,01 tỷ USD, tăng 19,4%, đưa tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lên 930,05 tỷ USD, tăng 18,2%; cán cân thương mại hàng hóa duy trì thặng dư 20,03 tỷ USD, góp phần củng cố ổn định kinh tế vĩ mô. Mức tăng cao của nhập khẩu phản ánh nhu cầu gia tăng đối với máy móc, thiết bị và nguyên liệu phục vụ sản xuất và xuất khẩu, cho thấy mối liên kết chặt chẽ giữa thương mại và đầu tư; đồng thời, thương mại dịch vụ phục hồi mạnh, đặc biệt trong các lĩnh vực du lịch và vận tải, dù vẫn duy trì nhập siêu, qua đó cho thấy thương mại năm 2025 vừa là động lực tăng trưởng quan trọng vừa là kênh lan tỏa các biến động từ kinh tế thế giới vào nền kinh tế trong nước.
Tiêu dùng cuối cùng tiếp tục là động lực cho tăng trưởng kinh tế
Năm 2025, tiêu dùng cuối cùng tiếp tục là động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế, phản ánh sự cải thiện của thị trường lao động, thu nhập và niềm tin tiêu dùng; theo sử dụng GDP, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,95% so với năm 2024, đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung. Sức mua thực tế của dân cư được cải thiện khi thu nhập bình quân tăng cao hơn CPI, tạo nền tảng mở rộng cầu nội địa, thể hiện qua tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 7.008,9 nghìn tỷ đồng, tăng 9,2% so với năm 2024. Đáng chú ý, tiêu dùng dịch vụ tăng trưởng cao hơn tiêu dùng hàng hóa, đặc biệt ở các nhóm lưu trú, ăn uống và du lịch, phản ánh sự chuyển dịch trong cấu trúc tiêu dùng theo hướng gia tăng tỷ trọng dịch vụ, góp phần thúc đẩy tăng trưởng khu vực dịch vụ, tạo hiệu ứng lan tỏa sang các ngành liên quan.
Thu nhập và mức sống dân cư được đảm bảo
Thu nhập và mức sống dân cư năm 2025 tiếp tục được cải thiện nhờ tác động lan tỏa của tăng trưởng kinh tế và sự ổn định của thị trường lao động; thu nhập bình quân của lao động ước đạt 8,4 triệu đồng/tháng, tăng 8,9% so với năm 2024 và cao hơn tốc độ tăng CPI, cho thấy thu nhập thực tế được cải thiện, góp phần nâng cao sức mua. Thu nhập tăng tương đối đồng đều giữa các khu vực, đặc biệt ở công nghiệp và dịch vụ, trong khi thu nhập khu vực nông nghiệp cũng được cải thiện dù vẫn thấp hơn khu vực phi nông nghiệp; đồng thời, thu nhập bình quân đầu người theo khảo sát mức sống dân cư đạt khoảng 5,9 triệu đồng/tháng, tăng 9,3%. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều tiếp tục giảm còn khoảng 1,3%, giảm khoảng 1,0 điểm %, phản ánh tác động tích cực của tăng trưởng đến phúc lợi xã hội. Nhìn tổng thể, thu nhập và mức sống năm 2025 được nâng lên rõ rệt, tạo nền tảng xã hội cho ổn định vĩ mô và tăng trưởng dựa vào tiêu dùng trong nước, dù chênh lệch thu nhập giữa các nhóm và khu vực vẫn còn hiện hữu.
Tóm lại, năm 2025, Việt Nam đã đạt nhiều kết quả tích cực với kinh tế vĩ mô ổn định, tăng trưởng cao, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn được đảm bảo, quy mô nền kinh tế được mở rộng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, năng suất lao động được cải thiện… Đạt được kết quả trên là nhờ có sự chỉ đạo quyết liệt của Trung ương, Chính phủ, các bộ, cơ quan; đặc biệt là trong cải cách thể chế với nhiều quyết sách được Trung ương ban hành, từng bước tạo môi trường thuận lợi hơn cho doanh nghiệp, người dân; tăng cường tính minh bạch, nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút vốn đầu tư và thực hiện đầu tư các công trình quan trọng, tạo động lực tăng trưởng kinh tế cao trong năm 2025.
2. Những thách thức đặt ra
Bên cạnh những kết quả tích cực trong thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của Kế hoạch phát triển KTXH năm 2025, cũng cho thấy một số thách thức đặt ra trong năm 2026, cụ thể:
Một là, áp lực từ bối cảnh kinh tế thế giới với nhiều rủi ro và những yếu tố bất định. Kinh tế toàn cầu năm 2026 được dự báo tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro như tăng trưởng chậm, xung đột địa chính trị kéo dài, phân mảnh thương mại và biến động chuỗi cung ứng... Những yếu tố này có thể tác động tiêu cực đến xuất khẩu, đầu tư và dòng vốn quốc tế, qua đó, gây áp lực lên ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong bối cảnh là một nền kinh tế có độ mở lớn.
