Đề tài: Thanh tra tài chính đối với dự án đầu tư công tại Việt Nam

26/01/2026 11:55


1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Trong giai đoạn 2018 - 2023, đầu tư công (ĐTC) tại Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển hạ tầng và đảm bảo an sinh xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cũng bộc lộ nhiều hạn chế trong công tác quản lý tài chính, đặc biệt qua hoạt động thanh tra. Theo các báo cáo của Thanh tra Chính phủ và Bộ Tài chính, hàng trăm cuộc thanh tra đã phát hiện nhiều sai phạm nghiêm trọng, với tổng số tiền bị thu hồi và giảm trừ quyết toán lên đến hàng chục nghìn tỷ đồng, cho thấy những lỗ hổng nghiêm trọng trong quản lý tài chính dự án ĐTC. Dù đạt được một số kết quả tích cực, hoạt động thanh tra tài chính hiện vẫn còn nhiều bất cập như nội dung, phạm vi, quy trình, và phương pháp còn chưa phù hợp; hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước. Nhân lực kiểm tra, giám sát tài chính còn mỏng; ứng dụng công nghệ thông tin trong thanh tra còn hạn chế, thiếu hệ thống dữ liệu liên thông giữa các cơ quan. Những hạn chế này dẫn đến sự chồng chéo trong hoạt động thanh tra, bỏ sót các khâu quan trọng và không phát hiện kịp thời các sai phạm lớn, từ đó làm giảm hiệu quả giám sát tài chính.

Trong bối cảnh Đảng và Nhà nước tập trung vào công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí và tăng cường quản lý tài chính công, yêu cầu nâng cao hiệu quả thanh tra tài chính càng trở nên cấp thiết. Luật Thanh tra năm 2022 cũng đã đặt ra khuôn khổ pháp lý mới, đòi hỏi hoạt động thanh tra phải chuyên nghiệp, minh bạch và hiệu quả hơn. Trước thực trạng và yêu cầu đó, cần nghiên cứu những giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra tài chính dự án ĐTC. Từ các căn cứ trên, việc lựa chọn đề tài “Thanh tra tài chính đối với dự án đầu tư công tại Việt Nam” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn nhằm đề xuất các khuyến nghị và giải pháp thiết thực góp phần hoàn thiện hoạt động thanh tra tài chính đối với ĐTC trong thời gian tới.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận và phân tích, đánh giá thực trạng của công tác thanh tra tài chính đối với dự án ĐTC, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra tài chính đối với dự án ĐTC tại Việt Nam.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Thanh tra tài chính đối với dự án ĐTC.

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu hoạt động thanh tra tài chính đối với các dự án ĐTC, tập trung vào Thanh tra Bộ Tài chính - cơ quan thanh tra chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tài chính theo các khía cạnh chính như nội dung thanh tra, phạm vi thanh tra, quy trình thực hiện và phương pháp thanh tra trong giai đoạn 2018 - 2023. Nghiên cứu bao quát cả bối cảnh trước và sau khi Luật ĐTC và Luật Thanh tra mới được ban hành, từ đó đánh giá những thay đổi và tác động trong công tác thanh tra tài chính. Việc lựa chọn nghiên cứu chuyên sâu tại đơn vị này nhằm phản ánh rõ nét thực trạng, đặc thù và những vấn đề nổi bật trong hoạt động thanh tra tài chính dự án ĐTC trong giai đoạn nghiên cứu.

