Những điểm sáng trong bức tranh kinh tế vĩ mô 2025 của nước ta
11/02/2026 08:00
Năm 2025, kinh tế Việt Nam đạt mức tăng trưởng cao trong bối cảnh toàn cầu có nhiều biến động. Các chỉ số vĩ mô như tăng trưởng GDP, thu hút đầu tư nước ngoài (FDI), kim ngạch xuất nhập khẩu, thu ngân sách và kiểm soát lạm phát… đều ghi nhận kết quả rất tích cực so với năm 2024.
Kinh tế vĩ mô Việt Nam năm 2025
Tăng trưởng kinh tế năm 2025 đạt 8,02%, đưa Việt Nam trở thành quốc gia có mức tăng trưởng cao nhất trong khu vực ASEAN và thuộc nhóm tăng trưởng dẫn đầu thế giới. Quy mô nền kinh tế năm 2025 đạt 514 tỷ USD, tăng 5 bậc, lên vị trí 32 thế giới; GDP bình quân đầu người năm 2025 đạt 5.026 USD, gấp 1,4 lần năm 2020, vào nhóm thu nhập trung bình cao trên thế giới; Trong cả nước, có 20/34 địa phương tăng trưởng từ 8% trở lên, trong đó có 6 tỉnh, thành tăng trưởng đạt 2 con số.
Thu hút FDI của Việt Nam năm 2025 đạt trên 38,4 tỷ USD, tăng 0,5% so với năm 2024 (Trong đó: vốn FDI đăng ký mới đạt trên 17,3 tỷ USD, giảm 12,2%; vốn FDI đăng ký điều chỉnh đạt gần 14,07 tỷ USD, tăng 0,8%; vốn FDI góp vốn, mua cổ phần đạt gần 7,03 tỷ USD, tăng 54,8%), vốn FDI thực hiện đạt 27,62 tỷ USD, tăng 9% trong bối cảnh dòng vốn FDI toàn cầu bị thu hẹp, Việt Nam thuộc nhóm 15 nước đang phát triển thu hút FDI lớn nhất thế giới.
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2025 đạt 930,07 tỷ USD, tăng 18,2% (tương ứng tăng 143,14 tỷ USD) so với năm 2024; trong đó xuất khẩu đạt 475,06 tỷ USD, tăng 17% (tương ứng tăng 69,12 tỷ USD), nhập khẩu đạt 455,01 tỷ USD, tăng 19,4% (tương ứng tăng 74,02 tỷ USD) so với năm 2024; Cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam trong năm 2025 thặng dư 20,05 tỷ USD, giảm 19,6% so với mức thặng dư 24,95 tỷ USD của năm trước.
Thu NSNN lũy kế 12 tháng ước đạt khoảng 2.635,4 nghìn tỷ đồng, bằng 134% so với dự toán (tăng gần 669 nghìn tỷ đồng, trong đó ngân sách trung ương ước tăng 212 nghìn tỷ đồng; ngân sách địa phương ước tăng 457 nghìn tỷ đồng so với dự toán), tăng 29% so với thực hiện năm 2024.
Về chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm 2025 tăng 3,31%, tính chung cả giai đoạn 2021 - 2025 duy trì dưới 4% cho thấy áp lực giá đã được kiểm soát tốt.
Về công nghiệp và tiêu dùng: Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) năm 2025 tăng khoảng 9,2%, cho thấy hoạt động sản xuất vẫn duy trì động lực mạnh; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2025 tăng hơn 9% so với năm 2024; Du lịch phục hồi với lượng khách quốc tế đạt khoảng 21,17 triệu lượt người, tăng khoảng 20,4% so với năm 2024.
Tác động xã hội và việc làm: Sự phục hồi kinh tế tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động trong năm 2025 với khoảng 52,4 triệu người (tăng 578,3 nghìn người so với 2024) và tăng thu nhập cho người lao động với bình quân/ tháng là 8,4 triệu đồng/người (tăng 8,9%). Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động khoảng 2,22% (giảm nhẹ so với năm 2024) và tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 1,65% (giảm 0,2 điểm % so với năm 2024). Tốc độ tăng năng suất lao động năm 2025 đạt 6,8%, cao hơn mục tiêu (5,3 - 5,4%). Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ năm 2025 ước đạt 29,2%, cao hơn khoảng 0,8% so với năm 2024.
