Đề tài: Hoàn thiện xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật thúc đẩy đặt hàng, đấu thầu dịch vụ sự nghiệp công tại Việt Nam

27/01/2026 16:03


1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL), chú trọng “Xây dựng và hoàn thiện các danh mục dịch vụ sự nghiệp công (DVSNC) sử dụng ngân sách nhà nước (NSNN) theo nguyên tắc: Đối với các dịch vụ thiết yếu thì Nhà nước bảo đảm kinh phí; đối với các dịch vụ cơ bản thì Nhà nước hỗ trợ kinh phí để thực hiện; đối với các dịch vụ mang tính đặc thù của một số ngành, lĩnh vực thì thực hiện theo cơ chế đặt hàng hoặc đấu thầu để tạo điều kiện cho các cơ sở ngoài công lập cùng tham gia; đối với các dịch vụ khác thì đẩy mạnh thực hiện theo cơ chế xã hội hóa, huy động sự tham gia cung ứng của các thành phần kinh tế”.

Tự chủ về tài chính mang tính quyết định để ĐVSNCL tự chủ về thực hiện nhiệm vụ và nguồn thu từ hoạt động DVSNC (bao gồm cả nguồn NSNN đặt hàng cung cấp DVSNC theo giá tính đủ chi phí) chính là yếu tố quan trọng trong nguồn tài chính của đơn vị. Định mức kinh tế - kỹ thuật (ĐMKTKT) là căn cứ để các cơ quan có thẩm quyền xây dựng, phê duyệt đơn giá, giá dịch vụ, dự toán kinh phí cung cấp dịch vụ sử dụng NSNN và quản lý kinh tế theo quy định của pháp luật.

Trong bối cảnh hiện nay, khi nền kinh tế ngày càng phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng thì nhu cầu sử dụng DVSNC ngày càng cao, đòi hỏi phải nâng cao chất lượng và hiệu quả của các loại dịch vụ này. Trong quá trình sử dụng các dịch vụ công để đảm bảo tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực thì việc hoàn thiện hoạt động đặt hàng và đấu thầu dịch vụ là cần thiết. Mặt khác, để quá trình đặt hàng và đấu thầu dịch vụ công diễn ra minh bạch, hiệu quả và đáp ứng yêu cầu thực tiễn thì việc xây dựng các ĐMKTKT phù hợp là yếu tố then chốt. Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay hệ thống ĐMKTKT còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập, chưa theo kịp sự phát triển của xã hội và yêu cầu quản lý. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật thúc đẩy đặt hàng, đấu thầu dịch vụ sự nghiệp công tại Việt Nam” là cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận và thực tiễn công tác xây dựng, áp dụng ĐMKTKT dịch vụ sự nghiệp công, xác định những điểm nghẽn trong xây dựng ĐMKTKT; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện xây dựng ĐMKTKT nhằm thúc đẩy đặt hàng và đấu thầu DVSNC tại Việt Nam.  

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: ĐMKTKT và phương thức đặt hàng, đấu thầu DVSNC sử dụng kinh phí NSNN.

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu xây dựng ĐMKTKT nhằm thúc đẩy đặt hàng, đấu thầu DVSNC tại Việt Nam trong giai đoạn 2019 - 2023; nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng ĐMKTKT của một số quốc gia.   

4. Kết quả nghiên cứu

(1) Đề tài đã hệ thống hóa những nội dung tổng quan về DVSNC và danh mục DVSNC. DVSNC là hoạt động cung ứng các dịch vụ thiết yếu phục vụ lợi ích chung của cộng đồng như giáo dục, y tế, văn hóa... Đặt hàng cung cấp sản phẩm, dịch vụ công là việc cơ quan nhà nước chỉ định ĐVSNCL, nhà cung cấp DVSNC khác, nhà sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích đáp ứng theo các yêu cầu, điều kiện đặt hàng của Nhà nước. Đấu thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp sản phẩm, dịch vụ công trên cơ sở đảm bảo cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế. ĐMKTKT trong DVSNC là những chỉ tiêu quy định cụ thể về lượng và chất các nguồn lực cần sử dụng để tạo ra một dịch vụ đạt chất lượng tiêu chuẩn. ĐMKTKT giúp cơ quan quản lý nhà nước kiểm soát hiệu quả các nguồn lực và tạo cơ sở pháp lý rõ ràng trong việc xác định giá và quản lý chi tiêu ngân sách. ĐMKTKT được phân loại dựa trên phạm vi áp dụng (cấp ngành, cấp tỉnh, cấp cơ sở) và theo nội dung kinh tế - kỹ thuật (lao động, vật tư, thiết bị, cơ sở vật chất). Quá trình xây dựng ĐMKTKT thường sử dụng các phương pháp như khảo sát thực tiễn, thống kê, mô hình hóa và tham khảo chuyên gia để đảm bảo tính khoa học và thực tiễn. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng ĐMKTKT DVSNC bao gồm khung pháp lý và chính sách, điều kiện kinh tế - xã hội (KT-XH), trình độ, năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ xây dựng định mức và công nghệ thông tin.

