Giải pháp đảm bảo an sinh xã hội cho người cao tuổi ở Việt Nam
13/05/2026 15:25
Bảo đảm an sinh xã hội cho người cao tuổi là nhiệm vụ quan trọng, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, có tác động lớn đến sự ổn định và phát triển của xã hội. Thời gian qua, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong việc chăm lo cho người cao tuổi. Số lượng người cao tuổi có bảo hiểm y tế ngày càng tăng, nhiều chính sách trợ cấp được triển khai, hệ thống chăm sóc sức khỏe từng bước được cải thiện... Tuy nhiên, vẫn còn không ít hạn chế nhất định như tỷ lệ người có lương hưu còn thấp, mức trợ cấp chưa đáp ứng nhu cầu sống, dịch vụ chăm sóc còn thiếu và chưa đồng bộ... Vì vậy, trong bối cảnh già hóa dân số ngày càng nhanh, Việt Nam cần có những giải pháp thiết thực và được triển khai đồng bộ nhằm đảm bảo an sinh xã hội cho người cao tuổi thời gian tới.
Thực trạng an sinh xã hội cho người cao tuổi ở Việt Nam thời gian qua
Kết quả đạt được
Đảm bảo an sinh xã hội cho người cao tuổi có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ đối với bản thân người cao tuổi mà còn đối với gia đình và toàn xã hội. Thời gian qua Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, không ngừng hoàn thiện những chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), trợ giúp xã hội... nhằm đảm bảo an sinh cho người cao tuổi, cụ thể:
Hội nghị lần thứ VII Ban Chấp hành Trung ương khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 về cải cách chính sách BHXH. Nghị quyết đã nhấn mạnh việc từng bước bảo đảm để mọi người dân khi hết tuổi lao động đều có lương hưu, trợ cấp BHXH hoặc trợ cấp xã hội. Định hướng này đã được cụ thể hóa mạnh mẽ trong Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã đánh dấu bước phát triển quan trọng trong tư duy chính sách an sinh của Việt Nam. Từ đó đã xác định mục tiêu xây dựng hệ thống BHXH đa tầng theo hướng bao phủ toàn dân của Việt Nam thời gian tới.
Tiếp theo đó, Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15 ngày 29/6/2024 của Quốc hội đã tạo bước tiến quan trọng khi lần đầu tiên thiết lập chế độ trợ cấp hưu trí xã hội nhằm bảo đảm thu nhập tối thiểu cho người cao tuổi không có lương hưu. Theo quy định của Luật, từ 01/7/2025, công dân Việt Nam từ đủ 75 tuổi trở lên, không hưởng lương hưu hoặc trợ cấp BHXH hằng tháng, sẽ được Nhà nước chi trả trợ cấp hưu trí xã hội định kỳ. Hiện nay, cả nước có hơn 2,4 triệu người cao tuổi đang hưởng trợ cấp xã hội và hưu trí xã hội hằng tháng với tổng chi ngân sách nhà nước là gần 7.000 tỷ đồng. Đồng thời, nhằm tăng cường bảo vệ nhóm người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn thuộc hộ nghèo hoặc cận nghèo, chính sách cũng mở rộng diện thụ hưởng đối với người từ đủ 70 đến dưới 75 tuổi. Từ đó tạo điểm tựa tài chính cơ bản cho người cao tuổi, góp phần giảm nguy cơ nghèo đói, bảo đảm an sinh bền vững cho người cao tuổi.
Ngoài những chính sách bảo đảm thu nhập cho người cao tuổi, chăm sóc sức khỏe cũng là trụ cột quan trọng của hệ thống an sinh dành cho người cao tuổi. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế số 51/2024/ QH15 ngày 27/11/2024 của Quốc hội và các văn bản hướng dẫn đã mang đến nhiều chế độ ưu tiên cho người cao tuổi. Người từ đủ 80 tuổi trở lên đang hưởng trợ cấp xã hội được ngân sách Nhà nước đóng BHYT; người hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hằng tháng được hưởng mức quyền lợi cao khi khám chữa bệnh. Vì vậy, số lượng người cao tuổi có BHYT ngày càng tăng: Năm 2021 có 12,1 triệu người cao tuổi có BHYT, đến năm 2023 đã vượt trên 14,6 triệu người và ước tính năm 2025 có khoảng hơn 15 triệu người cao tuổi có BHYT. Hiện tỷ lệ bao phủ BHYT của người cao tuổi đã đạt trên 85% và đang tiến tới mục tiêu 100% nhóm đối tượng này có thẻ BHYT vào năm 2030. Cả nước hiện có ba bệnh viện lão khoa chuyên sâu và khoảng 110 bệnh viện tuyến trung ương, tỉnh có khoa lão khoa, hơn 10 nghìn giường điều trị nội trú cho người cao tuổi; có gần 1.800 nhân viên y tế được đào tạo chuyên sâu về lão khoa và 46.683 tình nguyện viên tham gia chăm sóc người cao tuổi tại nhà và khoảng 95% trạm y tế xã được đầu tư nâng cấp hạ tầng... ; hiện 80% người cao tuổi đã được lập hồ sơ quản lý sức khỏe ban đầu, hơn 69% được khám sức khỏe định kỳ ít nhất một lần/năm.