4. Kết quả nghiên cứu

(1) Đề tài đã tổng quan một số vấn đề lý luận chung về công tác thanh tra tài chính đối với dự án ĐTC bao gồm: Khái niệm, đặc điểm và phân loại dự án ĐTC; khái niệm, đặc điểm quản lý tài chính dự án ĐTC, quy trình và nội dung quản lý tài chính ĐTC theo 3 giai đoạn: Chuẩn bị đầu tư; thực hiện dự án đầu tư; kết thúc đầu tư và đưa dự án vào khai thác sử dụng. Đề tài đi sâu vào phân tích khái niệm thanh tra tài chính đối với dự án ĐTC; chủ thể quản lý nhà nước đối với dự án ĐTC bao gồm Chính phủ, cơ quan quản lý tài chính, UBND các cấp và đối tượng thanh tra chính là các chương trình, dự án ĐTC. Đề tài chỉ ra các nội dung thanh tra tài chính và các bước tiến hành một cuộc thanh tra tài chính đối với dự án ĐTC và một số phương pháp chính có thể áp dụng trong hoạt động thanh tra tài chính đối với các dự án ĐTC bao gồm: Phương pháp đối chiếu và so sánh; chọn mẫu; phỏng vấn và phản biện; xác nhận theo từng phần; kiểm tra trực tiếp tại hiện trường; kiểm kê hiện vật đề cập đến việc đếm và đo lường số lượng, khối lượng của các vật tư, tài sản nhằm thu thập thông tin thực tế để xác định giá trị của chúng; điều tra và xác minh tại bên thứ ba; quản lý rủi ro. Bên cạnh đó, đề tài cũng làm rõ tiêu chí đánh giá hoạt động thanh tra tài chính đối với dự án ĐTC và nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thanh tra tài chính đối với dự án ĐTC, bao gồm cả nhân tố nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan. Các nhân tố khách quan bao gồm: Quy định pháp luật về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan thanh tra; quy định pháp luật về nội dung, phạm vi, quy trình và phương pháp thanh tra tài chính dự án ĐTC; sự phối hợp giữa các cơ quan có chức năng thanh tra tài chính đối với dự án ĐTC; nguồn lực đầu tư cho hoạt động thanh tra, quy mô và tính chất của các dự án ĐTC. Các nhân tố chủ quan bao gồm: số lượng, trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ thanh tra; điều kiện về CNTT; cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ hoạt động thanh tra; cơ chế phối hợp giữa các cơ quan thanh tra và kiểm soát sau thanh tra.

(2) Đề tài đã nghiên cứu kinh nghiệm trong quản lý và kiểm tra giám sát dự án ĐTC tại Hàn Quốc và Trung Quốc. Theo đó, công tác quản lý, kiểm tra, giám sát dự án ĐTC của Hàn Quốc được thực hiện bởi Cơ quan Thanh tra và Kiểm toán Hàn Quốc (BAI). Với hoạt động thanh tra được tiến hành đồng thời với hoạt động kiểm toán. Các bước tiến hành thanh tra kiểm tra (TTKT) của BAI khá tương đồng với các bước tiến hành cuộc thanh tra của cơ quan Thanh tra Nhà nước Việt Nam; việc quản lý thực hiện kết quả TTKT của BAI giống với hoạt động đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra, quyết định xử lý của Thanh tra Việt Nam. Tại Trung Quốc, Cơ quan Thanh tra tài chính là một trong những Bộ và cơ quan tương đương. Trung Quốc có nhiều cơ quan thực hiện chức năng thanh tra, kiểm tra, giám sát; song giữa các các cơ quan này có sự phối hợp chặt chẽ đặc biệt giữa cơ quan kiểm tra của Đảng với các cơ quan Giám sát hành chính, Thanh tra tài chính và Kiểm toán nhà nước trong công tác giám sát và xử lý sai phạm của cán bộ, đảng viên. Một trong năm biện pháp cải cách quản lý là tăng cường kiểm soát, theo dõi, quản lý tài vụ xây dựng cơ bản. Trung Quốc đã xây dựng hệ thống chỉ tiêu tổng hợp để kiểm tra, đánh giá tình hình đầu tư xây dựng cơ bản và hệ thống thông tin hai chiều làm cơ sở quan trọng để theo dõi, quản lý và điều tiết, kiểm soát vĩ mô vốn đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước. Đặc biệt, với việc theo dõi thường xuyên đối với các dự án ĐTC, các cơ quan thanh tra, kiểm toán của Trung Quốc được quyền cử cán bộ của mình tham gia vào các bước công việc quan trọng trong quá trình thực hiện dự án để tìm hiểu và đưa ra ý kiến, kiến nghị về tăng cường quản lý, nâng cao tính hiệu quả của dự án và ngăn ngừa tham nhũng. Tính chuyên môn hoá trong quản lý dự án ĐTC ở Trung Quốc khá cao, thể hiện ở việc thành lập cơ quan chuyên trách về đấu thầu và thành lập cơ quan giám định chất lượng công trình xây dựng. Đó là các cơ quan chuyên môn, không chỉ trực tiếp tham gia vào các khâu của quá trình đầu tư xây dựng mà còn tham gia theo dõi, giám sát đối với các dự án sử dụng vốn nhà nước. 