(2) Đề tài đã nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng ĐMKTKT của một số quốc gia như Úc, Đức, Hoa Kỳ và Trung Quốc. Qua đó, cho thấy việc áp dụng công nghệ thông tin vào xây dựng và quản lý định mức, cũng như việc tiêu chuẩn hóa, cập nhật liên tục ĐMKTKT đảm bảo tính thực tiễn phát triển KT-XH và chất lượng trong cung cấp DVSNC là yếu tố quyết định để đạt hiệu quả cao trong quản lý các dịch vụ công. Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, đề tài đã rút ra 07 bài học vận dụng cho Việt Nam, cụ thể là: (i) Tập trung vào tiêu chuẩn hóa và cập nhật liên tục. Ví dụ, Trung Quốc đã xây dựng hệ thống ĐMKTKT trong lĩnh vực giáo dục tương đối hoàn chỉnh, chi tiết và đồng bộ, bao phủ hầu hết các khía cạnh của hoạt động giáo dục công lập, từ chi thường xuyên, chi đầu tư cơ sở vật chất đến định mức biên chế giáo viên, định mức học phí... Trong đó, Nhà nước trung ương (Bộ Giáo dục, Bộ Tài chính) đóng vai trò quyết định trong việc xây dựng khung định mức chung, hướng dẫn, kiểm soát và điều chỉnh hệ thống định mức, đảm bảo tính thống nhất và hiệu quả trên phạm vi toàn quốc; (ii) Ứng dụng công nghệ thông tin giúp tăng cường hiệu suất và tính linh hoạt trong việc xây dựng và áp dụng ĐMKTKT; (iii) Áp dụng phương pháp phân tích chi phí - hiệu quả để đảm bảo tính hiệu quả và tiết kiệm trong việc xây dựng và áp dụng các ĐMKTKT; (iv) Kết hợp chặt chẽ các yếu tố khoa học, thực tiễn và chính trị: Quá trình xây dựng định mức ở Trung Quốc, Đức, Úc có sự kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học, khảo sát thực tiễn, phân tích dữ liệu, tham khảo kinh nghiệm quốc tế và cân nhắc các yếu tố chính trị, xã hội, đảm bảo định mức vừa khoa học, khách quan, vừa phù hợp với điều kiện thực tế và mục tiêu phát triển của đất nước. Khuyến khích và thu hút sự tham gia của các doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề, tổ chức nghiên cứu khoa học và các chuyên gia vào quá trình xây dựng, thẩm định và phản biện ĐMKTKT; (v) Hệ thống ĐMKTKT tại các quốc gia thường được điều chỉnh định kỳ và linh hoạt để thích ứng với sự thay đổi của tình hình KT - XH, chính sách giáo dục và yêu cầu phát triển ngành, đảm bảo tính cập nhật và hiệu quả trong thực tiễn; (vi) Cần công khai hóa thông tin về quy trình xây dựng ĐMKTKT, các phương pháp và dữ liệu sử dụng, kết quả thẩm định, ý kiến đóng góp và các quyết định liên quan. Các cơ quan quản lý nhà nước cần tăng cường trách nhiệm giải trình về hiệu quả và tác động của ĐMKTKT đến chất lượng dịch vụ và hiệu quả sử dụng NSNN; (vii) Cần nâng cao năng lực chuyên môn và tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ xây dựng ĐMKTKT, áp dụng các phương pháp khoa học, công nghệ tiên tiến và đảm bảo tính chính xác, tin cậy của các ĐMKTKT.

