Giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Tuyên Quang
21/09/2026 16:20
Là tỉnh miền núi với phần lớn là đồng bào các dân tộc thiểu số (DTTS) cùng sinh sống, Tuyên Quang sở hữu nhiều tiềm năng, lợi thế về phát triển du lịch, đặc biệt là mô hình du lịch cộng đồng bởi nhiều địa bàn vùng DTTS và miền núi của Tuyên Quang đều có sự hội tụ hài hoà giữa cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ với hệ thống di sản văn hoá phong phú, đa sắc màu và phong tục đặc sắc của các DTTS. Đây chính là "nguồn tài nguyên xanh vô tận" đã và đang tạo ra nhiều việc làm bền vững, có thu nhập ổn định, góp phần giảm nghèo nhanh và bền vững cho nhiều hộ gia đình là đồng bào các DTTS và miền núi trong tỉnh. Tuy nhiên, phát triển du lịch vùng đồng bào DTTS và miền núi thời gian qua còn chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương trong tỉnh và chưa đáp ứng được tốt với yêu cầu đưa du lịch nhanh chóng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và bền vững của tỉnh nhà. Do đó, để thúc đẩy phát triển du lịch vùng đồng bào DTTS và miền núi nhanh, bền vững hơn trong thời gian tới, cần có các giải pháp đột phá và được thực hiện đồng bộ, cùng với sự hỗ trợ phù hợp từ chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi.
Tiềm năng, thế mạnh về phát triển du lịch vùng đồng bào DTTS và miền núi
Tỉnh Tuyên Quang có 46 dân tộc cùng chung sống, trong đó khu vực miền núi tập trung nhiều DTTS như Mông, Dao, Tày, Cao Lan, Lô Lô, Sán Chay... với bản sắc văn hóa phong phú và vẻ đẹp của cảnh quan tự nhiên đa dạng. Núi cao, thung lũng, ruộng bậc thang, sông hồ, hang động và bản làng còn giữ nét nguyên sơ là điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch sinh thái, cộng đồng và trải nghiệm văn hóa bản địa. Toàn tỉnh có 72 làng văn hóa du lịch cộng đồng tiềm năng, trong đó 28 làng đủ điều kiện phục vụ khách; nhiều điểm đến như Nặm Đăm, Lô Lô Chải, thôn Tha, Nà Tông... đã và đang thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước, hình thành các mô hình du lịch gắn với đời sống đồng bào DTTS.
Bên cạnh đó, hệ thống di sản văn hóa phong phú là nguồn lực phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng. Tỉnh có 794 di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh, gồm 215 di tích xếp hạng quốc gia, 308 di tích cấp tỉnh, 3 di tích quốc gia đặc biệt và 53 di sản văn hóa phi vật thể được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Hệ thống lễ hội, đội văn nghệ quần chúng, câu lạc bộ dân ca, dân vũ cùng các giá trị văn hóa tại Tân Trào, Kim Bình và các bản làng truyền thống tạo điều kiện phát triển du lịch lịch sử, văn hóa, tham quan, trải nghiệm và biểu diễn nghệ thuật.
Đáng chú ý, nhiều giá trị văn hóa được lưu giữ trong đời sống hằng ngày có thể trực tiếp phát triển thành sản phẩm du lịch. Kiến trúc nhà ở, không gian làng bản, trang phục, nghề thủ công, ẩm thực và nông sản đặc trưng vừa thể hiện bản sắc, tri thức, kinh nghiệm truyền đời, vừa tạo trải nghiệm cho du khách. Nhà trình tường của người Mông, nhà sàn của người Tày, không gian sinh hoạt truyền thống của người Dao cùng nghề dệt lanh, dệt thổ cẩm, thêu trang phục, chạm bạc, làm khèn... có thể kết hợp với hoạt động trải nghiệm, trình diễn và bán sản phẩm. Qua đó, người dân có thêm cơ hội cung cấp dịch vụ, tiêu thụ sản phẩm địa phương, tăng thu nhập.

Đồng bào dân tộc Pà Thẻn, thôn My Bắc, xã Tân Trịnh giữ gìn nghề dệt truyền thống (Nguồn: Trang Thông tin điện tử Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Tuyên Quang)
Ngoài ra, Tuyên Quang còn có lợi thế liên kết không gian du lịch trong tỉnh và với các địa phương trong vùng. Các điểm đến như Tân Trào, Na Hang - Lâm Bình, Cao nguyên đá Đồng Văn, Hoàng Su Phì... có thể kết nối thành hành trình kết hợp lịch sử, cách mạng, sinh thái, văn hóa và trải nghiệm nông nghiệp. Liên kết điểm đến, sản phẩm giúp mở rộng hành trình, kéo dài thời gian lưu trú, nâng cao giá trị khai thác và lan tỏa lợi ích du lịch, tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện sinh kế cho đồng bào DTTS và miền núi.
Với những lợi thế trên, du lịch có điều kiện trở thành hướng phát triển sinh kế bền vững, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của đồng bào các DTTS và miền núi của Tuyên Quang.
Thành tựu đã đạt được và những hạn chế, khó khăn trong phát triển du lịch
Một số thành tựu
Những năm gần đây, du lịch Tuyên Quang có bước tăng trưởng tích cực, từng bước phát huy lợi thế về cảnh quan tự nhiên, bản sắc văn hóa và đời sống của đồng bào DTTS và miền núi để hình thành các sản phẩm du lịch, thu hút du khách và tạo nguồn thu. Năm 2025, toàn tỉnh đón 3.926.057 lượt khách, trong đó khách quốc tế đạt 546.657 lượt, tổng doanh thu từ du lịch đạt hơn 10.633 tỷ đồng. Riêng 6 tháng đầu năm 2026, tỉnh đã đón 2.093.011 lượt khách, trong đó có 406.368 lượt khách quốc tế, tổng chi tiêu của khách du lịch ước đạt 5.857 tỷ đồng.
Sức hấp dẫn của các điểm đến cũng ngày càng được khẳng định qua nhiều danh hiệu quốc gia và quốc tế. Năm 2025, Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn được World Travel Awards vinh danh là “Điểm đến văn hóa hàng đầu thế giới” và “Điểm đến văn hóa khu vực hàng đầu châu Á”; thôn Lô Lô Chải, xã Lũng Cú được Tổ chức Du lịch Thế giới (UN Tourism) công nhận là “Làng du lịch tốt nhất thế giới năm 2025”; Khu nghỉ dưỡng Panhou Retreat (xã Thông Nguyên) được vinh danh “Khu nghỉ dưỡng xanh hàng đầu châu Á”. Những ghi nhận này góp phần nâng cao vị thế và sức hấp dẫn của điểm đến, đồng thời gia tăng giá trị của cảnh quan, văn hóa bản địa và các mô hình du lịch tại vùng DTTS và miền núi của tỉnh.
Thời gian qua, nguồn lực từ Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi đã góp phần cải thiện sinh kế, nâng cao đời sống người dân, thúc đẩy phát triển vùng DTTS và miền núi, đồng thời bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc tỉnh Tuyên Quang. Trong đó, dự án về bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các DTTS gắn với phát triển du lịch tại Tuyên Quang đã hỗ trợ triển khai nhiều hoạt động như bảo tồn 7 lễ hội truyền thống, tổ chức 19 lớp tập huấn, truyền dạy văn hóa, nghiên cứu và phục hồi 3 loại hình văn hóa có nguy cơ mai một. Bên cạnh đó, các nguồn lực còn được đầu tư cho hạ tầng thiết yếu, phát triển sản xuất và hỗ trợ chuyển đổi nghề tại vùng DTTS và miền núi, góp phần cải thiện điều kiện tiếp cận điểm đến và tạo nền tảng để người dân tham gia các hoạt động dịch vụ, sản xuất, cung ứng sản phẩm du lịch.
Ở cấp địa phương, các chính sách hỗ trợ cũng tạo điều kiện để đồng bào DTTS tham gia phát triển du lịch. Nghị quyết số 23/2026/NQ-HĐND ngày 27/5/2026 của Hội đồng nhân dân tỉnh quy định một số chính sách hỗ trợ phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026 - 2030, trong đó có hỗ trợ xây dựng mới, sửa chữa cơ sở lưu trú du lịch tại cộng đồng; bảo tồn kiến trúc truyền thống; hỗ trợ đội văn nghệ dân tộc; đầu tư một số hạng mục hạ tầng tại khu, điểm du lịch và cơ sở phục vụ du khách với mức hỗ trợ xây dựng mới cơ sở lưu trú du lịch tại cộng đồng là 100 triệu đồng/cơ sở, sửa chữa 40 triệu đồng/cơ sở; hỗ trợ 100 triệu đồng cho một mái nhà lợp ngói âm dương và 70 triệu đồng cho một đội văn nghệ dân tộc tại khu, điểm du lịch. Các chính sách này góp phần bổ sung nguồn lực để người dân đầu tư cơ sở lưu trú, duy trì kiến trúc truyền thống, phát huy văn hóa dân tộc và nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch.
Các nguồn lực nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi từ CTMTQG và của tỉnh đã góp phần tạo điều kiện để đồng bào DTTS tham gia trực tiếp hơn vào hoạt động du lịch. Trên cơ sở cảnh quan, văn hóa và đời sống bản địa, người dân từng bước phát triển lưu trú, ăn uống, vận chuyển, hướng dẫn, tổ chức trải nghiệm và tiêu thụ sản phẩm địa phương. Qua đó, du lịch góp phần mở rộng cơ hội việc làm, tăng thu nhập và đa dạng hóa sinh kế cho người dân vùng DTTS và miền núi.
Hiệu quả của các chính sách và việc khai thác giá trị du lịch bản địa được thể hiện khá rõ tại thôn Lô Lô Chải, xã Lũng Cú. Với hệ thống nhà trình tường, hàng rào đá, trang phục, ẩm thực và phong tục đặc sắc, đồng bào Lô Lô đã từng bước đưa những giá trị vốn gắn với đời sống hằng ngày vào hoạt động du lịch. Người dân phát triển homestay, dịch vụ ăn uống, trải nghiệm văn hóa và bán các sản phẩm địa phương. Hiện nay, thôn Lô Lô Chải còn khoảng 40 ngôi nhà trình tường mái lợp ngói âm dương, hầu hết đã được cải tạo thành homestay phục vụ du lịch. Bên cạnh đó, các hoạt động văn hóa như biểu diễn nghệ thuật, đốt lửa trại, thêu họa tiết trang phục truyền thống cũng được tổ chức thường xuyên, thu hút đông đảo du khách. Trên 50% hộ dân trong thôn đã tham gia kinh doanh homestay. Trung bình mỗi tháng, thôn đón khoảng trên 1.000 lượt khách đến lưu trú và tham quan trải nghiệm. Đặc biệt, vào mùa hoa tam giác mạch, các homestay thường xuyên quá tải do đón một lượng lớn du khách.

Kiến trúc nhà trình tường, mái ngói âm dương tạo nên nét đặc trưng của Lô Lô Chải - “Làng du lịch tốt nhất thế giới năm 2025” (Nguồn: Trang Thông tin điện tử Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Tuyên Quang)
Tại xã Thông Nguyên, du lịch tạo thêm việc làm cho người dân địa phương, trong đó có đồng bào DTTS, đồng thời thúc đẩy các hoạt động dịch vụ liên quan. Các điểm đến như ruộng bậc thang Thông Nguyên, làng du lịch cộng đồng Nậm Hồng và vùng chè Shan Tuyết Phìn Hồ thu hút người dân tham gia kinh doanh homestay, vận chuyển, hướng dẫn, ăn uống và tổ chức các hoạt động trải nghiệm nông nghiệp, văn hóa. Năm 2025, Thông Nguyên đón khoảng 15.000 lượt khách, doanh thu từ du lịch đạt trên 20 tỷ đồng; riêng 3 tháng đầu năm 2026, doanh thu ước trên 3 tỷ đồng. Dịch vụ vận chuyển từng bước hình thành với 3 đội phục vụ du khách, sử dụng khoảng 50 xe máy. Hoạt động du lịch hiện tạo việc làm cho khoảng 120 lao động trực tiếp và 200 lao động gián tiếp. Điều này cho thấy du lịch đã tạo thêm cơ hội việc làm và thu nhập cho đồng bào DTTS, đồng thời mở rộng sinh kế sang nhiều khâu dịch vụ thay vì chỉ tập trung ở cơ sở lưu trú.
Tại xã Tân Trào, hoạt động du lịch đang tạo thêm việc làm và thu nhập cho các hộ dân trên cơ sở khai thác không gian văn hóa và sản xuất của đồng bào Tày. Làng Văn hóa du lịch Tân Lập nằm trong không gian Khu di tích quốc gia đặc biệt Tân Trào đang phát triển mô hình homestay gắn với những ngôi nhà sàn truyền thống và đời sống của người DTTS. Toàn xã có trên 80 hộ hoạt động trong lĩnh vực du lịch, trong đó 19 hộ phát triển homestay và hơn 60 hộ kinh doanh các dịch vụ phụ trợ. Các hộ đồng bào DTTS không chỉ cung cấp chỗ ở, ăn uống mà còn trực tiếp tổ chức các hoạt động trải nghiệm gắn với đời sống sản xuất như xay lúa, giã gạo, cày ruộng, bắt cá, trồng cây, chế biến và thưởng thức nông sản. Sản xuất nông nghiệp, văn hóa và đời sống vì vậy được đưa vào sản phẩm du lịch, giúp các hộ có thêm nguồn thu, tạo việc làm tại chỗ và đa dạng hóa sinh kế.

Nét đẹp văn hóa truyền thống góp phần tạo nên sức hấp dẫn của du lịch Tuyên Quang (Nguồn: Trang Thông tin điện tử Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Tuyên Quang)
Những kết quả đạt được trên có sự đóng góp của nguồn lực từ CTMTQG, trong đó có nội dung về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi, cùng sự hỗ trợ của tỉnh và sự chủ động của người dân. Qua đó, góp phần bảo tồn, phát huy văn hóa truyền thống, phát triển sản phẩm, dịch vụ du lịch, tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện sinh kế cho đồng bào DTTS.
Một số khó khăn
Bên cạnh những kết quả đạt được, phát triển du lịch tại vùng đồng bào DTTS và miền núi tỉnh Tuyên Quang vẫn còn một số hạn chế. Hạ tầng và cơ sở vật chất tại một số địa bàn chưa đồng bộ; giao thông, điện, nước, viễn thông và cơ sở lưu trú còn bất cập, ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ và khả năng mở rộng hoạt động du lịch.
Năng lực cung cấp dịch vụ của các hộ đồng bào DTTS chưa đồng đều. Nhiều hộ mới tham gia du lịch còn hạn chế về kỹ năng phục vụ, tổ chức dịch vụ, quảng bá, ứng dụng công nghệ và ngoại ngữ; quy mô kinh doanh nhỏ, khả năng đầu tư, nâng cấp cơ sở lưu trú còn hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ và thu nhập.
Sản phẩm du lịch tại một số địa bàn chưa đa dạng, giá trị gia tăng chưa cao. Việc khai thác văn hóa, ẩm thực, nghề truyền thống và nông sản còn thiên về các dịch vụ đơn lẻ, chưa hình thành nhiều sản phẩm đặc trưng, giàu trải nghiệm và có khả năng giữ chân du khách, khiến giá trị kinh tế từ nguồn lực của đồng bào chưa tương xứng với tiềm năng.
Liên kết trong chuỗi du lịch còn hạn chế. Người dân chủ yếu cung cấp dịch vụ riêng lẻ, chưa tham gia sâu vào xây dựng tour, quảng bá, phân phối và bán sản phẩm trên các nền tảng trực tuyến, qua đó hạn chế khả năng mở rộng thị trường và gia tăng phần giá trị được hưởng.
Việc khai thác tài nguyên du lịch cũng cần được thực hiện phù hợp, bảo đảm hài hòa giữa phát triển du lịch, tạo sinh kế cho đồng bào DTTS với bảo tồn bản sắc văn hóa, cảnh quan và môi trường vùng DTTS và miền núi.
Giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Để du lịch thực sự sớm trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và là một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung và tạo sinh kế bền vững, mang lại nguồn thu nhập đáng kể, ổn định cho đồng bào DTTS và miền núi nói riêng. Các cấp, các ngành tỉnh Tuyên Quang và chính quyền các xã thuộc vùng DTTS và miền núi có tiềm năng, thế mạnh về phát triển du lịch có thể tham khảo một số giải pháp chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện cơ sở vật chất và các điều kiện phục vụ phát triển du lịch tại vùng đồng bào DTTS và miền núi. Lồng ghép, sử dụng hiệu quả nguồn lực từ CTMTQG xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2026-2030 để hỗ trợ phát triển hạ tầng, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, cải thiện sinh kế và nâng cao năng lực cho người dân gắn với phát triển du lịch. Đồng thời, triển khai hiệu quả các chính sách hỗ trợ của tỉnh để các hộ dân đầu tư, nâng cấp homestay, bảo tồn kiến trúc truyền thống và cải thiện điều kiện phục vụ du khách, qua đó nâng cao chất lượng điểm đến và khả năng tạo thu nhập tại chỗ.
