Điều chỉnh phân vùng kinh tế - xã hội và một số định hướng lớn cho các vùng sau sắp xếp đơn vị hành chính
19/12/2025 16:32
Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, tổ chức không gian phát triển theo vùng kinh tế - xã hội luôn là một nội dung có ý nghĩa quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và bảo đảm phát triển hài hòa, bền vững giữa các vùng, các địa phương. Hệ thống phân vùng kinh tế - xã hội được xác lập từ năm 2001 trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2010 và được duy trì cho đến năm 2025 góp phần quan trọng trong việc định hướng xây dựng các quy hoạch vùng và hoạch định chính sách phát triển theo lãnh thổ. Hiện nay, bối cảnh phát triển đất nước đã có nhiều thay đổi căn bản, đặc biệt là việc thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính các cấp trong thời gian vừa qua. Quá trình này không chỉ làm thay đổi địa giới hành chính, mà còn tạo ra những không gian phát triển mới, với các tỉnh, thành phố có quy mô lớn hơn, nguồn lực tập trung hơn. Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết phải điều chỉnh tổ chức phát triển vùng cho phù hợp với thực tiễn mới, Nghị quyết số 252/2025/QH15 ngày 10/12/2025 của Quốc hội về điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã điều chỉnh lại phân vùng kinh tế - xã hội theo đơn vị hành chính mới sau sắp xếp. Bài viết tập trung làm rõ quá trình điều chỉnh phân vùng kinh tế - xã hội, phân tích những thay đổi chủ yếu về không gian phát triển các vùng, đồng thời khái quát các định hướng lớn cho từng vùng trong bối cảnh mới.
Phương án phân vùng kinh tế - xã hội sau sắp xếp đơn vị hành chính
Phân vùng kinh tế - xã hội gần đây nhất theo hệ thống đơn vị hành chính gồm 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trước ngày 01/7/2025 gồm 6 vùng kinh tế - xã hội được xác định từ cách đây 25 năm tại Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 và thể chế hóa tại Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 của Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội. Nhìn chung các địa phương trong mỗi vùng cơ bản tương đồng về điều kiện tự nhiên, lịch sử, văn hóa, dân cư… và có mối quan hệ nhất định về kinh tế, xã hội, kết nối kết cấu hạ tầng, gắn với các lưu vực sông lớn. Phương án phân vùng này đã là cơ sở cho việc xây dựng các Nghị quyết của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội các vùng, lập quy hoạch vùng và hoạch định các chính sách phát triển vùng trong các giai đoạn trước đây.

Vùng đồng bằng sông Hồng (Nguồn: baochinhphu.vn)
Mặc dù đã có lúc vấn đề phân lại vùng kinh tế - xã hội được đặt ra nhưng để bảo đảm tính ổn định, hệ thống 06 vùng kinh tế - xã hội vẫn được duy trì và tiếp tục là cơ sở cho các quy hoạch vùng thời kỳ 2021 - 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (trong các năm 2020 và 2024).
Việc nước ta thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính các cấp vừa qua đã tạo ra một bối cảnh hoàn toàn mới cho phát triển vùng, đòi hỏi phải điều chỉnh phân vùng kinh tế - xã hội. Khi sắp xếp, một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương của một vùng sáp nhập với địa phương vùng khác. Tuy nhiên, phân vùng lại không chỉ mang tính kỹ thuật do thay đổi địa giới hành chính mà phải hướng tới mục tiêu quan trọng hơn tạo sự bổ trợ lẫn nhau giữa các địa phương để khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế của vùng, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao của cả nước trong giai đoạn tới.
Trên cơ sở đó, Bộ Tài chính đã xây dựng phương án điều chỉnh phân vùng kinh tế - xã hội theo hệ thống đơn vị hành chính mới sau sáp nhập các tỉnh, thành phố; báo cáo Chính phủ trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định. Ngày 10/12/2025, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 252/2025/QH15 về điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; trong đó đã thể chế hóa hệ thống phân vùng kinh tế - xã hội mới gồm 06 vùng:
- Vùng Trung du và miền núi phía Bắc gồm 9 tỉnh: Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Phú Thọ, Lào Cai, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên.
- Vùng Đồng bằng sông Hồng gồm 6 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình.
- Vùng Bắc Trung Bộ gồm 5 tỉnh, thành phố: Huế, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị.
- Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên gồm 6 tỉnh, thành phố: Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa, Lâm Đồng.
- Vùng Đông Nam Bộ gồm 3 tỉnh, thành phố: Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Tây Ninh.
- Vùng Đồng bằng sông Cửu Long gồm 5 tỉnh, thành phố: Cần Thơ, Đồng Tháp, Vĩnh Long, An Giang, Cà Mau.
