Nghị quyết 68 và 79 của Bộ Chính trị: Đôi cánh để nền kinh tế Việt Nam vươn mình bứt phá

07/04/2026 14:50


Phát triển kinh tế nhà nước (KTNN) và kinh tế tư nhân (KTTN) được xác định là 2 trụ cột ngày càng quan trọng và cấp thiết trong quá trình đổi mới và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta. Chính vì vậy, mới đây, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW (NQ68) về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 79-NQ/TW (NQ79) về phát triển kinh tế nhà nước. Theo đó, phát triển KTTN với vai trò là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, KTNN giữ vai trò chủ đạo trong việc định hướng và bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô. Đây được coi là “đôi cánh” để nền kinh tế Việt Nam khơi thông sức mạnh, hợp lực bứt phá trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

3-2

Tình hình phát triển kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân thời gian qua

Sau gần bốn thập kỷ đổi mới, cơ cấu các thành phần kinh tế ở Việt Nam đã có sự chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng phù hợp với cơ chế thị trường. Trong đó, khu vực KTNN và khu vực KTTN đều có những bước phát triển đáng kể, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô.

Đối với khu vực KTNN, vai trò chủ đạo trước hết thể hiện ở việc nắm giữ các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. Các doanh nghiệp nhà nước hiện hoạt động chủ yếu trong các ngành có tính nền tảng như năng lượng, viễn thông, tài chính - ngân hàng, khai khoáng, kết cấu hạ tầng và một số ngành công nghiệp trọng điểm. Đây là những lĩnh vực đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài và có ý nghĩa chiến lược đối với an ninh kinh tế quốc gia cũng như ổn định kinh tế vĩ mô.

Mặc dù số lượng doanh nghiệp nhà nước không nhiều so với tổng số doanh nghiệp của nền kinh tế, song khu vực này vẫn nắm giữ nguồn lực tài sản rất lớn và đóng góp đáng kể vào tổng sản phẩm trong nước. Theo các số liệu tổng hợp, khu vực KTNN hiện đóng góp khoảng 25 - 30% GDP và giữ vai trò chủ lực trong nhiều dự án đầu tư quy mô lớn của quốc gia. Đồng thời, khu vực này cũng đóng vai trò quan trọng trong việc dẫn dắt đầu tư, phát triển kết cấu hạ tầng và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.

Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của khu vực KTNN vẫn còn một số hạn chế. Ở một số doanh nghiệp, hiệu quả sử dụng vốn chưa tương xứng với nguồn lực nắm giữ; năng lực quản trị và đổi mới sáng tạo còn chậm so với yêu cầu của nền kinh tế thị trường hiện đại. Bên cạnh đó, quá trình cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là cổ phần hóa và thoái vốn, ở một số lĩnh vực vẫn diễn ra chậm so với mục tiêu đề ra.

Trong khi đó, khu vực KTTN đã có bước phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và quy mô. Hiện nay, cả nước có khoảng 940 nghìn doanh nghiệp tư nhân và khoảng 5 triệu hộ kinh doanh cá thể đang hoạt động. Khu vực này đóng góp gần 50% GDP của nền kinh tế và tạo việc làm cho hơn 80% lực lượng lao động xã hội.

Không chỉ tăng nhanh về số lượng, nhiều doanh nghiệp tư nhân đã từng bước lớn mạnh, hình thành các tập đoàn kinh tế có quy mô đáng kể và có khả năng cạnh tranh trong khu vực. Một số doanh nghiệp tư nhân đã tham gia đầu tư vào các lĩnh vực trước đây chủ yếu do khu vực nhà nước đảm nhiệm, như hạ tầng, hàng không, năng lượng và công nghiệp chế biến.

Tuy vậy, khu vực KTTN vẫn còn nhiều hạn chế. Phần lớn doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, năng lực tài chính còn hạn chế; khả năng tiếp cận vốn, đất đai và công nghệ vẫn gặp nhiều khó khăn. Trình độ quản trị và năng lực đổi mới sáng tạo của nhiều doanh nghiệp còn thấp, khiến khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu còn hạn chế.

Những hạn chế này cho thấy yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển, vừa nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực KTNN, vừa khơi thông tiềm năng của khu vực KTTN.

Đôi cánh để nền kinh tế Việt Nam vươn mình bứt phá

Nghiên cứu cho thấy, việc đưa NQ68 và NQ79 vào đời sống sẽ tác động ngày càng tích cực và sâu rộng đến phát triển kinh tế - xã hội của đất nước thông qua nhiều kênh khác nhau bởi các cơ chế được thiết kế theo hướng vừa củng cố vai trò dẫn dắt của khu vực KTNN, vừa khơi thông động lực phát triển của khu vực KTTN, qua đó kiến tạo cơ cấu của nền kinh tế vận hành theo hướng hợp lực để cùng bứt phá phát triển. Nói cách khác, việc hiện thực hoá 2 Nghị quyết chính là tăng cường sức mạnh nội tại cho nền kinh tế không chỉ phát triển nhanh và bền vững, mà còn tạo được đà và thế đủ mạnh khi phải chống chọi với các cú sốc từ bên ngoài nếu có. Điều này có thể được lý giải như sau:

Thứ nhất, hai Nghị quyết đều đặt trọng tâm vào cải cách thể chế và nâng cao chất lượng quản trị. NQ79 yêu cầu tăng cường minh bạch, kỷ luật và phân định rõ chức năng giữa các cơ quan trong quản lý doanh nghiệp nhà nước, bao gồm chức năng quản lý nhà nước, chức năng đại diện chủ sở hữu vốn và chức năng thực hiện chính sách xã hội. Đồng thời, nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh từ phương thức quản lý hành chính sang phương thức “kiến tạo phát triển”, qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực KTNN.