Động lực tăng trưởng 2025
Tăng trưởng năm 2025 được kéo bởi ba động lực trụ cột chính: (i) Cầu nội địa phục hồi, thể hiện ở mức tăng tiêu dùng và dịch vụ; (ii) Xuất khẩu tăng mạnh với xuất siêu ước đạt trên 20 tỷ USD; (iii) Giải ngân đầu tư công được đẩy mạnh, tạo nhiên liệu cho hạ tầng và logistics. Sự phối hợp chính sách tài khóa tích cực (tăng chi đầu tư) và chính sách tiền tệ thận trọng đã giúp duy trì ổn định vĩ mô. Khi so sánh số liệu năm 2025 và 2024, có thể thấy rõ những điểm sáng và hạn chế, cụ thể:
Điểm sáng: Tăng trưởng GDP đạt 8,02% và có tính bền vững cho thấy nền kinh tế phục hồi toàn diện từ tiêu dùng nội địa, sản xuất công nghiệp và dịch vụ, xuất nhập khẩu, phát triển hạ tầng…
Tốc độ tăng thu ngân sách và mức tăng kim ngạch xuất khẩu là hai điểm nổi bật của năm 2025. Thu NSNN tăng gần 30% so cùng kỳ năm 2024 cho thấy hiệu quả huy động nguồn thu từ phục hồi sản xuất và thương mại; Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2025 tăng 18,2% so với năm 2024 và thuộc nhóm 20 nền kinh tế dẫn đầu thế giới, trong đó xuất khẩu đạt 475 tỷ USD, tăng 17% cho thấy lợi thế cạnh tranh của một số ngành như chế biến, chế tạo, điện tử và dệt may, nhập khẩu đạt 455 tỷ USD, tăng 19,4% và xuất siêu ước đạt 20 tỷ USD cho thấy nền kinh tế nước ta duy trì tăng trưởng xuất khẩu giúp cân đối ngoại thương.
Giải ngân vốn đầu tư công đến hết tháng 12/2025 đạt khoảng 755,14 nghìn tỷ đồng, đạt 82,7% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, cao hơn 2,4% về tỷ lệ và gần 206,6 nghìn tỷ đồng về số tuyệt đối so với cùng kỳ năm 2024.
Thị trường tài chính, tiền tệ, ngoại hối phát triển cơ bản ổn định; thị trường chứng khoán đã được nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp, quy mô vốn hoá thị trường chứng khoán đến hết năm 2025 đạt gần 9,98 triệu tỷ đồng, tương đương 77,9% GDP năm 2025.
Ổn định vĩ mô và kiểm soát lạm phát khi mức tăng CPI dưới mức mục tiêu Quốc hội đề ra giúp giữ ổn định sức mua và niềm tin thị trường - điều rất quan trọng khi nỗ lực đạt tăng trưởng bền vững trong năm 2026.
Về hạn chế: Dù GDP tăng nhanh, nguy cơ phụ thuộc vào khu vực FDI và biến động thị trường bên ngoài vẫn tồn tại. Một số tháng cuối 2025 có hiện tượng xuất khẩu giảm so với tháng trước, cảnh báo về biến động ngắn hạn. Ngoài ra, giải ngân đầu tư công còn chậm ở một vài dự án do khâu thủ tục chuẩn bị.

Mục tiêu tăng trưởng và giải pháp cho năm 2026
Mục tiêu:
Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng ở mức 10% trở lên, đi kèm với mục tiêu kiểm soát lạm phát trong năm 2026, dựa trên đà phục hồi mạnh mẽ và các chính sách kích thích kinh tế mới là hoàn toàn có căn cứ và mang tính khả thi cao.
Với nỗ lực đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và thu hút đầu tư: Tiếp tục là trọng tâm để giảm phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống và tăng sức bền kinh tế trong bối cảnh toàn cầu có nhiều biến động là hướng đi đúng và sẽ đem lại hiệu quả thành công cao của Việt Nam trong năm 2026.
