Tăng cường thu hút đầu tư vào khu công nghệ cao ở Việt Nam
17/12/2025 14:22
Hiện nay, các khu công nghệ cao (KCNC) của Việt Nam đang khẳng định vai trò tiên phong trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư chất lượng, tiếp nhận công nghệ tiên tiến và đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao. Tuy nhiên, quá trình thu hút đầu tư vào các KCNC vẫn gặp nhiều khó khăn và vướng mắc, như thủ tục hành chính còn phức tạp, khả năng huy động vốn tín dụng của các doanh nghiệp trong KCNC còn hạn chế, trong khi tỷ lệ chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) của Việt Nam mới chỉ đạt khoảng 0,43% GDP - thấp hơn nhiều so với mức trung bình của thế giới. Thực tiễn đó đòi hỏi phải có những giải pháp mang tính đột phá nhằm tạo cú hích mạnh mẽ, đưa các KCNC Việt Nam phát triển lên tầm khu vực và thế giới.
Tình hình thu hút đầu tư vào khu công nghệ cao: Bức tranh nhiều gam màu sáng
Các KCNC trên cả nước như KCNC Hòa Lạc (Hà Nội), KCNC thành phố Hồ Chí Minh và KCNC Đà Nẵng đã và đang trở thành những "thỏi nam châm" thu hút các dự án quy mô lớn. Lũy kế đến tháng 7/2025, KCNC Hòa Lạc đã thu hút được 110 dự án, tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 5 tỷ USD. Riêng năm 2025, thông qua những hoạt động xúc tiến, Ban Quản lý đẩy mạnh thu hút vào KCNC, vớ i dự kiến khoảng 80 triệu USD. Cũng đến tháng 7/2025, KCNC Đà Nẵng đã thu hút 31 dự án với tổng vốn đăng ký hơn 1 tỷ USD, nhiều tập đoàn, công ty nổi tiếng như Dentium, UAC và Foxlink đã đến đây đầu tư xây dựng nhà máy quy mô lớn. KCNC thà nh phố Hồ Chí Minh (SHTP) được coi là KCNC thành công nhất cả nước, tính đến đầu năm 2025, SHTP đã thu hút 160 dự án với tổng vốn đầu tư lên đến 12,3 tỷ USD.
Để tạo ra sức hấp dẫn đặc biệt cho các KCNC, Chính phủ Việt Nam đã ban hành một hệ thống chính sách ưu đãi toàn diện và cạnh tranh. Các dự án đầu tư mới tại KCNC được hưởng mức thuế suất ưu đãi 10% trong thời gian 15 năm, miễn thuế 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo. Ngoài ra, miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước trong thời gian xây dựng cơ bản tối đa không quá 3 năm, miễn tiền thuê đất từ 15 năm trở lên sau thời gian xây dựng cơ bản, tùy thuộc vào lĩnh vực và quy mô của dự án...
Hệ thống chính sách ưu đãi tạo ra động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển các KCNC. Tỷ lệ lấp đầy trung bình tại các khu công nghiệp, KCNC ở các khu vực kinh tế trọng điểm miề n Bắc và miề n Nam đều đạt trên 83%. Sự hiện diện của các "ông lớn" công nghệ toàn cầu như Intel (đã đầu tư 1,5 tỷ USD vào nhà máy tại SHTP), Samsung, LG, Foxconn, Goertek, NVIDIA, Marvell... đã tạo ra một hệ sinh thái công nghiệp phụ trợ sôi động, góp phần đưa Việt Nam ghi danh trên bản đồ thế giới với các sản phẩm mang hàm lượng công nghệ cao. Các chính sách ưu đãi cũng góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng tỷ trọng đầu tư, xuất khẩu vào sản phẩm có hàm lượng công nghệ. Kim ngạch xuất khẩu của khu SHTP năm 2024 là 20,77 tỷ USD, chiếm tới 40% kim ngạch xuất khẩu của thành phố Hồ Chí Minh.
