Nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm của Đà Nẵng trong phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2030

20/08/2026 08:35


Ngày 06/4/2026, Thành ủy Đà Nẵng đã ban hành chương trình hành động số 62-CTr/TU về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo giai đoạn 2026 - 2030 trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Chương trình không chỉ đặt ra các chỉ tiêu về giảm nghèo, phát triển giao thông, hạ tầng giáo dục và y tế, mà còn hướng tới một sự chuyển đổi căn bản. Đó là, đưa miền núi từ vị trí thụ hưởng chính sách trở thành chủ thể phát triển, dựa trên lợi thế rừng, dược liệu, văn hóa, du lịch và kinh tế xanh...

Bai DT26.6

Chương trình hành động số 62-CTr/TU Đà Nẵng đang góp phần tạo dựng diện mạo mới, sức sống mới, đưa vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới và hải đảo phát triển bứt phá và toàn diện trong giai đoạn 2026 - 2030

Khơi thông những điểm nghẽn

Trước những hạn chế về hạ tầng, nguồn nhân lực và phát triển sinh kế ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới và hải đảo trên địa bàn Thành phố, Đà Nẵng cần có một chiến lược phát triển mang tính đồng bộ và dài hạn. Trong bối cảnh đó, chương trình hành động số 62-CTr/TU của Thành ủy Đà Nẵng đã xác lập định hướng chiến lược cho phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới và hải đảo trong giai đoạn phát triển mới. Giá trị cốt lõi của chương trình này không chỉ nằm ở hệ thống mục tiêu, nhiệm vụ, mà còn ở sự đổi mới tư duy phát triển. Đó là, chuyển từ hỗ trợ sang đầu tư phát triển bền vững; từ coi miền núi là địa bàn khó khăn sang xem đây là không gian phát triển giàu tiềm năng, trong đó người dân vừa là trung tâm, vừa là chủ thể của quá trình phát triển. 

Chương trình nhanh chóng được cụ thể hóa thông qua các cơ chế, chính sách của UBND và HĐND thành phố, tạo sự liên kết giữa các chương trình mục tiêu quốc gia với các chính sách về phát triển hạ tầng, sinh kế, giáo dục, y tế, bảo tồn văn hóa và ổn định dân cư. Đồng thời, chương trình xác định các mục tiêu cụ thể đến năm 2030 về phát triển hạ tầng thiết yếu, giảm nghèo bền vững, nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, nguồn nhân lực, mở rộng tiếp cận điện, nước sạch, viễn thông và chuyển đổi số, thể hiện quyết tâm lấy chất lượng cuộc sống của người dân làm thước đo hiệu quả chính sách. 

Việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025 và chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2030 đã và đang đạt nhiểu kết quả tích cực. Phần lớn các mục tiêu, chỉ tiêu cơ bản hoàn thành theo kế hoạch; hạ tầng thiết yếu tiếp tục được đầu tư; các chính sách hỗ trợ về nhà ở, sinh kế, nước sinh hoạt được triển khai hiệu quả.

Trong nửa đầu năm 2026, các chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số được thực hiện kịp thời; đời sống vật chất và tinh thần của người dân tiếp tục được nâng lên. 

Qua khảo sát, giám sát và thẩm tra, Ban Dân tộc HĐND thành phố ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực và cũng chỉ ra những vấn đề về nguồn lực, hạ tầng, sinh kế, giáo dục, y tế và năng lực tổ chức thực hiện ở cơ sở cần tiếp tục được tháo gỡ. Đây chính là căn cứ, cơ sở quan trọng để hoàn thiện cơ chế, chính sách, đưa chương trình hành động số 62-CTr/TU đi vào cuộc sống, tạo chuyển biến thực chất trong phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới và hải đảo

Mô hình phát triển kinh tế vùng dân tộc thiểu số 

Mới đây, MTTQ Việt Nam TP Đà Nẵng đã tiến hành khảo sát thực tế nhằm đánh giá hiệu quả các mô hình thay đổi “nếp nghĩ, cách làm” trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Khảo sát được thực hiện tại 11 xã miền núi trên địa bàn thành phố, tập trung ghi nhận hiện trạng, thu thập số liệu và đánh giá hiệu quả các mô hình phát triển kinh tế cũng như nhu cầu đầu tư hạ tầng giao thông thiết yếu.

Đối với nội dung thay đổi “nếp nghĩ, cách làm”. Qua khảo sát tại 6 xã (Trà Tân, Trà Linh, Thạnh Mỹ, Đông Giang, Tây Giang và Bến Hiên. Qua khảo sát) cho thấy nhiều mô hình sản xuất đã mang lại hiệu quả kinh tế rõ nét, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân. 

Trong lĩnh vực chăn nuôi, mô hình nuôi heo đen tập trung cũng mạng lại thu nhập đáng kể cho hộ gia đình có mô hình này. Một số hộ dân mạnh dạn đầu tư mô hình nuôi dúi, hươu sao theo hướng trang trại, ứng dụng đệm lót sinh học, từng bước thay đổi tập quán chăn nuôi nhỏ lẻ, tự phát. 

Ở lĩnh vực dược liệu, mô hình trồng Giảo cổ lam tại xã Trà Linh và phát triển cây ba kích tại xã Đông Giang, Tây Giang đã chuyển từ hình thức bán nguyên liệu thô sang chế biến sâu thành các sản phẩm giá trị gia tăng như rượu dược liệu, sản phẩm sấy khô, giúp nâng giá trị sản phẩm lên gấp nhiều lần. Trong khi đó, các mô hình du lịch cộng đồng tại Thạnh Mỹ và khai thác văn hóa truyền thống “Tâng tung da dá” ở Tây Giang đang góp phần tạo sinh kế mới, quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc đến du khách…

16 mô hình bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số gắn với du lịch cộng đồng

Ngày 25/8, UBND TP. Đà Nẵng đã ban hành kế hoạch về “Quy định một số cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số”.

Kế hoạch này nhằm gìn giữ, khôi phục và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời gắn kết với phát triển du lịch cộng đồng và kinh tế - xã hội địa phương.

Trong kế hoạch, Đà Nẵng đặt trọng tâm vào việc bảo tồn các giá trị văn hóa có nguy cơ mai một, xây dựng không gian văn hóa truyền thống, phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng và gắn bảo tồn văn hóa với phát triển du lịch, xây dựng đời sống văn hóa, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trong năm 2026, Đà Nẵng phấn đấu hoàn thành 100% nhiệm vụ thống kê, đánh giá các giá trị văn hóa có nguy cơ mai một, dữ liệu hóa toàn bộ các giá trị này. Đến năm 2030, thành phố đặt mục tiêu xây dựng 5 không gian văn hóa truyền thống, 16 mô hình bảo tồn gắn với du lịch cộng đồng, và mỗi xã, phường vùng đồng bào dân tộc thiểu số có ít nhất một sản phẩm văn hóa đặc trưng.

Kế hoạch đề ra 11 nhóm nhiệm vụ trọng tâm. Trong đó, công tác tuyên truyền, quán triệt Nghị định được đặt lên hàng đầu, nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp, ngành, nghệ nhân và cộng đồng dân cư.

Bên cạnh đó, Đà Nẵng sẽ rà soát, thống kê giá trị văn hóa truyền thống, xác định các giá trị có nguy cơ mai một, lập hồ sơ trình cấp thẩm quyền phê duyệt danh mục bảo tồn. Việc phát triển không gian trải nghiệm văn hóa trong trường học và khu dân cư cũng được chú trọng, tạo điều kiện cho thế hệ trẻ tiếp cận, thực hành văn hóa truyền thống.

Một điểm nhấn quan trọng trong kế hoạch của Đà Nẵng là phát huy văn hóa gắn với du lịch. Trong đó Đà Nẵng sẽ khai thác giá trị văn hóa truyền thống để phát triển du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, sản phẩm thủ công, OCOP và lưu niệm mang bản sắc dân tộc.

Các lễ hội truyền thống, hoạt động văn hóa - thể thao sẽ được tổ chức gắn với khai thác tiềm năng du lịch. Đồng thời, Đà Nẵng đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác bảo tồn, số hóa dữ liệu văn hóa bản địa, ứng dụng công nghệ để quảng bá và phát triển sản phẩm văn hóa.

Hơn nữa, kế hoạch cũng chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, phát huy vai trò nghệ nhân, người có uy tín; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, sưu tầm, tư liệu hóa. Các dự án phục hồi, bảo tồn văn hóa do cộng đồng thực hiện sẽ được hỗ trợ, khuyến khích sản xuất sản phẩm văn hóa gắn với du lịch và tạo sinh kế bền vững. Thành phố Đà Nẵng cũng huy động nguồn lực xã hội hóa, kêu gọi doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư, tài trợ, quảng bá sản phẩm văn hóa truyền thống.

Theo UBND TP. Đà Nẵng, nguồn kinh phí thực hiện kế hoạch được bảo đảm từ ngân sách nhà nước theo phân cấp, kết hợp với nguồn lực từ các chương trình mục tiêu quốc gia và xã hội hóa.

Nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm

Sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính, Đà Nẵng bước vào giai đoạn phát triển mới với không gian rộng lớn hơn. Trong đó, khu vực miền núi, biên giới và hải đảo chiếm hơn 65% diện tích tự nhiên, gồm 37 xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi với hơn 164 nghìn đồng bào các dân tộc sinh sống. Để phát triển phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới và hải đảo nhanh và bền vững hơn. Đà Nẵng xác định những nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm sau đây để phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 – 2030:

Một là, nâng cao nhận thức trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về công tác phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo.

Hai là, quy hoạch, quản lý, sử dụng hiệu quả đất đai, tài nguyên, khoáng sản, sắp xếp, ổn định dân cư vùng thiên tai.

Ba là, xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù để phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo.

Bốn là, phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa - xã hội; nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.

Năm là, phát triển nguồn nhân lực vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo và tập trung đẩy mạnh chuyển đổi số tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo.

Sáu là, phát triển sản xuất vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo thông qua các dự án phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp theo chuỗi giá trị, gắn với thích ứng biến đổi khí hậu, đẩy mạnh công tác giảm nghèo bền vững.

Bảy là, củng cố hệ thống chính trị và bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo.

Đỗ Ngát và Minh Tiến

Tài liệu tham khảo

1. Thành ủy Đà Nẵng, Chương trình hành động số 62-CTr/TU về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo giai đoạn 2026 - 2030;

2. Đảng bộ thành phố Đà Nẵng, Đà Nẵng tập trung phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới và hải đảo;

3. UBND TP. Đà Nẵng, Kế hoạch số 53/KH-UBND ngày 10/02 về triển khai Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 trên địa bàn thành phố Đà Nẵng (giai đoạn I từ năm 2026 đến 2030).