Mối quan hệ giữa khu vực kinh tế nhà nước với các khu vực kinh tế khác
07/04/2026 08:55
Kinh tế nhà nước (KTNN) là khu vực đặc biệt quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và luôn được khẳng định giữ vai trò chủ đạo. Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 06/01/2026 về phát triển KTNN (Nghị quyết số 79) được ban hành trong bối cảnh nước ta đang nỗ lực, quyết tâm đổi mới, cải cách trên nhiều lĩnh vực. Nghị quyết số 79 cùng với các Nghị quyết khác của Bộ Chính trị như Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết số 20-NQ/TW về nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể và Nghị quyết số 50-NQ/TW về hợp tác đầu tư nước ngoài được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng vững chắc để thúc đẩy phát triển cân bằng giữa các khu vực kinh tế. Vì thế, cần thiết phải nhận diện rõ mối quan hệ giữa khu vực KTNN với các khu vực kinh tế khác để từ đó thay đổi tư duy, lựa chọn các giải pháp mới, đột phá để KTNN thực sự phát huy vai trò chủ đạo, dẫn dắt sự phát triển; đồng thời, tạo sức lan toả và hiệu ứng cộng hưởng trong phát triển các khu vực kinh tế khác.

1. Mở đầu
Với bất kỳ một quốc gia nào, kể cả các nước có thị trường phát triển, KTNN luôn luôn đóng một vai trò quan trọng, không thể thiếu. Ở nước ta, KTNN được xác định là trụ cột then chốt trong phát triển kinh tế - xã hội, thể hiện rõ nét qua 80 năm xây dựng và phát triển, đặc biệt sau gần 40 năm thực hiện công cuộc Đổi mới đất nước. Vai trò chủ đạo của KTNN được khẳng định trong Hiến pháp và các văn kiện Đại hội Đảng. Theo đó, KTNN là nền tảng ổn định vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, dẫn dắt các khu vực kinh tế khác và là yếu tố cốt lõi của nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động, KTNN cũng đứng trước yêu cầu phải đổi mới để phát huy vai trò chủ thể tiên phong, có khả năng dẫn dắt và định hướng sự phát triển của các khu vực kinh tế khác và toàn nền kinh tế. Như vậy, KTNN không chỉ tiếp tục đảm nhiệm vai trò ổn định kinh tế vĩ mô mà cần trở thành “đầu tàu” trong các lĩnh vực ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược của nền kinh tế. Theo đó, KTNN cùng với khu vực kinh tế tư nhân (KTTN), kinh tế hợp tác, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự cường và có sức chống chịu cao.
Cùng với các Nghị quyết “trụ cột” về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, về phát triển kinh tế tư nhân…, ngày 06/01/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 79 về phát triển KTNN, trong đó tiếp tục khẳng định vai trò chủ đạo của KTNN; đồng thời, thể hiện rõ tư duy đổi mới mạnh mẽ về phát triển KTNN trong bối cảnh mới. Với Nghị quyết số 79, vai trò chủ đạo đã được định hướng cụ thể và toàn diện hơn; bảo đảm tính tiên phong, kiến tạo phát triển, dẫn dắt và mở đường của khu vực kinh tế này; góp phần thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ cấu lại nền kinh tế và xác lập mô hình tăng trưởng mới. Trong đó, chú trọng tiên phong, dẫn dắt trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; tạo động lực nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Nghị quyết số 79 được kỳ vọng khơi thông các điểm nghẽn, đồng thời, tạo nền tảng để phân bổ, sử dụng và phát huy hiệu quả nguồn lực của Nhà nước. Qua đó, củng cố niềm tin về sự năng động khu vực KTNN; tạo động lực thúc đẩy khu vực này hoạt động hiệu quả hơn, hiệu lực hơn, có sức cạnh tranh hơn và là đối tác quan trọng của các khu vực kinh tế khác, dẫn dắt thực hiện thắng lợi, thành công các đột phá chiến lược và mục tiêu Đảng và Nhà nước đã đề ra.
2. Kinh tế nhà nước kiến tạo, dẫn dắt, mở đường cho phát triển
Để thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao thì vai trò của các khu vực kinh tế cần được phát huy đầy đủ. Trong đó, KTNN được định hướng tiên phong kiến tạo phát triển, dẫn dắt, mở đường, thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ cấu lại nền kinh tế và xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Vì thế, thay đổi tư duy phát triển và lựa chọn các giải pháp đột phá để KTNN phát huy mạnh mẽ vai trò chủ đạo, dẫn dắt sự phát triển là nội dung quan trọng.
