Tài chính vi mô - công cụ thúc đẩy tài chính toàn diện tại Việt Nam

19/12/2025 14:03


Tài chính vi mô (TCVM) đóng vai trò then chốt trong thúc đẩy tài chính toàn diện, giúp người nghèo, phụ nữ và nhóm yếu thế tiếp cận nguồn vốn, tiết kiệm và bảo hiểm cơ bản. Tại Việt Nam, lĩnh vực này đã góp phần giảm nghèo bền vững, tạo sinh kế và thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn. Trong bối cảnh chuyển đổi số và đổi mới tài chính đang lan tỏa mạnh mẽ, việc nâng cao năng lực, mở rộng phạm vi và hoàn thiện khung pháp lý cho các tổ chức tài chính vi mô trở thành yêu cầu cấp thiết để hướng tới mục tiêu phát triển bao trùm và bền vững.

Đóng góp của tài chính vi mô đối với tài chính toàn diện

Tài chính vi mô là việc cung cấp các dịch vụ tài chính quy mô nhỏ (microcredit, microsaving, microinsurance...) cho nhóm khách hàng có thu nhập thấp, thường không đủ điều kiện tiếp cận các tổ chức tín dụng chính thức. TCVM hướng đến mục tiêu kép: Vừa bảo đảm hiệu quả kinh tế, vừa đạt tác động xã hội.

Ở Việt Nam, TCVM được hình thành từ các dự án hỗ trợ cộng đồng, các chương trình tín dụng ưu đãi của Nhà nước, và các tổ chức phi chính phủ. Qua hơn ba thập kỷ, lĩnh vực này đã phát triển đa dạng về mô hình và phạm vi, bao gồm: Hệ thống chính thức gồm 4 tổ chức TCVM được Ngân hàng Nhà nước cấp phép: TYM (Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam), Thanh Hóa MFI, M7 và CEP TP. Hồồ Chí Minh. Hệ thống bán chính thức gồm Ngân hàng Chính sách Xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT, các quỹ tín dụng nhân dân. Hệ thống phi chính thức gồm các tổ tiết kiệm và vay vốn, nhóm xoay vòng tín dụng trong cộng đồng.

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước (2024), tổng dư nợ của các tổ chức TCVM chính thức đạt gần 12.000 tỷ đồng, với khoảng 1,5 triệu khách hàng, chủ yếu là phụ nữ, nông dân và hộ nghèo. Tỷ lệ thu hồồi vốốn đạt trên 98%, cho thấy mức độ tin cậy và hiệu quả xã hội cao. Vì vậy TCVM đóng góp rất lớn trong phát triển tài chính toàn diện, cụ thể:

Thứ nhất, tăng khả năng tiếp cận vốn cho nhóm yếu thế. TCVM giúp người nghèo tiếp cận các khoản vay nhỏ mà ngân hàng thương mại thường không cung cấp do chi phí giao dịch cao và rủi ro tín dụng lớn. Các khoản vay thường từ 5 - 50 triệu đồng, thủ tục đơn giản, dựa vào uy tín và trách nhiệm nhóm. Nhờ đó, hàng triệu hộ nghèo đã có vốn sản xuất, kinh doanh nhỏ, nuôi trồng và cải thiện sinh kế.

Thứ hai, hình thành thói quen tiết kiệm và quản lý tài chính cá nhân. Nhiều tổ chức TCVM triển khai sản phẩm tiết kiệm định kỳ, giúp khách hàng, đặc biệt là phụ nữ nông thôn, hình thành kỷ luật tài chính, tích lũy vốn và tự bảo vệ trước rủi ro. Đây là nền tảng quan trọng để người dân tham gia hệ thống tài chính chính thức.

Thứ ba, thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền kinh tế cho phụ nữ. Khoảng 85% khách hàng TCVM là phụ nữ, theo dữ liệu của TYM và CEP. Khi phụ nữ được tiếp cận vốn, họ không chỉ cải thiện thu nhập mà còn tăng vị thế trong gia đình và cộng đồng, góp phần thúc đẩy bình đẳng giới - một mục tiêu quan trọng trong Chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam.

Thứ tư, tạo nền tảng dữ liệu và năng lực tài chính để chuyển lên cấp cao hơn. Thông qua TCVM, khách hàng được “làm quen” với các sản phẩm tài chính cơ bản, từ đó từng bước đủ điều kiện vay vốn từ ngân hàng thương mại hoặc tham gia bảo hiểm, đầu tư. TCVM vì vậy đóng vai trò “cầu nối” giữa khu vực phi chính thức và hệ thống tài chính chính thức, mở rộng độ bao phủ tài chính toàn quốc.

Bên cạnh đạt nhiều kết quả tích cực, TCVM Việt Nam vẫn đối mặt với những thách thức lớn sau:

Quy mô hoạt động nhỏ, năng lực tài chính hạn chế. Tổng tài sản của toàn hệ thống TCVM chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ (dưới 0,2%) trong tổng tài sản của hệ thống các tổ chức tín dụng.

Công nghệ quản lý lạc hậu. Nhiều tổ chức chưa áp dụng hệ thống quản trị thông tin (MIS), vẫn dựa vào báo cáo giấy, làm tăng chi phí và rủi ro sai lệch dữ liệu.

Khung pháp lý còn thiếu đồng bộ. Quy định về cấp phép, quản trị rủi ro, chuẩn mực kế toán và hợp tác với Fintech chưa hoàn thiện.

Hạn chế trong năng lực nhân sự và đào tạo. Cán bộ TCVM thường xuất phát từ hoạt động xã hội, thiếu kỹ năng quản trị tài chính - ngân hàng hiện đại.

Thiếu vốn dài hạn và nguồn tài trợ bền vững. Các tổ chức TCVM chủ yếu dựa vào vốn vay ưu đãi hoặc viện trợ quốc tế, chưa có cơ chế huy động từ thị trường vốn.

Những rào cản này khiến TCVM dù đóng góp lớn về mặt xã hội nhưng chưa phát huy hết tiềm năng trong thúc đẩy tài chính toàn diện.

Một số giải pháp trong thời gian tới

Để TCVM thực sự trở thành công cụ chủ lực của tài chính toàn diện, cần một số giải pháp đồng bộ, gắn kết giữa Nhà nước - tổ chức TCVM - khu vực tư nhân và đối tác phát triển, như sau:

Một là, hoàn thiện khung pháp lý và tăng cường giám sát: Ngân hàng Nhà nước cần sớm sửa đổi các quy định về TCVM theo hướng tạo thuận lợi hơn cho cấp phép hoạt động, huy động vốn và hợp tác với Fintech. Việc thiết lập chuẩn mực an toàn tài chính vi mô, công khai minh bạch thông tin hoạt động sẽ giúp củng cố niềm tin của nhà đầu tư và khách hàng.

Hai là, đẩy mạnh chuyển đổi số và đổi mới mô hình hoạt động: Ứng dụng công nghệ số (mobile banking, eKYC, ví điện tử, dữ liệu lớn) giúp TCVM giảm chi phí, mở rộng phạm vi phục vụ. Nhà nước có thể hỗ trợ qua chương trình chuyển đổi số TCVM quốc gia, khuyến khích hợp tác với các doanh nghiệp Fintech, viễn thông và ngân hàng thương mại.

Ba là, mở rộng nguồn vốn và đa dạng hóa sản phẩm: Cho phép các TCVM được phát hành trái phiếu xã hội, nhận vốn ủy thác, hoặc vay vốn ưu đãi từ Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, qua đó nâng cao khả năng cung cấp tín dụng bền vững. Đồng thời, phát triển các sản phẩm bảo hiểm vi mô, tiết kiệm linh hoạt, tín dụng xanh nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng.

Bốn là, tăng cường giáo dục tài chính và năng lực quản trị: Đào tạo hiểu biết tài chính cho người dân, nhất là phụ nữ và thanh niên nông thôn, giúp họ sử dụng hiệu quả nguồn vốn vay. Song song, cần nâng cao năng lực quản trị, kiểm soát nội bộ và quản lý rủi ro cho cán bộ TCVM.

Năm là, phát triển hợp tác quốc tế và chia sẻ kinh nghiệm: Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm từ Bangladesh, Philippines, Indonesia - những quốc gia đã thành công trong mô hình “TCVM + Fintech” và quản trị dựa trên dữ liệu. Sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế như ADB, UNCDF, World Bank sẽ là nguồn lực quan trọng để nâng cao năng lực hệ thống TCVM Việt Nam.

Tài chính vi mô đã và đang chứng minh vai trò quan trọng trong thúc đẩy tài chính toàn diện, giảm nghèo và phát triển bao trùm tại Việt Nam. Mặc dù quy mô còn nhỏ, nhưng với định hướng chính sách đúng đắn, sự hỗ trợ của Nhà nước và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, TCVM hoàn toàn có thể trở thành “cánh tay nối dài” của hệ thống tài chính quốc gia, đưa các dịch vụ tài chính đến gần hơn với từng người dân, từng thôn bản.

Trong giai đoạn tới, khi Việt Nam bước vào kỷ nguyên kinh tế số và phát triển xanh, TCVM không chỉ là công cụ kinh tế, mà còn là chính sách nhân văn, thể hiện cam kết của Nhà nước trong việc đảm bảo mọi người dân đều có cơ hội tiếp cận tài chính, nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững.

Anh Tuấn

Nguồn: Trung tâm Thông tin kinh tế, tài chính và thống kê