Hai là, nguy cơ lạm phát tiềm ẩn. Mặc dù lạm phát đã được kiểm soát tốt trong năm 2025, song sang năm 2026 vẫn tiềm ẩn nguy cơ gia tăng áp lực giá cả. Việc điều chỉnh giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý, biến động giá năng lượng và nguyên vật liệu thế giới, cùng với nhu cầu tiêu dùng và đầu tư phục hồi mạnh có thể tạo sức ép lên mặt bằng giá cả, gây khó khăn cho điều hành CSTT và CSKT.
Ba là, dư địa của CSTT và CSTK bị thu hẹp sau nhiều năm triển khai các chính sách hỗ trợ phục hồi và phát triển KTXH. Áp lực cân đối ngân sách, nợ công và nghĩa vụ chi NSNN sẽ ngày càng lớn trong bối cảnh thực hiện mục tiêu tăng trưởng “2 con số” giai đoạn 2026 - 2030, khiến việc mở rộng chính sách kích thích cần phải được cân nhắc thận trọng, tránh làm suy giảm ổn định vĩ mô trong trung và dài hạn.
Bốn là, rủi ro đối với hệ thống tài chính khi năm 2026 tiếp tục đối mặt với thách thức từ nợ xấu tiềm ẩn, nhất là trong bối cảnh một số lĩnh vực như bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp phục hồi chưa vững chắc. Việc bảo đảm an toàn hệ thống, kiểm soát rủi ro tín dụng và duy trì thanh khoản ổn định là yêu cầu cấp thiết đối với điều hành vĩ mô.
Năm là, chất lượng tăng trưởng chưa thật sự bền vững. Tăng trưởng vẫn còn phụ thuộc nhiều vào vốn và lao động, trong khi năng suất lao động và đổi mới sáng tạo cải thiện chưa đồng đều. Nếu không có đột phá về khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, kinh tế vĩ mô sẽ đối mặt với nguy cơ suy giảm động lực tăng trưởng trong dài hạn.
Sáu là, việc thực hiện các cam kết phát triển bền vững và giảm phát thải đặt ra yêu cầu lớn đối với nền kinh tế trong năm 2026. Quá trình chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng xanh đòi hỏi nguồn lực đầu tư lớn, trong khi năng lực thích ứng của doanh nghiệp và nền kinh tế còn hạn chế. Biến đổi khí hậu, thiên tai cực đoan cũng tiếp tục là rủi ro ảnh hưởng đến sản xuất, tiêu dùng và ổn định vĩ mô.
Bảy là, kinh tế vĩ mô năm 2026 sẽ chịu áp lực trong cải cách mạnh mẽ hơn về thể chế, môi trường kinh doanh và hiệu quả quản lý nhà nước. Nếu cải cách tiến hành chậm, các “điểm nghẽn” pháp lý, thủ tục và phân bổ nguồn lực có thể làm suy giảm hiệu quả chính sách vĩ mô và kìm hãm tăng trưởng kinh tế.
Có thể thấy, năm 2026 đặt ra nhiều thách thức đan xen cho kinh tế vĩ mô Việt Nam, từ các rủi ro bên ngoài đến những hạn chế nội tại của nền kinh tế. Việc nhận diện đúng và sớm các thách thức này là điều kiện quan trọng để xây dựng và triển khai các chính sách điều hành phù hợp, qua đó, giữ vững ổn định vĩ mô, nâng cao chất lượng tăng trưởng và tạo nền tảng cho phát triển bền vững trong giai đoạn 2026 - 2030.
3. Triển vọng và giải pháp thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế năm 2026
Năm 2026 là năm đầu tiên thực hiện Kế hoạch phát triển KTXH 5 năm 2026 - 2030, có ý nghĩa mở đầu và định hình cho cả một chu kỳ phát triển mới. Trên nền tảng những kết quả tích cực của năm 2025, kinh tế Việt Nam bước vào năm 2026 với nhiều cơ hội phát triển, song cũng đối mặt với không ít thách thức từ bối cảnh trong nước và quốc tế. Triển vọng kinh tế năm 2026 vì vậy vừa mang tính tích cực, vừa đòi hỏi sự thận trọng trong điều hành.
Triển vọng phát triển kinh tế năm 2026 được nhìn nhận trên góc độ nền tảng vĩ mô ổn định tiếp tục là lợi thế cho phát triển kinh tế năm 2026. Đây là “điểm tựa” để Chính phủ tiếp tục triển khai các chính sách thúc đẩy tăng trưởng, cải cách cơ cấu và thu hút đầu tư, đồng thời, nâng cao niềm tin của doanh nghiệp và nhà đầu tư trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, thu nhập người dân dự kiến tiếp tục cải thiện, thị trường lao động ổn định hơn sẽ thúc đẩy tiêu dùng cuối cùng. Ngoài ra, đầu tư công, đặc biệt trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, năng lượng và chuyển đổi số, tiếp tục đóng vai trò dẫn dắt, tạo hiệu ứng lan tỏa cho khu vực tư nhân và toàn nền kinh tế. Việt Nam vẫn được đánh giá là điểm đến hấp dẫn của dòng vốn đầu tư, nhất là trong bối cảnh tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu. Năm 2026, triển vọng thu hút FDI gắn với các ngành công nghệ cao, công nghiệp chế biến - chế tạo, năng lượng tái tạo và kinh tế số được đánh giá tích cực. Đồng thời, việc tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới tiếp tục mở ra cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu.