Tuy nhiên, chúng ta cần xác định rõ một số thách thức vẫn hiện hữu, đó là: Áp lực từ tình hình kinh tế thế giới với lạm phát toàn cầu, rủi ro chu kỳ suy thoái ở một số nền kinh tế lớn và căng thẳng thương mại có thể ảnh hưởng tới xuất khẩu và đầu tư nước ngoài. Bối cảnh cạnh tranh từ các nền kinh tế mới nổi khác trong ASEAN đòi hỏi Việt Nam phải tăng cường năng lực cạnh tranh qua đổi mới, phát triển ứng dụng công nghệ và nâng cao chất lượng lao động.

Thành tựu về tăng trưởng năm 2025 tạo đà vững chắc cho triển vọng tăng trưởng năm 2026 cao hơn. Bên cạnh đó, sự kết hợp giữa kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tiêu dùng, thúc đẩy đầu tư và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu là các yếu tố then chốt để hiện thực hoá mục tiêu tăng trưởng trên 10%.
Giải pháp:
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế, pháp luật để đảm bảo theo kịp yêu cầu phát triển; cơ chế, chính sách cần đủ mạnh để khai thác hiệu quả nguồn lực từ con người, thiên nhiên, văn hóa và để bảo vệ môi trường; cần đẩy nhanh việc rà soát, sửa đổi các văn bản pháp luật, đơn giản hoá thủ tục hành chính, từ đó tăng tính minh bạch, chống tiêu cực, tham nhũng để củng cố lòng tin nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Thứ hai, cần tăng cường chất lượng đầu tư công và thu hút FDI theo chiều sâu: Ưu tiên giải ngân nhanh để đảm bảo hiệu quả vốn đầu tư công cho các dự án chiến lược như công nghệ cao, cơ sở hạ tầng và logistics, năng lượng sạch, phát triển sản xuất “xanh” và tăng giá trị gia tăng trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Thúc đẩy các hiệp định thương mại (FTA) hiệu quả, đồng thời có các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tăng năng lực cạnh tranh quốc tế.
Thứ ba, về chính sách tài khóa, tiền tệ: Ưu tiên đầu tư có hiệu quả vào hạ tầng chiến lược như logistics, công nghệ cao, hạ tầng số. Cải cách về thuế nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Hệ thống ngân hàng cần duy trì lãi suất linh hoạt nhằm kiểm soát lạm phát nhưng không bóp nghẹt tín dụng cho doanh nghiệp, tránh ảnh hưởng tới sản xuất và hoạt động xuất khẩu. Đồng thời tăng cường quản lý tỷ giá, dự trữ ngoại hối để giảm rủi ro trong thương mại quốc tế.
Thứ tư, đẩy mạnh đầu tư phát triển hạ tầng số và chuyển đổi số cho doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs); đẩy mạnh phát triển hệ thống hạ tầng số quốc gia (ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), phát triển mạng 5G/6G, thanh toán số), nhằm hỗ trợ doanh nghiệp tăng hiệu quả sản xuất, giảm chi phí vận hành và tăng khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Thứ năm, thúc đẩy thương mại và chuỗi giá trị: Cần đa dạng hoá thị trường xuất khẩu, tiếp tục mở rộng thị trường mới (như thị trường Mỹ Latinh, Trung Đông, châu Phi) để giảm rủi ro lệ thuộc vào các thị trường truyền thống, nâng cao năng lực cạnh tranh; đa dạng hóa hàng hóa xuất khẩu, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao tỷ lệ nội địa hóa trong sản xuất, giảm rủi ro từ chuỗi cung ứng toàn cầu.
Thứ sáu, phát triển thị trường lao động và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Đẩy mạnh đào tạo, nâng cao kỹ năng lao động, đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu công nghiệp 4.0, công nghệ cao và dịch vụ chất lượng cao. Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào đào tạo, liên kết với các trường Đại học, đào tạo nghề để nâng cao chất lượng đào tạo, từ đó nâng cao năng suất lao động trong nền kinh tế số.
Quốc Huy
Nguồn: Trung tâm Thông tin kinh tế, tài chính và thống kê