Qua nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, đề tài đã rút ra sáu bài học cho Việt Nam, cụ thể là: (i) ĐTC thường chỉ được coi là hiệu quả khi có đủ năng lực và kỷ luật thực hiện ở tất cả các giai đoạn; (ii) Trong công tác quản lý tài chính công nói chung yếu tố về quản lý hiệu quả kinh tế - xã hội cần được coi là chủ chốt và quan trọng nhất; (iii) Hệ thống thanh tra, kiểm tra, giám sát tài chính muốn hoạt động có hiệu quả, hiệu lực cần nâng cao địa vị pháp lý của các cơ quan chức năng, phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn và tạo sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan này; (iv) Các hệ thống và phương pháp thanh tra, giám sát cải tiến chỉ có thể phát huy hiệu quả khi đội ngũ cán bộ tại cơ quan thanh tra, giám sát được đào tạo đầy đủ; (v) Cần tập trung tăng cường quản lý các dự án ĐTC theo ngành, lĩnh vực; (vi) Để thực hiện thành công cuộc chiến chống tham nhũng, vấn đề then chốt là môi trường pháp lý minh bạch, quy định rõ trách nhiệm giải trình trong quản lý, sử dụng các nguồn lực công và phải có cơ chế kiểm tra, giám sát hoạt động hiệu quả.

(3) Đề tài đã phân tích thực trạng dự án ĐTC tại Việt Nam trong giai đoạn 2018 - 2023 với một số kết quả nổi bật như: Thể chế, chính sách về ĐTC được hình thành và ngày càng hoàn thiện; công tác kế hoạch hóa được đổi mới với tầm nhìn trung hạn; hệ thống kết cấu hạ tầng tiếp tục được cải thiện. Tuy nhiên, vẫn tồn tại một số hạn chế như: Tiến độ giải ngân vốn ĐTC tại nhiều dự án ĐTC còn chậm; nhiều dự án ĐTC còn gặp phải tình trạng chậm tiến độ hoàn thành và đội vốn; thiếu sự phối hợp giữa các địa phương trong công tác quy hoạch, đề xuất và triển khai các dự án ĐTC dẫn đến nhiều dự án trùng lặp; chưa có quy định cụ thể đối với các dự án đầu tư kết nối liên ngành và liên tỉnh; hạn chế trong thể chế, cơ chế quản lý dự án ĐTC.

 Đề tài cũng phân tích thực trạng hoạt động thanh tra tài chính đối với dự án ĐTC tại Việt Nam, trong đó tập trung làm rõ thanh tra tài chính đối với dự án ĐTC tại Thanh tra Bộ Tài chính qua các khía cạnh chủ yếu như nội dung, quy trình, phạm vi, phương pháp thanh tra và mối quan hệ giữa các cơ quan thanh tra tài chính các dự án ĐTC. Qua đó cho thấy, thanh tra tài chính dự án ĐTC đã bao quát toàn diện các hoạt động tài chính; quy trình, nghiệp vụ thanh tra dần được hoàn thiện; phạm vi thanh tra tài chính dự án ĐTC đã bao quát đầy đủ các đối tượng chính và lĩnh vực cụ thể; phát hiện được nhiều sai phạm, vi phạm tại các dự án ĐTC góp phần thu hồi, ngăn chặn thất thoát, lãng phí NSNN; góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách về ĐTC, nâng cao hiệu quả QLNN; nâng cao nhận thức của các cơ quan, đơn vị, cá nhân về vai trò, tầm quan trọng của công tác quản lý dự án ĐTC. Tuy nhiên, công tác thanh tra tài chính đối với các dự án ĐTC vẫn còn một số bất cập, cụ thể là: (i) Nội dung và phạm vi thanh tra còn chồng chéo; (ii) Phương pháp thanh tra của Thanh tra Bộ Tài chính còn chậm đổi mới, mức độ ứng dụng CNTT còn hạn chế; (iii) Cơ chế phối hợp giữa Thanh tra Bộ Tài chính và các cơ quan thanh tra khác chưa hiệu quả; (iv) Tính độc lập trong tổ chức và hoạt động thanh tra cũng như việc xử lý kết quả sau thanh tra vẫn còn bất cập. Các hạn chế trên xuất phát từ cả nguyên nhân chủ quan và một số nguyên nhân khách quan như quy định pháp luật còn thiếu sót và nguồn lực đầu tư của Nhà nước cho cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ hoạt động thanh tra nói chung và thanh tra tài chính dự án ĐTC nói riêng còn hạn chế… 

(4) Đề tài đã phân tích rõ bối cảnh quốc tế và trong nước ảnh hưởng đến hoạt động thanh tra tài chính dự án ĐTC; nêu ra quan điểm, định hướng hoàn thiện thanh tra tài chính đối với dự án công tại Việt Nam. Qua đó, đề tài đã đề xuất 08 nhóm giải pháp hoàn thiện hoạt động thanh tra tài chính đối với dự án ĐTC tại Việt Nam, cụ thể: (i) Xây dựng cơ chế phối hợp giữa Thanh tra Bộ Tài chính và các cơ quan thanh tra khác trong thanh tra tài chính đối với dự án ĐTC; (ii) Sớm ban hành Sổ tay thanh tra tài chính đối với dự án ĐTC; (iii) Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại vào hoạt động thanh tra tài chính đối với dự án ĐTC; (iv) Xây dựng cơ sở dữ liệu chung của toàn ngành thanh tra, trong đó có cơ sở dữ liệu chung về dự án ĐTC và thanh tra tài chính đối với dự án ĐTC; (v) Định kỳ tổ chức các cuộc trao đổi, đối thoại về chuyên môn, nghiệp vụ thanh tra tài chính đối với dự án ĐTC giữa Thanh tra Bộ Tài chính và các cơ quan thanh tra khác; (vi) Tăng cường kiểm soát sau thanh tra và kiểm soát chất lượng cuộc thanh tra tài chính đối với dự án ĐTC; (vii) Tăng cường tính độc lập tương đối của cơ quan thanh tra Bộ trong hoạt động thanh tra tài chính đối với dự án ĐTC; (viii) Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thực hiện thanh tra tài chính đối với dự án ĐTC. Nhóm nghiên cứu cũng đề xuất các kiến nghị với Quốc hội, Chính phủ và Bộ Tài chính để tạo điều kiện thực hiện các giải pháp một cách hiệu quả. Các giải pháp, kiến nghị dựa trên căn cứ thực tiễn, đảm bảo tính khoa học và phù hợp.

5. Thông tin nghiệm thu và lưu trữ

- Nghiệm thu: Đề tài đã được Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu thông qua (Quyết định số 130/QĐ-BTC ngày 23/01/2025 của Bộ Tài chính về việc thành lập Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ KHCN cấp Bộ năm 2024).

- Lưu trữ: Đề tài được đóng quyển, lưu trữ tại Thư viện Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính./.

TS. Nguyễn Văn Bình

Học viện Tài chính