Trong khi đó, NQ68 tập trung cải thiện môi trường đầu tư - kinh doanh cho khu vực KTTN. Một mục tiêu quan trọng là cắt giảm mạnh thủ tục hành chính, giảm khoảng 30% thời gian và chi phí thực hiện các thủ tục cho doanh nghiệp, đồng thời xóa bỏ các rào cản mang tính “xin - cho”. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong cung cấp dịch vụ công cho doanh nghiệp cũng góp phần nâng cao tính minh bạch và hiệu quả của bộ máy quản lý. Nhờ đó, doanh nghiệp tư nhân có thể hoạt động trong môi trường cạnh tranh bình đẳng và thuận lợi hơn khi gia nhập hoặc rút khỏi thị trường.

Thứ hai, hai Nghị quyết đều nhấn mạnh vai trò của đầu tư và phát triển hạ tầng như một nền tảng cho tăng trưởng dài hạn. NQ79 yêu cầu hoàn thiện quy hoạch và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, ưu tiên các công trình liên vùng quy mô lớn như giao thông, năng lượng và logistics. Đáng chú ý là việc mở rộng hình thức hợp tác công - tư (PPP) nhằm huy động nguồn lực xã hội cho phát triển hạ tầng.

Cơ chế này không chỉ giúp giảm gánh nặng ngân sách nhà nước mà còn tạo điều kiện để doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân cùng tham gia các dự án lớn của quốc gia. Đồng thời, NQ68 cũng đưa ra nhiều chính sách hỗ trợ khu vực tư nhân tiếp cận đất đai và hạ tầng sản xuất, đặc biệt là phát triển hạ tầng khu công nghiệp và khu công nghệ cao. Những chính sách này góp phần giảm chi phí đầu tư và tạo điều kiện để doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất.

Thứ ba, các chính sách trong hai Nghị quyết cũng hướng tới mở rộng khả năng tiếp cận vốn và thị trường cho doanh nghiệp. NQ68 đưa ra nhiều giải pháp nhằm đa dạng hóa nguồn vốn cho doanh nghiệp tư nhân, như phát triển thị trường vốn, khuyến khích phát hành cổ phiếu và trái phiếu, thu hút đầu tư nước ngoài và tăng cường liên kết với các chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời, nghị quyết cũng tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân tham gia vào nhiều lĩnh vực kinh doanh hơn, kể cả những lĩnh vực trước đây chủ yếu do doanh nghiệp nhà nước đảm nhiệm.

Trong khi đó, NQ79 tập trung nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp, thông qua việc tách bạch rõ ràng giữa vốn nhà nước và chức năng quản lý hành chính. Những cải cách này giúp nâng cao hiệu quả đầu tư công và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc huy động nguồn lực cho các dự án phát triển.

Thứ tư, hai Nghị quyết đều nhấn mạnh vai trò của đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực. NQ68 khuyến khích mạnh mẽ hoạt động khởi nghiệp sáng tạo và đầu tư cho nghiên cứu - phát triển, đồng thời thúc đẩy doanh nghiệp tư nhân tham gia sâu hơn vào các ngành kinh tế mới trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trong khi đó, NQ79 đặt ra các chuẩn mực quản trị hiện đại cho doanh nghiệp nhà nước và chú trọng đào tạo đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp có năng lực. Điều này nhằm bảo đảm doanh nghiệp nhà nước không chỉ giữ vai trò dẫn dắt trong các ngành then chốt mà còn tiên phong trong đổi mới công nghệ và quản trị.

Thứ năm, cả hai Nghị quyết đều hướng tới việc xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh và minh bạch. NQ68 nghiêm cấm các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, bảo hộ cục bộ hoặc ưu đãi ngầm cho một số doanh nghiệp. Trong khi đó, NQ79 khẳng định khu vực KTNN hoạt động bình đẳng trước pháp luật với các khu vực kinh tế khác và cùng tham gia cạnh tranh trên thị trường.

Nhìn tổng thể, NQ79 có thể được xem là nền tảng thể chế và nguồn lực cho sự phát triển ổn định của nền kinh tế, trong khi NQ68 đóng vai trò khơi dậy động lực sáng tạo và mở rộng không gian phát triển cho khu vực KTTN. Khi hai khu vực kinh tế này cùng phát huy hiệu quả vai trò của mình, nền kinh tế Việt Nam sẽ có thêm động lực để nâng cao năng suất, mở rộng quy mô sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Chính sự kết hợp đó đã thể hiện rõ tư duy phát triển “đôi cánh” của nền kinh tế, trong đó KTNN và KTTN cùng vận hành và bổ trợ lẫn nhau, tạo sức bật cho nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.

Anh Tuấn

Nguồn: Trung tâm Thông tin kinh tế, tài chính và thống kê