Như vậy, nước ta tiếp tục được chia thành 06 vùng kinh tế - xã hội nhưng có sự thay đổi về phạm vi không gian của từng vùng. Phương án phân vùng mới đã đưa một số địa phương trước đây có mức độ gắn kết về phát triển công nghiệp, dịch vụ theo chuỗi cung ứng và phát triển đô thị vào các vùng tương ứng (như tỉnh Long An cũ đối với vùng Đông Nam Bộ, tỉnh Bắc Giang cũ đối với vùng Đồng bằng sông Hồng). Đồng thời, việc hình thành 2 vùng Bắc Trung Bộ và vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên trong phương án phân vùng mới đã khắc phục hạn chế của vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung trước đây là khoảng cách quá dài, các tỉnh không có sự liên kết thực chất; đồng thời tạo ra chuỗi liên kết không gian biển - cao nguyên gắn với thúc đẩy các hành lang Đông - Tây.
Định hướng phát triển các vùng và liên kết vùng
Cùng với điều chỉnh phân vùng, các vùng kinh tế - xã hội được định hướng phát triển các ngành chủ đạo trên cơ sở các tiềm năng, lợi thế đặc thù, nổi trội của vùng và gắn với vị trí, vai trò từng vùng trong phát triển của đất nước, cụ thể như sau:
- Vùng Trung du và miền núi phía Bắc phát triển theo hướng xanh, bền vững và toàn diện. Tập trung bảo vệ rừng khôi phục rừng gắn với bảo đảm an ninh nguồn nước và phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững. Phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo, năng lượng, ưu tiên công nghiệp cơ khí chế tạo, điện tử, công nghệ số; đẩy mạnh dịch vụ logistics trên cơ sở khai thác lợi thế các cửa khẩu quốc tế và các tuyến đường sắt kết nối quốc tế; phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, hữu cơ, đặc sản, mở rộng diện tích cây ăn quả, dược liệu. Phát triển kinh tế cửa khẩu. Hình thành các trung tâm du lịch, sản phẩm du lịch mang đặc trưng riêng của vùng.
- Vùng Đồng bằng sông Hồng là vùng động lực phát triển hàng đầu, có vai trò định hướng, dẫn dắt quá trình cơ cấu lại nền kinh tế và xác lập mô hình tăng trưởng mới của đất nước. Tập trung phát triển các ngành sản xuất công nghiệp và dịch vụ hiện đại. Xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo, đi đầu trong phát triển khoa học, công nghệ. Phát triển các khu kinh tế ven biển, khu thương mại tự do nhằm thu hút đầu tư các ngành công nghiệp và dịch vụ chất lượng cao. Phát triển các đô thị vệ tinh để giảm sức ép tại các đô thị lớn; sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên đất. Phát triển kinh tế biển, xây dựng trung tâm kinh tế biển hiện đại, mang tầm quốc tế, hàng đầu ở Đông Nam Á.
- Vùng Bắc Trung Bộ phát triển mạnh kinh tế biển; nâng cao hiệu quả hệ thống cảng biển, các khu kinh tế ven biển, khu công nghiệp; ưu tiên phát triển các khu kinh tế ven biển tập trung vào một số ngành trọng điểm phù hợp với các địa phương, tạo đột phá tăng trưởng. Phát triển du lịch biển, đảo, du lịch sinh thái và du lịch văn hóa - lịch sử. Cơ cấu lại nông, lâm nghiệp, khai thác, nuôi trồng thủy sản gắn với công nghiệp chế biến, bảo đảm bền vững và hiệu quả cao.
- Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế, công nghiệp sạch; đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, năng lượng tái tạo. Phát triển kinh tế nông nghiệp hiệu quả cao với quy mô phù hợp; nâng cao hiệu quả phát triển cây công nghiệp, mở rộng diện tích cây ăn quả, dược liệu, rau, hoa. Phát triển các trung tâm du lịch lớn gắn với tiềm năng đặc thù của mỗi khu vực, hình thành các tuyến du lịch kết nối chuỗi không gian núi - rừng - biển và không gian văn hóa - di sản.
Tại khu vực duyên hải đẩy mạnh kinh tế biển, phát triển nhanh các ngành công nghiệp mới, công nghiệp công nghệ cao, công nghệ số; phát triển chuỗi đô thị ven biển. Đối với khu vực trung du, miền núi và cao nguyên, đặc biệt quan tâm bảo vệ rừng gắn với bảo đảm an ninh nguồn nước; phát triển bền vững công nghiệp khai thác bô-xít, chế biến alumin, sản xuất nhôm; phát triển các khu kinh tế cửa khẩu, thúc đẩy hoạt động thương mại, đầu tư.