Với Nghị quyết số 79, lần đầu tiên nội hàm KTNN được xác định cụ thể và toàn diện. Theo đó, nền tảng KTNN bao gồm các nguồn lực do Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối, cụ thể gồm các thành tố chủ yếu: (1) Đất đai và tài nguyên; (2) Tài sản kết cấu hạ tầng; (3) Ngân sách nhà nước; (4) Dự trữ quốc gia; (5) Quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách; (6) Vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống; (7) Doanh nghiệp nhà nước (DNNN); (8) Tổ chức tín dụng nhà nước; (9) Đơn vị sự nghiệp công lập. Việc định hình rõ nội hàm khái niệm KTNN không chỉ mang ý nghĩa lý luận mà còn là yêu cầu thực tiễn, nhằm thống nhất nhận thức, khắc phục cách hiểu chung chung về KTNN, phản ánh đầy đủ hơn các nền tảng vật chất, nguồn lực và công cụ mà Nhà nước nắm giữ, quản lý và sử dụng để điều tiết nền kinh tế.
Nghị quyết số 79 đặt mục tiêu nâng cao hiệu quả, phát huy vai trò chủ đạo, tiên phong, định hướng chiến lược của KTNN trong những ngành, lĩnh vực then chốt, thiết yếu, chiến lược; dẫn dắt, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển; góp phần thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh; thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống người dân. Nghị quyết cũng xác định mục tiêu cụ thể đến năm 2030, trong đó, đáng chú ý là:
Đối với doanh nghiệp nhà nước: 50 DNNN vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á; từ 1 - 3 DNNN vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; 100% DNNN thực hiện quản trị doanh nghiệp hiện đại trên nền tảng số; 100% tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước áp dụng nguyên tắc quản trị của OECD. Đồng thời, Nghị quyết đặt mục tiêu xây dựng một số tập đoàn kinh tế, DNNN mạnh, có quy mô lớn, công nghệ hiện đại; có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế; giữ vai trò tiên phong, dẫn dắt, đặc biệt trong các lĩnh vực then chốt, chiến lược của nền kinh tế.
Đối với tổ chức tín dụng nhà nước: Ít nhất 3 ngân hàng thương mại (NHTM) Nhà nước thuộc nhóm 100 ngân hàng lớn nhất khu vực châu Á về tổng tài sản; 4 NHTM Nhà nước đi đầu, tiên phong về công nghệ, năng lực quản trị, chủ lực, chủ đạo về quy mô, thị phần, khả năng điều tiết thị trường.
Việt Nam đang bước vào chặng đường phát triển mới của đất nước trong bối cảnh, cục diện và mục tiêu mới. Nghị quyết số 79 đã thể hiện rõ nét đổi mới tư duy về phát triển KTNN; theo đó, KTNN kiến tạo, dẫn dắt, mở đường cho phát triển.
3. Mối quan hệ bổ trợ và hợp tác giữa khu vực kinh tế nhà nước và các khu vực kinh tế khác
Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động, cạnh tranh công nghệ và chuỗi cung ứng ngày càng gay gắt đặt ra những yêu cầu mới về mô hình tăng trưởng của nước ta. Theo đó, mô hình tăng trưởng mới không chỉ dừng ở việc nâng cao hiệu quả từng khu vực kinh tế riêng lẻ mà cần cấu trúc lại mối quan hệ giữa các khu vực kinh tế; nâng cao hiệu quả hợp tác, bổ trợ lẫn nhau giữa các khu vực kinh tế trong một tổng thể thống nhất. KTNN không thể bao trùm và làm thay thị trường; ngược lại, các khu vực kinh tế khác cũng không thể độc lập đảm trách những lĩnh vực then chốt, chiến lược hoặc các dự án quan trọng quốc gia, quy mô lớn. Vì vậy, mô hình tăng trưởng mới cần được xây dựng trên cơ sở một cấu trúc phát triển, trong đó KTNN và các khu vực kinh tế khác có sự phân công rõ ràng về chức năng tạo sức mạnh cộng hưởng thúc đẩy phát triển kinh tế.
Nền kinh tế Việt Nam đã hình thành cấu trúc nhiều khu vực kinh tế cùng tồn tại và phát triển. Trong cấu trúc đó, các khu vực kinh tế đều có đóng góp quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế và mở rộng không gian phát triển của đất nước. Khu vực KTNN và mối quan hệ với các khu vực kinh tế khác đã được nêu tại Hiến pháp năm 2013, trong đó tại Điều 51 nhấn mạnh: “Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”.
Tại Nghị quyết số 79, vai trò chủ đạo của KTNN tiếp tục được khẳng định. Cụ thể, “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế, định hướng chiến lược phát triển, giữ vững quốc phòng, an ninh; góp phần phát huy giá trị văn hoá và tiến bộ công bằng, an sinh xã hội; là nguồn lực quan trọng để Nhà nước chi phối, can thiệp kịp thời đáp ứng các yêu cầu đột xuất, cấp bách phát sinh”.
