Vai trò của tăng năng suất lao động đối với tăng trưởng kinh tế cao và bền vững ở nước ta trong giai đoạn 2026 - 2030
08/04/2026 09:35
Để tăng trưởng kinh tế của nước ta đạt từ 10%/năm trong giai đoạn 2026 - 2030, lao động giá rẻ, vốn và tài nguyên chắc chẵn sẽ không còn là lợi thế, động lực chính cho tăng trưởng, mà phải dựa vào tăng năng suất lao động - coi đây không chỉ là động lực chủ đạo, mà còn là yêu cầu tất yếu, nhiệm vụ cấp thiết có tính quyết định để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng mà nước ta đã đề ra cho giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030.

Năng suất lao động của nước ta thời gian qua
Trong những năm gần đây, nước ta đã có nhiều nỗ lực trong việc nâng cao năng suất lao động, nhờ đó năng suất lao động đã có những cải thiện đáng kể cả về giá trị và tốc độ. Cụ thể như sau:
Năm 2023, năng suất lao động của toàn nền kinh tế theo giá hiện hành đạt 201 triệu đồng/lao động (tương đương 8.383 USD, tăng 274 USD so với năm 2022); theo giá so sánh, năng suất lao động tăng 3,65%.
Sang năm 2024, năng suất lao động đạt 222 triệu đồng/lao động (tương đương 9.182 USD/lao động, tăng 726 USD so với năm 2023); theo giá so sánh, năng suất lao động tăng 5,88%.
Đến năm 2025, năng suất lao động ước đạt 245 triệu đồng/lao động (tương đương 9.809 USD/lao động, tăng 626 USD so với năm 2024); theo giá so sánh, năng suất lao động tăng 6,83%.
Mặc dù năng suất lao động và tốc độ tăng đã và đang ngày càng được cải thiện, năm sau cao hơn năm trước. Tuy nhiên, với mức cải thiện như vậy được cho là vẫn còn thấp và có khoảng cách khá xa so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Cụ thể, năng suất lao động của nước ta hiện nay ước tính chỉ bằng khoảng 60% Thái Lan, 40% Malaysia và chưa bằng 1/10 so với Singapore... Nghiên cứu cho thấy, năng suất lao động của nước ta còn thấp là do những nguyên nhân chủ yếu sau đây:
Một là, cơ cấu lao động theo ngành kinh tế chưa hợp lý và còn bất cập: Quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động trong thời gian qua mặc dù diễn ra khá nhanh nhưng đến nay lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản còn lớn. Ước tính năm 2025 là 13,5 triệu người, chiếm 25,7% trong tổng số lao động có việc làm, trong khi năng suất lao động của khu vực này chỉ bằng hơn 43% mức năng suất lao động chung của toàn nền kinh tế bởi vì đa số lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là lao động giản đơn, công việc có tính thời vụ, không ổn định, tạo ra giá trị gia tăng thấp. Bên cạnh đó, quá trình chuyển dịch cơ cấu, lao động ra khỏi khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chủ yếu chuyển sang làm việc trong các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có năng suất thấp, hoặc chuyển sang các ngành dịch vụ có thu nhập thấp nên tác động không đáng kể tới việc thúc đẩy tăng năng suất lao động chung của nền kinh tế.
Hai là, chưa phát huy được vai trò chủ đạo của năng suất lao động nội ngành bởi kinh tế nước ta chưa có sự thay đổi đáng kể trong bản chất tăng trưởng của từng ngành; tăng trưởng kinh tế chủ yếu vẫn dựa vào việc mở rộng quy mô của các ngành sử dụng nhiều lao động, hàm lượng công nghệ thấp, vì vậy mục tiêu tăng nhanh giá trị gia tăng của sản phẩm chưa đạt được.
Đặc biệt, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đóng vai trò động lực phát triển, đồng thời dẫn dắt tăng năng suất lao động của nền kinh tế nhưng lại tập trung cao ở những ngành tạo ra sản phẩm xuất khẩu dựa trên nền tảng công nghệ thấp và trung bình. Trong khi đó, các ngành sản xuất có công nghệ cao tập trung ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài lại hoạt động theo phương thức nhập khẩu linh kiện, tận dụng lao động giá rẻ, tiến hành gia công lắp ráp, tác động lan tỏa đối với khu vực sản xuất trong nước chưa nhiều nên giá trị tăng thêm tạo ra ở trong nước tương đối thấp, chưa tạo đột phá về tăng năng suất lao động.
Ba là, năng suất lao động trong khu vực doanh nghiệp thấp, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân.
Với tốc độ tăng còn chậm và khoảng cách còn xa so với các nước như đã nêu, việc thu hẹp và tiến tới lấp bằng khoảng cách là rất khó, nếu không có sự đầu tư thích đáng và chiến lược cụ thể.
Giải pháp nâng cao năng suất lao động
Cải thiện và thúc đẩy năng suất lao động là một trong những vấn đề cốt lõi đối với nền kinh tế nước ta, có ý nghĩa quan trọng đối với thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững và là điều kiện tiên quyết giúp nước ta thu hẹp trình độ phát triển so với các nước trong khu vực và đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số trong giai đoạn 2026 - 2030, cũng như nâng cao năng lực thích ứng với xu thế toàn cầu và đảm bảo đủ sức chống chọi với các cú sốc từ bên ngoài. Ý nghĩa của tăng năng suất lao động đối với tăng trưởng kinh tế nước ta càng trở nên quan trọng hơn khi các yếu tố đầu vào như vốn, đất đai, tài nguyên trở nên ngày càng khan hiếm, nguồn lao động đang bị ảnh hưởng bởi tốc độ già hóa dân số của nước ta đang diễn ra rất nhanh. Dưới đây là một số giải pháp nâng cao năng suất lao động đối với nước ta:
Trước hết, nâng cao năng suất lao động phụ thuộc rất nhiều vào trình độ, năng lực, kỹ năng và chuyên môn của người lao động. Vì vậy, giáo dục cho người dân, mở rộng độ bao phủ, phổ cập giáo dục và nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao phải là ưu tiên hàng đầu đối với nước ta trong giai đoạn phát triển mới. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh đào tạo nghề cho người lao động theo nhu cầu của thị trường lao động. Điều này không chỉ tạo việc làm ổn định cho người lao động, mà qua đó còn góp phần giảm mạnh tỷ lệ lao động thiếu việc làm và lao động phi chính thức ở nước ta.
Thứ hai, tập trung phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, đi tắt, đón đầu, đặc biệt là tự động hóa dây chuyền sản xuất, số hóa sản xuất và kinh doanh.
Thứ ba, chú trọng tăng lương cho người lao động. Điều này tất yếu sẽ tăng năng suất lao động. Khi tiền lương tăng giúp cho người lao động yên tâm làm việc, qua đó góp phần tăng năng suất lao động bởi khi công sức của người lao động được trân trọng, được ghi nhận, người lao động sẽ cống hiến nhiều hơn, làm việc sáng tạo hơn, đóng góp tốt hơn vào sự phát triển và thành công của doanh nghiệp và của đơn vị, tổ chức.
NVT
Nguồn: Trung tâm Thông tin kinh tế, tài chính và thống kê