Các động lực cho tăng trưởng kinh tế vùng đồng bằng sông Hồng trong thời gian tới
08/04/2026 08:25
Vùng đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) là một trong 6 vùng kinh tế - xã hội ở nước ta, là khu vực có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển chung của cả nước. Với quy mô dân số lớn và tốc độ phát triển kinh tế cao, việc nhận diện, phân tích và thúc đẩy các động lực tăng trưởng vùng ĐBSH trong thời gian tới là yêu cầu cấp thiết. Qua đó gợi mở một số giải pháp thúc đẩy các động lực tăng trưởng của vùng trong giai đoạn 2026 - 2030.
Những điểm nhấn về phát triển vùng đồng bằng sông Hồng thời gian qua
Là một trong hai đầu tàu kinh tế quan trọng của nước ta, vùng ĐBSH luôn giữ vai trò nổi bật và toàn diện trong phát triển kinh tế quốc gia. Cụ thể như sau:
Trong giai đoạn 2021 - 2025, vùng ĐBSH đóng góp khoảng 38,2% vào tăng trưởng chung của cả nước, qua đó khẳng định vị thế là một trung tâm kinh tế quan trọng hàng đầu cả nước. Khu vực công nghiệp - xây dựng giữ vai trò chủ đạo, với tỷ lệ đóng góp đạt 44,0%, riêng khu vực công nghiệp chiếm 45,4%, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo - được xem là động lực then chốt của tăng trưởng kinh tế quốc gia - đạt 45,6%, khẳng định vai trò trung tâm của vùng ĐBSH trong phát triển nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa. Khu vực dịch vụ có tỷ lệ đóng góp 36,8%, thể hiện xu hướng gia tăng vai trò của các ngành dịch vụ hiện đại, đặc biệt là thương mại, vận tải, logistics, du lịch... Khu vực nông, lâm, thủy sản giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm an ninh lương thực và phát triển nông thôn bền vững. Năm 2025, vùng có 4/6 địa phương đạt tăng trưởng trên 10%.
Thu ngân sách của vùng ĐBSH giai đoạn 2021 - 2024 chiếm khoảng 39,4 - 40,4% tổng thu ngân sách cả nước, cao nhất trong 6 vùng. Kim ngạch xuất khẩu của vùng chiếm khoảng 38% tổng kim ngạch cả nước cho thấy vai trò ổn định và bền vững của vùng trong hoạt động xuất khẩu quốc gia.
Vùng là trọng điểm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với hơn 14.600 dự án, tổng vốn đăng ký khoảng 178 tỷ USD (tính đến tháng 3/2025), trong đó, Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh là các cực thu hút chính, tập trung nhiều tập đoàn đa quốc gia trong lĩnh vực điện tử, công nghệ cao, công nghiệp chế biến, logistics, bán dẫn, tạo động lực tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thúc đẩy hội nhập.

Với vị thế là một trong hai đầu tàu kinh tế lớn nhất cả nước, vùng ĐBSH không chỉ đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế mà còn có vai trò đặc biệt trong tạo việc làm và đảm bảo an sinh xã hội của quốc gia. Theo số liệu thống kê, vùng đã tạo việc làm cho khoảng 12,1 triệu lao động năm 2024, tương đương khoảng 23,4% tổng việc làm toàn quốc; vùng là nơi cung cấp lực lượng lao động có trình độ cao cho cả nước, vừa là khu vực hấp thụ mạnh lao động trong các ngành công nghiệp - dịch vụ giá trị gia tăng lớn, thể hiện cho vị thế trung tâm kinh tế - xã hội hàng đầu của ĐBSH, đồng thời khẳng định đóng góp then chốt của vùng trong bảo đảm ổn định thị trường lao động, nâng cao năng suất và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế quốc gia. Tỷ lệ hộ nghèo trong vùng giảm nhanh, từ 1,3% năm 2020 xuống còn 0,5% năm 2024, là vùng có tỷ lệ hộ nghèo thấp thứ hai cả nước, chỉ sau vùng Đông Nam Bộ. Hệ thống an sinh xã hội, trợ giúp xã hội của vùng được quan tâm phát triển, tạo điều kiện tốt nhất để mọi người dân dễ dàng tiếp cận và thụ hưởng dịch vụ…
Bên cạnh những điểm sáng đã đạt được, vùng cũng còn tồn tại một số điểm nghẽn, cản trở sự phát triển như: (i) Thể chế và cơ chế liên kết vùng còn thiếu, hiệu lực thấp; (ii) Cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm, năng suất và giá trị gia tăng thấp, năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo còn hạn chế, chưa thực sự trở thành động lực then chốt trong phát triển vùng; (iii) Chưa hình thành cụm ngành và chuỗi giá trị vùng hiệu quả, các khu thương mại tự do, khu kinh tế ven biển chưa có mô hình đột phá để trở thành động lực lan tỏa vùng; (iv) Hạ tầng kinh tế - xã hội và kết nối vùng chưa đồng bộ, thiếu tính kết nối tổng thể và hiệu quả liên vùng; (v) Chất lượng đô thị hóa và năng suất kinh tế đô thị còn thấp, phát triển chủ yếu theo chiều rộng, chưa gắn chặt với quá trình công nghiệp hóa, phát triển dịch vụ và đổi mới sáng tạo; (vi) Chưa phát huy hiệu quả các nguồn lực văn hóa, xã hội cho phát triển; (vii) Không gian phát triển vùng chưa được bố trí hợp lý theo hướng bền vững và sử dụng hiệu quả tài nguyên, chênh lệch trình độ phát triển giữa các địa phương nội vùng còn khá lớn…
Các động lực cho tăng trưởng kinh tế của vùng trong thời gian tới
Thời gian qua, bối cảnh phát triển của đất nước và vùng có nhiều thay đổi quan trọng, đặc biệt là sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, cùng nhiều quyết sách chiến lược, chủ trương mới về phát triển cho thấy có nhiều yếu tố mới về tổ chức không gian phát triển, liên kết vùng, quy hoạch đô thị, hạ tầng giao thông, năng lượng, nông nghiệp, quản lý tài nguyên và môi trường, dân số, lao động, thích ứng biến đổi khí hậu... Các yếu tố này sẽ tạo ra những động lực cho phát triển vùng, cụ thể:
Trước hết, yêu cầu về sắp xếp, tinh gọn bộ máy, đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới, mô hình chính quyền đô thị, thúc đẩy phân cấp, phân quyền mạnh mẽ chính là một trong những động lực mới cho phát triển vùng, qua đó hình thành cấu trúc lãnh thổ, mô hình liên kết vùng và tổ chức không gian phát triển mới cho vùng, đặc biệt là tại Hà Nội và vùng Thủ đô mở rộng, các trục hành lang kinh tế ven biển, hành lang công nghiệp - đô thị.
