


Những năm gần đây, Thái Nguyên không chỉ nỗ lực giảm tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo vùng dân tộc thiểu số và miền núi mà còn chú trọng nâng cao chất lượng sống thông qua các giải pháp đồng bộ như phát triển sinh kế, tạo việc làm, đào tạo nghề cho lao động ở các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn tỉnh.
Kinh nghiệm từ thực tiễn cho thấy, hỗ trợ sinh kế và tạo việc làm có thu nhập cho lao động vùng dân tộc thiểu số và miền núi là yếu tố then chốt để vùng giảm nghèo nhanh và bền vững. Tại nhiều địa phương vùng dân tộc thiểu số và miền núi trong tỉnh, các mô hình sản xuất mới không ngừng gia tăng, từ chăn nuôi, trồng trọt đến dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp và đang mang lại hiệu quả rõ rệt.
Nhiều dự án và lao động ở các vùng dân tộc thiểu số và miền núi đã và đang được hỗ trợ phát triển như tạo sinh kế bền vững, việc làm có thu nhập và đào tạo nghề… Nhưng hỗ trợ này đang giúp cho nhiều hộ gia đình vùng dân tộc thiểu số và miền núi chủ động vươn lên phát triển kinh tế. Kết quả này phản ánh hiệu quả của việc thực hiện các chính sách của tỉnh, đồng thời cho thấy sự chuyển biến rõ nét trong tư duy và khát vọng phát triển của đồng bào các dân tộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn tỉnh nhà.

Nhờ hỗ trợ và tạo sinh kế bền vững, đời sống vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên ngày càng được cải thiện.
Theo kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2025 theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường và so với các tỉnh thuộc vùng Trung du và miền núi phía Bắc, Thái Nguyên là một trong 3 địa phương vùng Trung du và miền núi phía Bắc có tổng tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo dân tộc thiểu số (15,64%) và tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số (9,41%) thấp nhất (Sau Phú Thọ và Lạng Sơn) và là địa phương đứng đầu vùng có tỷ lệ hộ cận nghèo dân tộc thiểu số thấp nhất với 6,23%.
Tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo dân tộc thiểu số tỉnh Thái Nguyên năm 2025
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Môi trường

La Bằng là xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Nhờ liên kết tiêu thụ sản phẩm, tạo sinh kế bền vững nên các hộ trồng chè ở xã yên tâm canh tác, nâng cao chất lượng sản phẩm, cải thiện thu nhập.
Phát triển sinh kế bền vững là giải pháp quan trọng giúp vùng đồng bào dân tộc thiểu và miền núi thoát nghèo nhanh và bền vững để vươn lên phát triển

Hiện nay, tỉnh Thái Nguyên có 82 xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó có 36 xã khu vực III và 9 xã khu vực II, 37 xã khu vực I; 536 thôn đặc biệt khó khăn. Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội nói chung, sản xuất và đời sống của người dân trên địa bàn các xã vùng dân tộc thiểu số và miền núi nói riêng vẫn còn không ít khó khăn. Do đó, tỉnh đã xác định mục tiêu đến năm 2030 là giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi xuống dưới 10% và cơ bản không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn. Để góp phần hiện thực hoá các mục tiêu này, Thái Nguyên đang triển khai Đề án Hỗ trợ sinh kế cho 1.000 hộ nghèo, hộ cận nghèo để thoát nghèo bền vững. Theo kế hoạch và lộ trình thực hiện Đề án, giai đoạn 2026 - 2030, các đơn vị cấp tỉnh hỗ trợ sinh kế cho 515 hộ; các đơn vị cấp xã hỗ trợ 535 hộ nghèo, hộ cận nghèo. Trong tổng số hộ được hỗ trợ, có 65% thuộc các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Thái Nguyên - đơn vị chủ trì Đề án, được giao hỗ trợ sinh kế cho 250 hộ nghèo, hộ cận nghèo để thoát nghèo bền vững. Hội Nông dân, Hội liên Phụ nữ tỉnh, Tỉnh đoàn, Liên đoàn Lao động, mỗi đơn vị hỗ trợ 40 hộ. Các đơn vị còn lại được giao hỗ trợ từ 10 đến 35 hộ.
Trong những tháng qua, đồng loạt các tổ chức chính trị - xã hội cấp tỉnh và 100% Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã của Thái Nguyên đều triển khai thực hiện công tác hỗ trợ sinh kế cho hộ nghèo, hộ cận nghèo.

Với Liên minh Hợp tác xã (HTX) tỉnh - đơn vị được giao hỗ trợ sinh kế cho 10 hộ nghèo, cận nghèo theo Đề án đã chủ động xây dựng kế hoạch từ sớm.

Theo đó, Liên minh HTX tỉnh tạo điều kiện để chủ hộ cận nghèo tại xã Định Hóa làm việc tại các HTX trên địa bàn, với mức thu nhập ổn định khoảng 6 - 8 triệu đồng/tháng. Cùng với tạo việc làm, đơn vị khuyến khích các hộ phát triển sản xuất nông nghiệp và hỗ trợ đầu ra cho sản phẩm thông qua các HTX - “kênh” tiêu thụ ổn định.
Các HTX cũng có trách nhiệm hỗ trợ kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt, giúp người dân nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu của thị trường và bảo đảm an toàn thực phẩm.
Không chỉ Liên minh HTX tỉnh, các đơn vị cấp tỉnh, cấp xã cũng triển khai nhiều hoạt động thiết thực nhằm hỗ trợ “cần câu” cho hộ nghèo, hộ cận nghèo vươn lên. Hình thức hỗ trợ đa dạng, từ con giống như trâu, bò sinh sản đến vật tư nông nghiệp phục vụ sản xuất, phương tiện sản xuất, kinh doanh...
Bên cạnh nguồn lực trực tiếp, các hộ nghèo thuộc Đề án còn được tham gia ít nhất một hoạt động tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật, quản lý hộ gia đình phù hợp với quy mô sinh kế được hỗ trợ. Người dân cũng được tiếp cận thông tin, hướng dẫn vay vốn tín dụng ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam hoặc các chương trình vay ưu đãi do tổ chức chính trị - xã hội quản lý.
Dù mới là năm đầu thực hiện, nhưng Đề án này giàu ý nghĩa nhân văn và đang nhận được phản hồi tích cực từ người dân. Đề án đặt mục tiêu hỗ trợ ít nhất 1.000 hộ nghèo, hộ cận nghèo trong giai đoạn 2026 - 2030, với mức hỗ trợ tối thiểu 20 triệu đồng/hộ thông qua hình thức cung cấp tư liệu sản xuất như cây, con giống, vật tư, phương tiện sản xuất, cùng các giải pháp tạo việc làm, hướng dẫn kỹ thuật và kết nối vốn.

Ngày 17/7/2026, tại Kỳ họp thứ năm, Hội đồng nhân dân tỉnh Thái Nguyên khóa XV đã thông qua Nghị quyết số 62/2026/NQ-HĐND quy định mức hỗ trợ đất ở theo hình thức xen ghép và nhà ở thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2030 trên địa bàn tỉnh.
Nghị quyết được ban hành nhằm cụ thể hóa các quy định của Trung ương, tạo cơ sở pháp lý để địa phương triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ về đất ở và nhà ở đối với hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng thụ hưởng Chương trình mục tiêu quốc gia, góp phần cải thiện điều kiện sống, ổn định đời sống Nhân dân, từng bước giảm nghèo bền vững và bảo đảm an sinh xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Theo Nghị quyết, đối tượng được hỗ trợ gồm hộ đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tại địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; ưu tiên các hộ thuộc dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo và các hộ sinh sống tại khu vực có nguy cơ thiên tai, sạt lở hoặc thiếu an toàn về đất ở. Đồng thời, hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo là người dân tộc Kinh sinh sống tại các xã, thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cũng thuộc đối tượng được xem xét hỗ trợ theo quy định.

Chính sách hỗ trợ đất ở, nhà ở góp phần giúp người dân ổn định nơi ở, yên tâm lao động sản xuất. Ảnh chụp tại xã Phú Đình, tỉnh Thái Nguyên (Nguồn: Trang thông tin điện tử Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Thái Nguyên)
Về mức hỗ trợ, Nghị quyết quy định hỗ trợ đất ở theo hình thức xen ghép tối đa 60 triệu đồng/hộ; hỗ trợ xây mới nhà ở tối đa 80 triệu đồng/hộ và hỗ trợ sửa chữa nhà ở tối đa 40 triệu đồng/hộ. Nguồn kinh phí thực hiện từ ngân sách nhà nước bố trí thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia và các nguồn huy động hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, các địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh Thái Nguyên đã đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng bám sát thực tiễn, đa dạng hóa hình thức tuyên truyền và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số. Qua đó, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, giữ vững ổn định ở cơ sở.
Nhằm tiếp tục nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, giữ vững an ninh trật tự và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, UBND tỉnh Thái Nguyên đã ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án “Phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với đối tượng, địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035” trên địa bàn tỉnh.
Theo kế hoạch, giai đoạn 2026 - 2030, tỉnh sẽ tập huấn, bồi dưỡng khoảng 80 hạt nhân nòng cốt làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; phấn đấu 100% địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi xây dựng chương trình, tài liệu bồi dưỡng phù hợp; 70% chương trình, tài liệu được số hóa. Đồng thời, khoảng 50% người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, 60% người dân vùng đặc biệt khó khăn và 70% người dân thuộc nhóm dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn được phổ biến pháp luật bằng hình thức phù hợp.
Giai đoạn 2031 - 2035, tỉnh phấn đấu 100% chương trình, tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật được cập nhật, số hóa; 70% người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, 90% người dân vùng đặc biệt khó khăn và 90% người dân thuộc nhóm dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn được tiếp cận pháp luật.
Để thực hiện mục tiêu trên, tỉnh sẽ nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu, xây dựng đội ngũ hạt nhân nòng cốt tại cơ sở, đổi mới nội dung và hình thức tuyên truyền, tăng cường ứng dụng công nghệ số, phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng.
Đỗ Ngát và Nguyễn Hương
Tài liệu tham khảo
1. Thái Nguyên đẩy mạnh phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số (thainguyen.gov.vn);
2. UBND tỉnh Thái Nguyên, Kế hoạch số 262/KH-UBND thực hiện Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trên địa bàn tỉnh;
3. Nghị quyết số 62/2026/NQ-HĐND ngày 17/7/2026 của Hội đồng nhân dân tỉnh Thái Nguyên quy định mức hỗ trợ đất ở theo hình thức xen ghép và nhà ở thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2030 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên;
4. Thái Nguyên ưu tiên nguồn lực phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số (daibieunhandan.vn);
5. Kế hoạch số 92/KH-UBND thực hiện Đề án “Phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với đối tượng, địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035” trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.