Việc mở rộng bao phủ BHYT có ý nghĩa quan trọng, đóng vai trò giảm gánh nặng tài chính, giúp người cao tuổi tiếp cận được các dịch vụ y tế cần thiết. Nhiều địa phương đã chủ động triển khai các chương trình hỗ trợ bổ sung nhằm mở rộng quyền lợi BHYT cho người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn; duy trì thường xuyên việc vận động trao tặng thẻ BHYT cho người cao tuổi yếu thế, nhiều người cao tuổi thuộc diện chính sách, người nghèo hoặc cận nghèo được Nhà nước hỗ trợ hoặc cấp thẻ BHYT miễn phí... Bên cạnh đó, mạng lưới câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau tiếp tục được nhân rộng với hơn 9 nghìn câu lạc bộ và 330 nghìn thành viên cả nước đã tạo không khí sinh hoạt văn nghệ sôi nổi, chăm sóc sức khỏe và là chỗ dựa vững chắc cho các thành viên, trong đó có người cao tuổi.
Cùng với đó, người cao tuổi còn được hưởng nhiều chính sách ưu tiên trong các dịch vụ công cộng như giảm giá vé tàu, xe khi tham gia giao thông công cộng, tham quan di tích lịch sử - xã hội, danh lam thắng cảnh... Mặt khác người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn, nhất là những người không có nguồn thu nhập ổn định hoặc không có người phụng dưỡng cũng được Nhà nước triển khai thực hiện nhiều chính sách trợ giúp xã hội, chăm sóc sức khỏe, nhất là các hoạt động hỗ trợ từ cộng đồng và các tổ chức xã hội. Hiện cả nước có trên 77 nghìn câu lạc bộ của người cao tuổi ở cơ sở với nhiều loại hình hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, thu hút trên 2,5 triệu người cao tuổi tham gia; các địa phương cũng triển khai các mô hình chăm sóc người cao tuổi dựa vào cộng đồng. Từ đó góp phần cải thiện đời sống vật chất, tinh thần và phát huy vai trò của gia đình, xã hội trong việc chăm lo cho người cao tuổi.
Tồn tại, hạn chế
Ngoài những kết quả đạt được vẫn còn một số tồn tại, hạn chế trong thực hiện chính sách an sinh xã hội cho người cao tuổi như mức độ bao phủ chính sách còn hạn chế. Tỷ lệ người cao tuổi được hưởng lương hưu hoặc trợ cấp BHXH còn thấp, chủ yếu tập trung ở khu vực có quan hệ lao động chính thức, phần lớn người cao tuổi ở khu vực nông thôn, lao động tự do không có lương hưu, phải phụ thuộc vào gia đình hoặc trợ cấp xã hội... Đồng thời, mức trợ cấp còn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu sống tối thiểu, đặc biệt trong bối cảnh giá cả tăng. Cùng với đó, chất lượng dịch vụ chăm sóc còn hạn chế, chính sách y tế chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu khám chữa bệnh của người cao tuổi; sự chênh lệch vùng miền còn rõ rệt, người cao tuổi ở vùng sâu, vùng xa, miền núi khó tiếp cận dịch vụ y tế và trợ cấp xã hội; hệ thống chính sách còn thiếu đồng bộ và thách thức từ già hóa dân số nhanh...
Việt Nam bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011 với tốc độ gia tăng tỷ lệ người già nhanh. Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), chỉ số già hóa năm 2024 là 60,2% (tăng 11,4% so năm 2019 và 16,9% so năm 2014). Số lượng người già từ 60 tuổi trở lên là 14,2 triệu người (tăng 2,8 triệu người, gấp 1,25 lần so với năm 2019 và tăng 4,7 triệu người, gấp 1,5 lần so với năm 2014). Dự báo đến năm 2030, Việt Nam sẽ có xấp xỉ 18 triệu người cao tuổi, tăng gần 4 triệu người so với năm 2024. Điều này, dẫn đến nhiều hệ quả cho xã hội như tăng áp lực lên hệ thống y tế và chăm sóc dài hạn; gia tăng nhu cầu trợ cấp xã hội; giảm nguồn lao động trong độ tuổi sản xuất... tạo áp lực đáng kể đối với hệ thống an sinh xã hội, đặc biệt là việc đảm bảo thu nhập và chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi.