Những thách thức đặt ra
Mặc dù vậy việc thu hút đầu tư vào KCNC còn nhiều vướng mắc. Dù có cải thiện, thủ tục hành chính vẫn là một điểm nghẽn. Trong Báo cáo chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) 2024 công bố tháng 5/2025, gần 37% doanh nghiệp cho biết có chi trả chi phí không chính thức, nhích nhẹ từ con số 33% của năm 2023. Có 7,3% doanh nghiệp FDI trong khảo sát cho biết họ phải trì hoãn hoặc hủy bỏ kế hoạch kinh doanh vì những khó khăn trong thủ tục hành chính. Cùng với đó, lợi thế cạnh tranh giữa KCNC và khu công nghiệ p, khu kinh tế chưa thật sự nổi bật. Chính sách đã không tạo ra được một "ốc đảo" ưu đãi vượt trội thực sự để thu hút các dự án tinh hoa.
Ngoài ra, các doanh nghiệp còn gặp khó khăn trong huy động vốn tín dụng. Các doanh nghiệp trong khu giữ vai trò thuê đất; trong khi đó tài sản vô hình như bằng sáng chế dù có giá trị lớn trên thị trường, lại khó được nằm trong danh mục tài sản thế chấp được chấp nhận tại các tổ chức tín dụng. Trong khi đó, vẫn còn thiếu vắng Quỹ đầu tư mạo hiểm do Nhà nước bảo trợ. Các quốc gia thành công như Israel (với Quỹ Yozma) hay Singapore (với Temasek) đều cho thấy vai trò "nhạc trưởng" của Nhà nước trong việc hình thành thị trường vốn mạo hiểm.
Tỷ trọng chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển (R&D) trên GDP của Việt Nam chỉ đạt khoảng 0,43%, là thấp so với mức trung bình của thế giới và các nước trong khu vực như Trung Quốc (2,4% GDP năm 2020), Hàn Quốc (4,8%), hay Malaysia (1%). Tỷ lệ nhân lực làm nghiên cứu và phát triển cũ ng thấp (là 11 người/10.000 dân) thấp hơn nhiều so với trung bình ASEAN (25 người/10.000 dân); thiếu chuyên gia, kỹ sư trình độ cao, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ mũi nhọn (AI, IoT, bán dẫn...).
Giải pháp tăng cường thu hút đầu tư vào khu công nghệ cao
Để vượt qua những thách thức hiện tại, Việt Nam cần triển khai đồng bộ các giải pháp mang tính đột phá, tập trung vào việc cải thiện môi trường đầu tư một cách thực chất và phát triển bền vững. Trong bối cảnh Thuế tối thiểu toàn cầu đã được áp dụng, sức hấp dẫn của ưu đãi thuế sẽ giảm. Cần chuyển hướng sang các chính sách hỗ trợ dựa trên chi phí thực tế, chẳng hạn như hỗ trợ chi phí đầu tư cho R&D, hỗ trợ chi phí đào tạo lao động tay nghề cao, hỗ trợ xây dựng phòng lab... Đồng thời, trao quyền tự chủ lớn hơn cho các Ban quản lý trong việc cấp phép, quản lý và xây dựng các chính sách riêng biệt, có tính cạnh tranh cao.
Nhà nước cần đảm bảo nguồn lực đầu tư cho khoa họ c công nghệ , đổ i mớ i sá ng tạ o và chuyể n đổ i số theo hướng kinh phí chi cho R&D đạt 2% GDP, trong đó kinh phí từ xã hội chiếm hơn 60%; bố trí ít nhất 3% tổng chi ngân sách nhà nướ c hằng năm cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia và tăng dần theo yêu cầu phát triển.
Nhà nước cũng tiếp tục xây dựng và vận hành hiệu quả các quỹ đầu tư đổi mới sáng tạo theo mô hình công - tư (PPP), nhằm khuyến khích đầu tư mạo hiểm, hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân trong KCNC. Các cơ chế này cần đảm bảo linh hoạt, minh bạch, có tiêu chí lựa chọn và đánh giá đầu tư rõ ràng, đồng thời thu hút được nguồn lực từ khu vực tư nhân và tổ chức quốc tế.
Cùng với đó, các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền được giao tăng cường trách nhiệm, giải quyết dứt điểm các phản ánh, kiến nghị nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp. Tiếp tục cắt giảm, đơn giản hóa hơn nữa thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh, trong đó tập trung vào lĩnh vực như: Thuế, hải quan, xây dựng, môi trường, tiếp cận điện năng...; triển khai có hiệu quả việc cung cấp các dịch vụ công trực tuyến.
Nguyễn Thị Thu
Nguồn: Trung tâm Thông tin kinh tế, tài chính và thống kê