Thứ hai, nâng cao năng lực và chất lượng dịch vụ của các hộ đồng bào DTTS. Việc hỗ trợ cần gắn với đào tạo kỹ năng quản lý và vận hành homestay, chế biến và phục vụ ẩm thực, giao tiếp, thuyết minh, ngoại ngữ, quảng bá và ứng dụng công nghệ. Khuyến khích các hộ liên kết thành tổ hợp tác, hợp tác xã hoặc nhóm hộ để chia sẻ kinh nghiệm, thống nhất chất lượng dịch vụ và nâng cao khả năng đáp ứng các đoàn khách, tour du lịch. Qua đó, tăng khả năng tham gia trực tiếp và nâng cao thu nhập của đồng bào DTTS từ hoạt động du lịch.
Thứ ba, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa gắn với phát triển sản phẩm du lịch. Thực hiện hiệu quả Đề án “Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang gắn với phát triển du lịch giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2035”, tập trung vào phục hồi lễ hội truyền thống, truyền dạy dân ca, dân vũ, nhạc cụ và nghề thủ công, bảo tồn trang phục và xây dựng các mô hình làng văn hóa gắn với du lịch. Trên cơ sở đó, phát triển các sản phẩm trải nghiệm gắn với ẩm thực, nghề thủ công, sản xuất nông nghiệp, lễ hội, chợ phiên và đời sống của đồng bào DTTS; đồng thời tăng liên kết với sản phẩm OCOP, nông sản, đặc sản và hàng thủ công để tạo thêm việc làm và thu nhập cho người dân.
Thứ tư, tăng cường liên kết và mở rộng thị trường du lịch. Kết nối các điểm du lịch lịch sử - cách mạng, sinh thái, văn hóa và cộng đồng thành các tuyến, hành trình có tính bổ trợ, qua đó kéo dài thời gian lưu trú và mở rộng khả năng chi tiêu của du khách. Tăng cường liên kết giữa các hộ đồng bào DTTS với doanh nghiệp lữ hành, cơ sở lưu trú và các đơn vị cung cấp dịch vụ để người dân tham gia sâu hơn vào quá trình xây dựng, quảng bá và phân phối sản phẩm. Đồng thời, hỗ trợ các hộ ứng dụng nền tảng đặt phòng, thanh toán điện tử, mạng xã hội và các kênh trực tuyến để tiếp cận khách hàng và mở rộng thị trường.
Thứ năm, gắn phát triển du lịch với bảo vệ cảnh quan, môi trường và gìn giữ không gian văn hóa vùng đồng bào DTTS và miền núi. Khuyến khích các điểm du lịch, cơ sở lưu trú và hộ kinh doanh thực hiện các giải pháp giảm rác thải, sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo đảm vệ sinh môi trường và giữ gìn cảnh quan. Đồng thời, bảo tồn nhà truyền thống, trang phục, nghề thủ công, ẩm thực, lễ hội và các giá trị văn hóa bản địa theo hướng phù hợp với đời sống của đồng bào, tránh khai thác quá mức hoặc làm mất đi tính đặc trưng của điểm đến. Qua đó, bảo đảm hoạt động du lịch tạo sinh kế nhưng vẫn duy trì được các giá trị tự nhiên và văn hóa lâu dài.
ThS. Phạm Thị Quỳnh Trang
Tài liệu tham khảo
1. HĐND tỉnh Tuyên Quang (2026), Nghị quyết số 23/2026/NQ-HĐND ngày 27/5/2026 quy định một số chính sách hỗ trợ phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2026 - 2030;
2. UBND tỉnh Tuyên Quang (2026), Quyết định số 1700/QĐ-UBND ngày 30/6/2026 ban hành Đề án “Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang gắn với phát triển du lịch giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2035”;
3. Cổng Thông tin điện tử tỉnh Tuyên Quang (2025), Thôn Lô Lô Chải được UN Tourism vinh danh “Làng du lịch tốt nhất năm 2025”;
4. Báo Tuyên Quang (2025), Vành đai văn hóa soi sáng biên cương - Kỳ cuối: Tôi “sợi thép” văn hóa, giữ chủ quyền dân tộc;
5. Cổng Thông tin điện tử Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2026), Tuyên Quang đón hơn 2 triệu lượt khách du lịch trong 6 tháng đầu năm.