Với khu vực KTTN, tại Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị lần đầu nhấn mạnh KTTN là một động lực quan trọng nhất. Cụ thể, Nghị quyết khẳng định: “…kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng xanh, tuần hoàn, bền vững…”.
Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII ngày 16/6/2022 về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới nêu rõ: “Kinh tế tập thể là thành phần kinh tế quan trọng, phải được củng cố và phát triển cùng kinh tế nhà nước trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”.
Nghị quyết số 50-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 20/8/2019 về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030 xác định: “Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, được khuyến khích, tạo điều kiện phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh với các khu vực kinh tế khác. Nhà nước tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhà đầu tư; bảo đảm hài hoà lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người lao động trong doanh nghiệp”.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, KTNN và các khu vực kinh tế khác có chức năng khác nhau, nhưng có mối quan hệ bổ trợ, không tách rời nhau. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV khẳng định: “Phát huy đầy đủ chức năng, vai trò của các khu vực kinh tế. Phát triển kinh tế nhà nước hiệu quả, thật sự giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn, định hướng chiến lược và dẫn dắt nền kinh tế; phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; kinh tế hợp tác, kinh tế tập thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và các loại hình kinh tế khác giữ vai trò quan trọng”. Nghị quyết số 79 tiếp tục khẳng định quan điểm: “Kinh tế nhà nước bình đẳng trước pháp luật với các khu vực kinh tế khác, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; tiếp cận công bằng, công khai, minh bạch các nguồn lực, thị trường và cơ hội phát triển; cùng với các thành phần kinh tế trong nước, xây dựng nền kinh tế tự chủ, tự lực, tự cường, bảo đảm an ninh kinh tế, thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả”, trong đó KTNN giữ vai trò chủ đạo.
Mối quan hệ giữa KTNN với các khu vực kinh tế khác là mối quan hệ hợp tác, cạnh tranh và bổ sung lẫn nhau, thể hiện trên các khía cạnh sau:
Một là, KTNN nắm giữ, khai thác và sử dụng tài sản quốc gia, nhưng vẫn bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, tiếp cận công bằng về nguồn lực, thị trường và cơ hội phát triển với các khu vực kinh tế khác.
Hai là, KTNN là công cụ quan trọng của Nhà nước để khắc phục các khuyết tật thị trường nhằm phục vụ lợi ích toàn dân. Các khu vực kinh tế khác cùng với KTNN bảo đảm thị trường hoạt động hiệu quả và thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Ba là, KTNN tiên phong trong các ngành, lĩnh vực chiến lược, mũi nhọn, cần vốn lớn, đòi hỏi hàm lượng công nghệ cao, từ đó dẫn dắt các khu vực kinh tế khác cùng phát triển.
Có thể nói, sự tương tác giữa các khu vực kinh tế tạo thành hệ sinh thái kinh tế đa dạng, trong đó mỗi khu vực đảm nhận một vai trò riêng nhưng đồng thời, hỗ trợ và bổ sung cho nhau trong quá trình phát triển.
4. Nâng cao hiệu quả của khu vực kinh tế nhà nước trong mối quan hệ với các khu vực kinh tế khác
Mỗi khu vực đảm nhận những vai trò khác nhau nhưng có mối quan hệ tương tác chặt chẽ trong quá trình phát triển kinh tế. KTNN giữ vai trò chủ đạo, là công cụ điều tiết vĩ mô, định hướng và tạo môi trường, kết cấu hạ tầng và các yếu tố nền tảng khác cho các khu vực kinh tế tập thể, tư nhân, FDI cùng phát triển. Mối quan hệ này dựa trên nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật, cùng hợp tác, cạnh tranh lành mạnh và bổ trợ nhau; tạo động lực cộng hưởng phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì thế, phát huy đồng bộ, hiệu quả nguồn lực của các khu vực trong nền kinh tế, phù hợp với bối cảnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng và xu thế phát triển mới dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là yêu cầu cấp thiết.
Với khu vực KTNN, vai trò chủ đạo thể hiện tính chất quyết định của khu vực kinh tế này đối với phát triển quốc gia. Tuy nhiên, vai trò chủ đạo của KTNN không đồng nghĩa với việc ưu tiên về tiếp cận nguồn lực. KTNN phải tuân theo các quy luật thị trường, cạnh tranh bình đẳng, hợp tác với các khu vực kinh tế khác để khơi thông hiệu quả các nguồn lực trong nền kinh tế. Với khu vực KTNN, cần nâng cao hiệu quả phân bổ, sử dụng và khai thác nguồn lực công để mở rộng không gian phát triển, kiến tạo môi trường minh bạch và dẫn dắt trong các lĩnh vực nền tảng then chốt, nền tảng, từ đó thúc đẩy thực hiện thành công các mục tiêu về mô hình tăng trưởng mới.