- Vùng Đông Nam Bộ trở thành vùng phát triển năng động, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, động lực tăng trưởng lớn nhất cả nước; trung tâm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, công nghiệp công nghệ cao, logistics và trung tâm tài chính quốc tế có tính cạnh tranh cao trong khu vực; đi đầu trong đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển đổi số. Phát triển các khu công nghiệp - dịch vụ - đô thị hiện đại, các khu công nghiệp chuyên ngành, khu công nghệ cao; hình thành vùng động lực công nghiệp công nghệ số. Phát triển vùng trở thành trung tâm dịch vụ của khu vực Đông Nam Á về tài chính, thương mại, du lịch, giao lưu quốc tế. Phát triển mạnh kinh tế biển. Nâng cao hiệu quả phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi tập trung. Giải quyết cơ bản tình trạng ô nhiễm môi trường, tắc nghẽn giao thông và ngập úng.
- Vùng Đồng bằng sông Cửu Long phát triển trở thành trung tâm kinh tế nông nghiệp hiện đại, bền vững, năng động và hiệu quả cao của cả nước, khu vực và thế giới. Chuyển đổi cơ cấu sản phẩm chủ lực theo hướng giảm lúa gạo, tăng trái cây và thủy sản; sử dụng đất nông nghiệp linh hoạt, hiệu quả hơn. Phát triển công nghiệp xanh, năng lượng tái tạo; chú trọng phát triển công nghiệp chế biến, công nghiệp phục vụ nông nghiệp. Phát triển mạnh kinh tế biển. Phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long trở thành thương hiệu quốc tế về du lịch nông nghiệp, nông thôn, du lịch sinh thái và du lịch biển, đảo. Chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng; phòng, chống sạt lở, xâm nhập mặn.
Một điểm xuyên suốt trong định hướng phát triển các vùng là yêu cầu tăng cường liên kết vùng gắn với khai thác không gian phát triển mới. Liên kết vùng được tổ chức chủ yếu thông qua hệ thống hành lang kinh tế, trong đó trục hành lang Bắc - Nam giữ vai trò xương sống kết nối các vùng động lực, các đô thị lớn và trung tâm kinh tế; trong khi đó, các hành lang Đông - Tây giúp mở rộng không gian phát triển từ nội địa ra biển, từ vùng núi, cao nguyên ra đồng bằng và ven biển, đồng thời tăng cường kết nối đối ngoại với các nước trong khu vực. Định hướng đẩy mạnh đầu tư hạ tầng giao thông với cách tiếp cận đồng bộ, đa phương thức để thúc đẩy hình thành, phát triển các hành lang kinh tế, trong đó nhấn mạnh phát triển mạng lưới đường bộ cao tốc, đường vành đai, đường ven biển, đường sắt quốc gia và đường sắt đô thị, kết nối với các cảng biển, cảng hàng không. Bên cạnh đó, liên kết vùng gắn chặt với phát huy vai trò của các đô thị trung tâm và cực tăng trưởng; các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ được xác định là hạt nhân điều phối phát triển vùng, là đầu mối kết nối các hành lang kinh tế, lan tỏa tăng trưởng sang các địa bàn lân cận.
Khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của từng vùng trong thời gian tới
Việc điều chỉnh phân vùng kinh tế - xã hội theo hệ thống đơn vị hành chính mới không chỉ là sự điều chỉnh mang tính kỹ thuật để phù hợp với thay đổi về ranh giới hành chính, mà hướng tới mục tiêu cao hơn là tăng cường liên kết, phát huy tính bổ trợ giữa các địa phương, khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của từng vùng và của cả nền kinh tế. Trên nền tảng kế thừa hệ thống 06 vùng kinh tế - xã hội đã được xác lập từ Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010, phương án phân vùng mới đã có sự điều chỉnh hợp lý về phạm vi và cấu trúc không gian, khắc phục những bất cập trước đây, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc phát huy lợi thế so sánh, tăng cường liên kết và hình thành các động lực phát triển mới.
Cùng với điều chỉnh phân vùng, vai trò, chức năng của mỗi vùng trong tổng thể phát triển quốc gia cũng được xác định rõ hơn. Trên cơ sở đó, các ngành, lĩnh vực chủ đạo được định hướng phát triển phù hợp với tiềm năng, lợi thế từng vùng; đồng thời, làm rõ các tuyến liên kết nội vùng, liên vùng gắn với phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng và phát huy vai trò của các trung tâm vùng.
Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, việc triển khai hiệu quả hệ thống phân vùng kinh tế - xã hội và các định hướng liên kết vùng không chỉ là yêu cầu về quy hoạch, mà là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia trong trung và dài hạn.
Ban Quy hoạch và phát triển vùng
Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính