



Được xác định là chương trình mục tiêu quốc gia có quy mô lớn dành riêng cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, giai đoạn 2021-2025 được bố trí tổng nguồn lực trên 137 nghìn tỷ đồng. Đây là bước đi thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Sau 5 năm thực hiện, chương trình đã mang lại những kết quả tích cực, góp phần thay đổi diện mạo các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong cả nước. Những công trình giao thông, hạ tầng y tế, giáo dục, điện, nước sạch đã được xây dựng đang góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi với khu vực trung tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thương, phát triển sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống của bà con các dân tộc thiểu số.
Đặc biệt, công tác giảm nghèo đã đạt kết quả rất ấn tượng như tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số đều đã giảm mạnh qua các năm, thu nhập bình quân đầu người của đồng bào dân tộc thiểu số cũng ngày càng được cải thiện. Những kết quả này cho thấy hiệu quả rõ rệt của các chính sách, dự án trong phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của nước ta. Hình 1 dưới đây cho thấy, tổng số hộ nghèo dân tộc thiểu số năm 2023 là 545.589 hộ đã giảm xuống còn 413.910 hộ năm 2024 và đến hết năm 2025 giảm xuống còn 331.002 hộ. Đáng chú ý, tổng số hộ dân tộc thiểu số năm 2025 nhiều hơn các năm 2023 – 2024 nhưng số hộ nghèo dân tộc thiểu số lại ít nhất.
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Đạt được những thành tựu về giảm hộ nghèo nhanh như đã nêu trên, có sự đóng góp không nhỏ từ các chính sách hỗ trợ sản xuất, đào tạo nghề và tạo sinh kế cho mỗi vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi ở nước ta. Nhờ đó, nhiều hộ đã chủ động phát triển sản xuất theo hướng hàng hóa, áp dụng khoa học kỹ thuật và liên kết chuỗi giá trị, từng bước xóa bỏ tư tưởng trông chờ, ỷ lại, hướng tới trở thành hộ khá, hộ giàu.
Như vậy, có thể thấy trong công tác giảm nghèo, không chỉ hỗ trợ nguồn lực, các địa phương còn chú trọng khơi dậy ý chí vươn lên, phát huy nội lực của người dân thông qua các mô hình sản xuất phù hợp, tạo sinh kế ổn định, góp phần thúc đẩy giảm nghèo nhanh và bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Hình 2 trên cũng cho thấy tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số cũng đã giảm mạnh, từ mức 16,50% năm 2023 đã giảm xuống còn 9,71% năm 2025 (giảm 6,79%).

Ông Y Drim Ktul ở buôn Buôr, xã Cư Jút, tỉnh Lâm Đồng được nhiều người biết đến là một trong những nông dân tiêu biểu của địa phương. Trước đây, gia đình ông thuộc diện khó khăn, đã thôi thúc ông quyết tâm tìm hướng đi mới để phát triển kinh tế. Nhờ đó, gia đình ông hiện đang sở hữu hơn 3 ha cà phê, hồ tiêu cùng đàn bò sinh sản, mang lại nguồn thu nhập trên 1 tỷ đồng mỗi năm. Không dừng lại ở đó, ông còn đầu tư hệ thống máy sấy, máy xay cà phê, từng bước nâng cao giá trị sản phẩm thông qua chế biến sau thu hoạch.

Một tấm gương khác là ông Lò Văn Yên, Trưởng bản Huổi Lọng, xã Chiềng La, tỉnh Sơn La đã nỗ lực cùng bà con xoá “5 không” cho bản.
Bản có 192 hộ, chủ yếu là dân tộc La Ha, nơi đây đang đổi thay từng ngày bởi Huổi Lọng từng được gọi là “bản 5 không”: Không điện lưới, không đường ô tô, không nước sạch, không sóng điện thoại, không trường học kiên cố.
Là người con sinh ra và lớn lên ở Huổi Lọng, Trưởng bản Lò Văn Yên hiểu rõ những khó khăn mà người dân nơi đây đã từng phải đối mặt. Cuộc sống của bà con trước đây chủ yếu dựa vào nương ngô, nương sắn; phương thức sản xuất còn manh mún, chăn nuôi nhỏ lẻ, nhiều gia đình vẫn giữ tập quán nuôi gia súc dưới gầm nhà sàn khiến hành trình thoát nghèo của người dân trong bản gian nan. Nhưng đó là chuyện của quá khứ. Còn hiện nay, Huổi Lọng đang từng ngày càng thay da đổi thịt. Cụ thể là:
Thu nhập bình quân đầu người khoảng 13 triệu đồng/người ở năm 2022 đã tăng lên khoảng 21,5 triệu đồng/người ở năm 2025. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 32,25% năm 2022 xuống còn 13,02% năm 2025. Từ năm 2023 đến nay, bản không còn hộ thiếu đói.
Huổi Lọng đạt được những thành tựu như trên có sự đóng góp đáng kể của trưởng bản Lò Văn Yên.
Là một tấm gương sáng về làm kinh tế giỏi ở địa phương, luôn đổi mới cách nghĩ, cách làm, xây dựng các sản phẩm OCCOP. Đó là bà Tống Thị Phách, dân tộc Thái, bản Nậm Củm, xã Mường Tè, tỉnh Lai Châu đã vinh dự được vinh danh tại Đại hội thi đua yêu nước tỉnh Lai Châu năm 2025.
Gia đình bà đã tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng, phát triển kinh tế gia đình theo mô hình sản xuất nông nghiệp: Trồng mía, trồng quế, trồng cây ăn quả, chăn nuôi gia súc, gia cầm, ao cá, nuôi lợn đen; sản xuất sản phẩm nông nghiệp sạch.
Nông dân Lò Văn Giót, bản Hỏm Hốc, xã Mường Mùn, tỉnh Điện Biên là một người nông dân cần cù, luôn đi đầu trong các phong trào phát triển kinh tế hộ gia đình.