Giải pháp đảm bảo an sinh xã hội cho người cao tuổi ở Việt Nam thời gian tới
Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến người cao tuổi theo hướng đồng bộ, toàn diện. Các chính sách cần được điều chỉnh phù hợp với thực tiễn già hóa dân số, bảo đảm tính bao phủ và bền vững. Bên cạnh đó, cần xây dựng các chính sách riêng cho những nhóm người cao tuổi yếu thế như: Người nghèo, người sống cô đơn, người khuyết tật. Việc lồng ghép các chính sách an sinh xã hội với nhau cũng cần được chú trọng để tạo thành một hệ thống hỗ trợ hiệu quả.
Thứ hai, mở rộng độ bao phủ BHXH và lương hưu, tăng tỷ lệ người cao tuổi có lương hưu. Hiện nay, vẫn còn nhiều người cao tuổi, đặc biệt ở khu vực nông thôn và lao động phi chính thức, chưa được hưởng lương hưu. Vì vậy, cần đẩy mạnh phát triển BHXH tự nguyện, thiết kế các mức đóng linh hoạt phù hợp với thu nhập của người dân và tuyên truyền nâng cao nhận thức về lợi ích của BHXH. Ngoài ra, cần nghiên cứu xây dựng hệ thống hưu trí đa tầng nhằm bảo đảm thu nhập ổn định cho người cao tuổi.
Thứ ba, nâng cao hiệu quả trợ giúp xã hội. Nhà nước cần điều chỉnh mức trợ cấp xã hội phù hợp với mức sống tối thiểu và chỉ số giá tiêu dùng. Đồng thời, mở rộng đối tượng được hưởng trợ cấp, không chỉ giới hạn ở người từ 80 tuổi trở lên mà cần xem xét cả những người có hoàn cảnh khó khăn. Mặt khác, cần cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa quy trình để người cao tuổi dễ dàng tiếp cận các chính sách hỗ trợ.
Thứ tư, tăng cường chăm sóc sức khỏe người cao tuổi. Chăm sóc sức khỏe là nhu cầu thiết yếu của người cao tuổi, nên cần phát triển hệ thống y tế lão khoa, tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người cao tuổi. Đồng thời, cần nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và đào tạo đội ngũ nhân lực chuyên môn về chăm sóc người cao tuổi. Phát triển các mô hình chăm sóc dài hạn, chăm sóc tại nhà và tại cộng đồng nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của người cao tuổi. Phát huy vai trò của gia đình và xã hội trong chăm sóc người cao tuổi. Gia đình vẫn là nơi chăm sóc người cao tuổi chủ yếu. Do đó, cần nâng cao nhận thức của các thành viên trong gia đình về trách nhiệm chăm sóc người cao tuổi. Bên cạnh đó, các tổ chức xã hội, đoàn thể cũng cần tích cực tham gia hỗ trợ, tạo thành mạng lưới chăm sóc toàn diện cho người cao tuổi.
Thứ năm, cần phát triển dịch vụ xã hội và chăm sóc cộng đồng. Việc xây dựng các trung tâm dưỡng lão, câu lạc bộ người cao tuổi và dịch vụ chăm sóc tại nhà là hết sức cần thiết. Nhà nước cần khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân và các tổ chức xã hội trong lĩnh vực này. Cần xây dựng môi trường sống thân thiện với người cao tuổi, giúp họ có điều kiện sinh hoạt, giao lưu và tham gia các hoạt động xã hội. Đồng thời, cần phát huy vai trò của người cao tuổi trong xã hội, tạo điều kiện để họ tiếp tục tham gia lao động phù hợp với sức khỏe, truyền đạt kinh nghiệm và đóng góp cho cộng đồng. Việc này không chỉ giúp họ sống tích cực hơn mà còn góp phần giảm gánh nặng cho hệ thống an sinh xã hội.
Thứ sáu, tăng cường nguồn lực và quản lý Nhà nước. Nhà nước cần đảm bảo nguồn lực tài chính cho các chương trình an sinh xã hội, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý và giám sát. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và chi trả trợ cấp cũng cần được đẩy mạnh nhằm nâng cao tính minh bạch và hiệu quả.
Bình Lê
Nguồn: Trung tâm Thông tin kinh tế, tài chính và thống kê