Nhìn lại thị trường lao động, việc làm ở nước ta năm 2025 và giải pháp phát triển năm 2026

11/02/2026 09:55


Thị trường lao động năm 2025 ở nước ta đã ghi nhận nhiều điểm sáng đáng chú ý như quy mô lao động, việc làm, thu nhập của người lao động đều tăng, thất nghiệp ở mức thấp và cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên, những tồn tại, hạn chế về lao động phi chính thức, việc làm bền vững, chất lượng lao động và vấn đề thất nghiệp trong thanh niên vẫn là các “điểm tối” cần được quan tâm và cần có những giải pháp khắc phục trong thời gian tới.

Tình hình thị trường lao động năm 2025

Điểm sáng của thị trường

Quy mô lực lượng lao động và lao động có việc làm tăng đáng kể. Lực lượng lao động đạt 53,5 triệu người, tăng 589,5 nghìn người so với năm trước; số người có việc làm đạt 52,4 triệu người, tăng 578,3 nghìn người, phản ánh xu hướng phục hồi và ổn định tương đối của thị trường lao động trong nước.

Cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực, phù hợp với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và góp phần nâng cao năng suất lao động của nền kinh tế. Lao động khu vực dịch vụ, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng cả về quy mô và tỷ trọng, trong khi lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục giảm. Cụ thể, lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 25,7% tổng số lao động có việc làm của nền kinh tế, đạt mục tiêu đặt ra từ 25 - 26% tại Nghị quyết số 01 và Nghị quyết số 154, giảm 3,4 điểm phần trăm so với năm 2021; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 33,5%, tăng 0,4 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ chiếm 40,8%, tăng 3,0 điểm phần trăm, khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của khu vực này trong tạo việc làm, gắn với phục hồi tiêu dùng trong nước, du lịch, vận tải và thương mại.

hjf

Chất lượng lao động ngày càng được cải thiện. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có văn bằng, chứng chỉ đạt 29,2%, đạt mục tiêu đặt ra từ 29 - 29,5% tại Nghị quyết số 01 và Nghị quyết số 154, tăng 0,8 điểm phần trăm so với năm 2024. Mặc dù mức tăng chưa lớn, song xu hướng này cho thấy nỗ lực của Nhà nước và xã hội trong nâng cao trình độ, kỹ năng cho người lao động, tạo nền tảng để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và thích ứng với yêu cầu của thị trường lao động hiện đại.

Thu nhập của người lao động ngày càng tăng. Thu nhập bình quân một lao động làm việc đạt khoảng 8,4 triệu đồng/tháng, tăng 8,9% so với năm trước. Đặc biệt, quý IV/2025 đạt 8,7 triệu đồng/ tháng. Mức tăng thu nhập cao hơn ở những tháng cuối năm phản ánh sự khởi sắc của sản xuất, kinh doanh và nhu cầu lao động, đồng thời góp phần cải thiện mức sống và an sinh xã hội của người lao động.

Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm ở mức thấp. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,22%, giảm nhẹ so với năm trước. Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động giảm xuống 1,65%, cho thấy thị trường lao động cơ bản ổn định trong bối cảnh nền kinh tế duy trì tăng trưởng.

Hạn chế và khó khăn của thị trường

Bên cạnh những kết quả tích cực của thị trường lao động năm 2025 như đã nêu trên, có thể thấy vẫn còn một số hạn chế, khó khăn đáng kể như sau:

Tỷ lệ lao động phi chính thức còn cao. Mặc dù có xu hướng giảm, tỷ lệ lao động phi chính thức chung vẫn chiếm 63,1% tổng số lao động có việc làm trong năm. Điều này phản ánh tính bền vững của việc làm chưa cao, nhiều lao động chưa được bảo đảm đầy đủ về hợp đồng, bảo hiểm xã hội và các quyền lợi cơ bản, tiềm ẩn rủi ro về an sinh xã hội trong dài hạn.

Thất nghiệp và thiếu việc làm trong thanh niên vẫn ở mức cao. Bên cạnh đó, còn khoảng 1,4 triệu thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo. Điều này cho thấy những khó khăn của thanh niên trong quá trình tìm kiếm việc làm.

Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng vẫn ở mức gần 4%, tương đương hơn 2 triệu người. Điều này cho thấy thị trường lao động vẫn tồn tại tình trạng dư cung cục bộ, đặc biệt ở khu vực nông thôn và trong các nhóm lao động lớn tuổi, trình độ, chuyên môn thấp.

Giải pháp phát triển thị trường lao động năm 2026

Để thị trường lao động năm 2026 có bước phát triển hơn năm 2025, có thể triển khai đồng bộ các giải pháp sau đây:

(1) Giảm tỷ lệ lao động phi chính thức, nâng cao tính bền vững của việc làm

Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về lao động và việc làm theo hướng khuyến khích chuyển dịch lao động từ khu vực phi chính thức sang khu vực chính thức. Đẩy mạnh hỗ trợ hộ kinh doanh cá thể, doanh nghiệp nhỏ và vừa trong đăng ký hoạt động, quản lý lao động và tham gia bảo hiểm xã hội. Mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp nhằm bảo đảm quyền lợi của người lao động và giảm rủi ro an sinh xã hội.

(2) Giảm tình trạng thiếu việc làm, đặc biệt là thiếu việc làm ở khu vực nông thôn

Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động, nhất là tại khu vực nông thôn và trong các ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản. Khuyến khích phát triển công nghiệp chế biến, dịch vụ và các ngành phi nông nghiệp tại nông thôn nhằm tạo thêm việc làm có thu nhập ổn định. Tăng cường đào tạo nghề, đào tạo lại cho lao động nông thôn để nâng cao khả năng thích ứng với yêu cầu của thị trường lao động.

(3) Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực, giảm lao động không sử dụng hết tiềm năng

Tăng cường các chương trình đào tạo lại, nâng cao kỹ năng cho lao động lớn tuổi và lao động có trình độ thấp nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động, nâng cao hiệu quả kết nối cung - cầu lao động giữa các vùng, ngành và địa phương.

(4) Nâng cao chất lượng cho lao động thanh niên

Đổi mới nội dung và phương thức giáo dục nghề nghiệp theo hướng sát với nhu cầu của thị trường lao động. Đẩy mạnh liên kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp; mở rộng mô hình đào tạo gắn với thực hành, thực tập và đào tạo theo đặt hàng. Triển khai hiệu quả các chương trình hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp, tạo việc làm và phát triển kỹ năng nghề cho thanh niên. Trong bối cảnh chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo diễn ra mạnh mẽ, nâng cao năng lực sử dụng công nghệ số cho lao động thanh niên là yêu cầu thiết yếu và bắt buộc để tạo dựng được đội ngũ lao động thanh niên chất lượng cao.

NVT

Nguồn: Trung tâm Thông tin kinh tế, tài chính và thống kê