Không cam chịu đói nghèo, nhiều nông dân vùng cao trên địa bàn tỉnh Điện Biên đã mạnh dạn thay đổi nếp nghĩ, cách làm, đưa cây mắc ca, cà phê và chăn nuôi đại gia súc vào phát triển kinh tế. Điển hình là ông Lò Văn Giót như đã nêu. Với suy nghĩ phải làm giàu ngay trên mảnh đất quê hương, ông Giót cùng gia đình từng bước xây dựng mô hình kinh tế tổng hợp theo hướng “vườn - ao - chuồng”. Từ diện tích ao cá 3.000m2 ban đầu, để chủ động nguồn giống, ông Giót tiếp tục đào thêm 2 ao mới, nâng tổng diện tích mặt nước lên khoảng 7.000m2 để vừa ươm cá giống, vừa nuôi cá thương phẩm. Nguồn thu từ nuôi cá giúp kinh tế gia đình ông Giót từng bước khởi sắc, tạo điều kiện đầu tư chuồng trại, phát triển thêm chăn nuôi, gà, vịt, bò sinh sản. Hiện gia đình duy trì nuôi 5 con bò sinh sản, hơn 200 con gia cầm, 7.000m² ao cá.
Năm 2021 thực hiện chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng của xã, gia đình ông Giót là một trong những hộ đầu tiên của xã Mường Mùn chuyển đổi 2,5ha đất trồng ngô, sắn kém hiệu quả sang trồng cây ăn quả: Nhãn, bưởi và trồng xen cà phê, mắc ca. Nhờ áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, mô hình kinh tế tổng hợp của gia đình ông mang lại nguồn thu ổn định trên 300 triệu đồng mỗi năm. Nhận thấy việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao, năm 2026, gia đình ông tiếp tục chuyển đổi gần 6ha đất trồng sắn sang trồng cà phê và mắc ca.
Ông Lò Văn Giót cho biết: “Muốn nâng cao thu nhập thì phải mạnh dạn thay đổi tư duy sản xuất, lựa chọn những cây trồng phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của địa phương và nhu cầu của thị trường”.

Đà vững chắc cho giảm nghèo nhanh và bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi ở nước ta trong thời gian tới có nhiều yếu tố cấu thành. Trong đó phải kể đến:
Thứ nhất, những thành tựu lớn đã đạt được trong giảm nhanh hộ nghèo dân tộc thiểu số của nước ta thời gian qua như đã nêu trên và những tồn tại, khó khăn trong thực hiện với tư cách là nền tảng, căn cứ thực tiễn quan trọng giúp cho việc hoàn thiện các chính sách phát triển phù hợp, hiệu quả hơn để phát huy những thành tựu đã đạt được và khắc phục những tồn tại, khó khăn đã gặp phải để có thể không bị lặp lại trong thời gian tới.
Thứ hai, việc vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp ngày càng hiệu quả và thực chất hơn để đưa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như của địa phương đến nhanh với người dân hơn. Trong đó có chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở các địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nói chung, công tác giảm nghèo nói riêng.

Thứ ba, bước sang năm 2026, năm đầu của giai đoạn mới về phát triển kinh tế - xã hội của nước ta và cũng là năm đầu tiên thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia được tích hợp từ các chương trình mục tiêu quốc gia trước đây, trong đó có nội dung về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035, giai đoạn I: từ năm 2026 đến năm 2030. Đây cũng được coi là một trong nhưng yêu tố quan trọng, tạo thuận lợi hơn cho phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nói chung, việc giảm nghèo nhanh ở vùng sâu, vùng xa ở nước ta nói riêng. Theo Bộ Dân tộc và Tôn giáo, giai đoạn 2026 - 2035 là thời kỳ bứt phá để thu hẹp khoảng cách phát triển giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số với mặt bằng chung của cả nước.
Như vậy, có thể thấy, việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được chú trọng hơn sẽ góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và thu hẹp dần khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, đưa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tiến cùng nhịp bước với sự phát triển chung của đất nước.
TS. Nguyễn Văn Thuật
Đỗ Thị Ngát