Việc tận dụng các lợi thế, triển vọng và chủ động có các giải pháp nhằm giải quyết các thách thức để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa quan trọng, cụ thể cần tập trung thực hiện các giải pháp sau:
Thứ nhất, kiên trì giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, đảm bảo cung ứng hàng hóa và kiểm soát giá cả, thị trường. Theo đó, thực hiện hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đề ra tại Nghị quyết số 244/2025/QH15 ngày 13/11/2025 của Quốc hội, Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08/01/2026 của Chính phủ. Liên tục cập nhật các kịch bản về tăng trưởng, lạm phát... để có các giải pháp điều hành chính sách phù hợp với mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Việc bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô là hết sức cần thiết, là điều kiện quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng cao trong năm 2026.
Thứ hai, hoàn thiện thể chế pháp luật nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp; đặc biệt, tập trung thể chế hóa các nghị quyết của Trung ương về phát triển kinh tế tư nhân, phát triển kinh tế Nhà nước, phát triển văn hóa...; chú trọng đầu tư phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh... đảm bảo thể chế pháp luật được đổi mới, đồng bộ trên cơ sở đổi mới mạnh mẽ tư duy, kiến tạo hệ sinh thái phát triển mới.
Thứ ba, sớm ban hành Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030; đồng thời, tập trung rà soát, tháo gỡ khó khăn trong giải ngân đầu tư công; trong đó, đẩy nhanh tiến độ bồi thường, giải phóng mặt bằng (GPMB), ưu tiên bố trí đủ kinh phí để thực hiện bồi thường, GPMB đối với phần diện tích có đủ điều kiện; tăng cường phối hợp giữa chính quyền địa phương và chủ đầu tư, ban quản lý dự án trong công tác GPMB; tập trung tháo gỡ các khó khăn liên quan đến cấp phép mỏ, khai thác vật liệu đá, cát, đất… phục vụ các dự án đầu tư công đảm bảo nhanh, hiệu quả, đúng quy định pháp luật; cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong việc xử lý thủ tục về đầu tư công.
Thứ tư, chủ động trong quản lý giá cả, thị trường; theo dõi sát diễn biến giá cả hàng hóa chiến lược, kịp thời đề xuất các biện pháp, kịch bản ứng phó phù hợp, linh hoạt, hiệu quả; thực hiện điều chỉnh giá dịch vụ công theo lộ trình thị trường và các mặt hàng do Nhà nước quản lý theo nguyên tắc thị trường. Triển khai hiệu quả việc thí điểm sàn giao dịch tài sản mã hóa.
Thứ năm, phát triển các thị trường vốn, chứng khoán trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng cho nền kinh tế. Khai thác hiệu quả cơ hội từ nâng hạng thị trường chứng khoán để thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, các quỹ đầu tư quốc tế gắn với nâng cao chất lượng quản trị, hoạt động của các công ty niêm yết. Hoàn thiện hành lang pháp lý để khai thác các xu thế mới về tài sản số, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.
Thứ sáu, thực hiện nghiêm túc cũng như đánh giá tác động thực thi các FTA, đặc biệt là cam kết trong thỏa thuận thương mại của Việt Nam với Hoa Kỳ, đồng thời chủ động, tích cực phối hợp với cơ quan thực thi, xây dựng chính sách của Hoa Kỳ nhằm duy trì mức thuế quan của quốc gia này đối với hàng hóa Việt Nam ở mức có lợi thế cạnh tranh với các nước trong khu vực, tạo thuận lợi cho tăng trưởng xuất khẩu và thu hút FDI của Việt Nam. Bên cạnh đó, cần đa dạng hóa, thúc đẩy xuất khẩu sang các thị trường khác có quy lớn, tiềm năng. Cung cấp thông tin, hỗ trợ doanh nghiệp trong các vụ kiện chống bán phá giá; tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn, ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm để mở rộng thị trường tiêu thụ, thúc đẩy xuất khẩu.
Thứ bảy, thu hút FDI có chọn lọc, ưu tiên các dự án FDI quy mô lớn, hiện đại, thân thiện với môi trường, có tác động lan tỏa, kết nối chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu. Khuyến khích chuyển giao công nghệ; tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI.
Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính
Nguồn: Trung tâm Thông tin kinh tế, tài chính và thống kê
Tài liệu tham khảo
1. Cục Thống kê (2025), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025.
2. Chính phủ (2025), Báo cáo kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 và 5 năm 2021 - 2025; dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026.
3. OECD (2025), OECD Economic Outlook, Interim Report September 2025: Finding the Right Balance in Uncertain Times, OECD Publishing, Paris.
4. Trading Economics (2025).
[1] Năm 2025 là năm có các sự kiện quốc gia trọng đại như: 95 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02); 135 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5); 50 năm Ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4); 80 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân và 20 năm Ngày hội Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc (19/8); 80 năm Quốc khánh nước CHXHCN Việt Nam (2/9).