Tư duy cải cách KTNN cần đi kèm với các giải pháp mới. Tại Nghị quyết số 79 đã xác định mục tiêu “Nâng cao hiệu quả, phát huy vai trò chủ đạo, tiên phong, định hướng chiến lược của kinh tế nhà nước trong những ngành, lĩnh vực then chốt, thiết yếu, chiến lược; dẫn dắt, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển…”. Theo đó, các giải pháp cũng bám sát nguyên tắc về cạnh tranh, hợp tác giữa các khu vực kinh tế, trong đó có một số giải pháp đáng chú ý như:
(i) Chú trọng xây dựng và phát triển các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, DNNN, ngân hàng thương mại nhà nước lớn, giữ vai trò tiên phong, dẫn dắt, tạo động lực thúc đẩy các ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược, có năng lực cạnh tranh khu vực và toàn cầu hoặc các ngành, lĩnh vực thiết yếu.
(ii) Phát huy vai trò của các DNNN, đơn vị sự nghiệp công lập trong mối quan hệ liên kết, hợp tác nghiên cứu, phát triển khoa học và công nghệ.
(iii) Khuyến khích DNNN đầu tư, liên kết với các doanh nghiệp khác trong chuỗi giá trị thuộc lĩnh vực kinh doanh chính hoặc các doanh nghiệp công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số nhằm hình thành các doanh nghiệp, nhóm liên kết doanh nghiệp tiên phong, dẫn dắt, làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, phát huy lợi thế, sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực xã hội, tránh chồng chéo, cạnh tranh không lành mạnh, bảo đảm lợi ích hài hoà, tạo động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
(iv) Doanh nghiệp nhà nước sử dụng các nguồn lực để chủ động dẫn dắt, kích hoạt và huy động mạnh mẽ các nguồn lực xã hội tham gia đầu tư, tạo sức lan toả và hiệu ứng cộng hưởng trong phát triển kinh tế.
(v) Khuyến khích các DNNN đẩy mạnh và tiên phong hoạt động nghiên cứu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; các tập đoàn, tổng công ty phải xây dựng, hình thành trung tâm nghiên cứu - phát triển, phòng thí nghiệm để tiên phong thực hiện chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, từng bước làm chủ công nghệ chiến lược, công nghệ lõi và tăng sức cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp; hỗ trợ các bộ, ngành, địa phương và đồng hành với các chủ thể kinh tế khác triển khai chuyển đổi số.
Nghị quyết số 79 về phát triển KTNN cùng với các Nghị quyết khác của Bộ Chính trị đã tạo nên một chỉnh thể thống nhất về tư duy và hành động chiến lược cho sự phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Vì vậy, cần triển khai các nhiệm vụ, giải pháp bài bản, thực chất, nhanh chóng, lấy hiệu quả thực tế làm tiêu chí đánh giá. Những đổi mới, cải cách được triển khai không chỉ là yêu cầu khách quan của phát triển mà còn là mệnh lệnh. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp là cơ sở cần thiết để KTNN thực sự trở thành lực kéo mạnh mẽ, tiên phong, dẫn dắt trong các ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược. Quan hệ hợp tác, bổ trợ lẫn nhau giữa các khu vực kinh tế sẽ tạo nền tảng để nước ta bứt phá.
5. Kết luận
Trong mô hình phát triển kinh tế của Việt Nam, khu vực KTNN, khu vực kinh tế tập thể, tư nhân và FDI đều giữ những vai trò quan trọng và bổ trợ lẫn nhau. Khu vực KTNN đóng vai trò chủ đạo trong việc tạo lập nền tảng và định hướng phát triển kinh tế; KTTN là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động; kinh tế tập thể là thành phần kinh tế quan trọng, cùng KTNN trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân; trong khi khu vực kinh tế FDI là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế. Chính sách phát triển kinh tế của Việt Nam hướng tới việc phát huy tối đa tiềm năng của từng khu vực kinh tế, đồng thời tăng cường sự liên kết và phối hợp giữa các khu vực nhằm xây dựng một nền kinh tế năng động, hiệu quả và bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
TS. Nguyễn Minh Thảo
Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính
Nguồn: Trung tâm Thông tin kinh tế, tài chính và thống kê
Tài liệu tham khảo
1. Quốc hội (2013), Hiến pháp năm 2013.
2. Bộ Chính trị (2019), Nghị quyết số 50-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 20/8/2019 về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030.
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022), Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII ngày 16/6/2022 về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới.
4. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
5. Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 06/01/2026 về phát triển kinh tế nhà nước.
6. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.