Tiếp theo, phát triển mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế số, xã hội số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn là một trong những động lực chính của tăng trưởng vùng, trong đó, tập trung phát triển các khu công nghệ cao, trung tâm đổi mới sáng tạo, đô thị thông minh tại Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Hưng Yên, đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý, sản xuất, giáo dục, y tế, nông nghiệp và dịch vụ của vùng.
Điểm thứ ba, tập trung đầu tư phát triển các hành lang kinh tế, tăng cường liên kết nội vùng, liên vùng, quốc tế, đồng thời, đẩy mạnh cơ cấu lại kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, thu hút FDI, tăng năng suất lao động và năng suất các nhân tố tổng hợp dựa trên nền tảng ứng dụng mạnh mẽ khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh...
Thứ tư, phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội vùng đồng bộ, hiện đại, đô thị thông minh, có tính kết nối cao với các vùng, khu vực lân cận và cả nước, đặc biệt là hệ thống đường cao tốc, đường sắt, cảng biển, sân bay để kết nối các địa phương trong vùng và ngoại vùng. Trong đó, phát triển hệ thống đô thị trong vùng theo mạng lưới, phân bố hợp lý, thông minh, hiện đại, thích ứng với biến đổi khí hậu; lấy định hướng phát triển giao thông công cộng (theo mô hình TOD) làm cơ sở quy hoạch đô thị. Hoàn thiện mạng lưới giao thông đồng bộ, hiện đại, kết nối nội vùng, liên vùng và quốc tế; phát triển vận tải đa phương thức, phát huy lợi thế về cảng biển, cảng hàng không, đường bộ, đường sắt, đường thuỷ nội địa và các hành lang kết nối của vùng.
Một động lực quan trọng khác là liên kết vùng và cơ chế điều phối vùng đáp ứng cấu trúc quản trị vùng mới với tầm nhìn liên kết liên tỉnh, liên vùng, đảm bảo điều phối hiệu quả các chính sách, quy hoạch, đầu tư và chia sẻ nguồn lực giữa các địa phương trong vùng.
Một số giải pháp thúc đẩy các động lực tăng trưởng của vùng trong giai đoạn 2026 - 2030
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách phát triển và liên kết vùng theo hướng thống nhất, minh bạch và hiệu quả; tăng cường cơ chế, phối hợp liên tỉnh, liên ngành và liên vùng trong lập, tổ chức thực hiện và giám sát quy hoạch; xây dựng nền tảng dữ liệu liên kết vùng, chia sẻ thông tin giữa các địa phương, phục vụ quản lý, điều phối, giám sát và dự báo phát triển vùng trên nền tảng số.
Thứ hai, đa dạng hóa nguồn lực đầu tư, kết hợp ngân sách nhà nước - đầu tư tư nhân - FDI - trái phiếu xanh, gắn với quản lý nợ công an toàn và tăng cường hiệu quả đầu tư công; chuyển trọng tâm thu hút FDI từ số lượng sang chất lượng, hiệu quả, đổi mới sáng tạo và lan tỏa công nghệ.
Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy hành chính, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, gắn với đổi mới cơ chế quản lý công vụ, công chức theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại và kiến tạo phát triển.
Thứ tư, đổi mới toàn diện cơ chế hoạt động và quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, gắn với cải cách thể chế, hoàn thiện chính sách phát triển khoa học và công nghệ vùng đồng bằng sông Hồng theo hướng mở, linh hoạt, liên thông và khuyến khích sáng tạo.
Thứ năm, hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách phát triển đô thị và thị trường bất động sản, bảo đảm vận hành minh bạch, ổn định, lành mạnh, phù hợp với quy luật thị trường và đặc thù của vùng đồng bằng sông Hồng, đồng bộ hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn quy hoạch đô thị theo hướng hội nhập quốc tế, thích ứng biến đổi khí hậu, thúc đẩy đô thị xanh, đô thị thông minh, đô thị nén, đô thị bền vững gắn với mục tiêu phát triển phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Tóm lại, các động lực tăng trưởng kinh tế vùng đồng bằng sông Hồng trong thời gian tới sẽ tập trung vào phát triển hạ tầng lớn đồng bộ, hiện đại, đô thị thông minh; khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo; thu hút đầu tư nước ngoài (FDI), đổi mới mô hình tăng trưởng và liên kết vùng gắn với không gian phát triển mới để vùng thực sự là “đầu tàu” dẫn dắt cả nước về phát triển kinh tế.
ĐTT
Nguồn: Trung tâm Thông tin kinh tế, tài chính và thống kê