(3) Đề tài đã nghiên cứu, đánh giá thực trạng xây dựng và áp dụng ĐMKTKT DVSNC tại Việt Nam trong giai đoạn 2019 - 2023. Tính đến thời điểm ngày 31/12/2023, cả nước có 47.596 ĐVSNCL. Trong đó kết quả thực hiện tự chủ tài chính của các ĐVSNCL trên phạm vi cả nước cụ thể là: Có 450 ĐVSNCL tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; 2.916 ĐVSNCL tự bảo đảm chi thường xuyên; 9.342 ĐVSNCL tự bảo đảm một phần chi thường xuyên và 34.888 ĐVSNCL do NSNN bảo đảm. Trong giai đoạn 2019 - 2023, các ĐVSNCL tại Việt Nam đã có nhiều cải tiến trong cung ứng DVSNC nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân.

Qua phân tích thực trạng, đề tài đã chỉ ra một số kết quả trong xây dựng ĐMKTKT đối với DVSNC ở Việt Nam, gồm: (i) Các cấp quản lý và các ĐVSNCL đã nhận thức rõ hơn về vai trò quan trọng của ĐMKTKT trong quản lý và cung ứng dịch vụ; (ii) Việc ban hành một số ĐMKTKT đã góp phần chuẩn hóa hoạt động của các ĐVSNCL, tạo cơ sở cho việc quản lý và đánh giá; (iii) Ở một số lĩnh vực, việc áp dụng ĐMKTKT đã góp phần cải thiện chất lượng dịch vụ công, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân.

Một số hạn chế trong xây dựng ĐMKTKT DVSNC ở Việt Nam được đề tài làm rõ, như: (i) Trong lĩnh vực giáo dục, một số tỉnh đã ban hành ĐMKTKT nhưng còn thiếu sự thống nhất, dẫn đến khó khăn trong quản lý và áp dụng đồng bộ; (ii) Trong lĩnh vực y tế, mặc dù đã có những tiến bộ quan trọng, song vẫn còn nhiều khó khăn trong việc triển khai đồng bộ và thống nhất giữa các cơ sở khám chữa bệnh, đặc biệt là các bệnh viện ở khu vực vùng sâu, vùng xa với hạn chế về cơ sở vật chất và nguồn nhân lực. Ví dụ, định mức về số lượng bác sĩ trên 10.000 dân vẫn chưa tính đến sự chênh lệch về mật độ dân số, điều kiện KT-XH giữa thành thị và nông thôn; (iii) Các lĩnh vực văn hóa, thể thao và môi trường cũng có bước phát triển nhưng chưa hoàn thiện, đặc biệt là chưa có ĐMKTKT phù hợp cho các hoạt động văn hóa mới, thể thao hiện đại và công nghệ xử lý môi trường tiên tiến. Đề tài cũng nêu ra một số nguyên nhân của các hạn chế nêu trên, như khung pháp lý về xây dựng và áp dụng ĐMKTKT chưa đầy đủ và thống nhất, đội ngũ cán bộ xây dựng và thực thi ĐMKTKT chưa đủ năng lực, có sự chênh lệch về điều kiện KT-XH giữa các vùng, miền, khả năng tiếp cận công nghệ số còn hạn chế...

(4) Trên cơ sở nghiên cứu khung lý luận; kinh nghiệm quốc tế và phân tích thực trạng xây dựng và áp dụng ĐMKTKT DVSNC tại Việt Nam, đề tài đã đưa ra các giải pháp hoàn thiện xây dựng ĐMKTKT nhằm thúc đẩy đặt hàng, đấu thầu DVSNC tại Việt Nam. Việc hoàn thiện xây dựng ĐMKTKT là yếu tố then chốt để nâng cao hiệu quả và tính cạnh tranh trong hoạt động đặt hàng, đấu thầu DVSNC tại Việt Nam. Điều này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ công mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền KT-XH. Các giải pháp nhằm hoàn thiện và thúc đẩy áp dụng ĐMKTKT gồm: (i) Thống nhất và hoàn thiện khung pháp lý về ĐMKTKT từ trung ương tới địa phương, đảm bảo đồng bộ và rõ ràng, rà soát thường xuyên danh mục DVSNC sử dụng và không sử dụng NSNN, thể chế cụ thể các ĐMKTKT cho phép các ĐVSNCL xây dựng hệ thống ĐMKTKT của từng đơn vị, nâng cao chất lượng xây dựng ĐMKTKT, thúc đẩy cạnh tranh trong đặt hàng, đấu thầu DVSNC và chi tiết nội dung, quy trình xây dựng ĐMKTKT ở một số lĩnh vực; (ii) Nâng cao chất lượng xây dựng định mức, thiết lập một quy trình tiêu chuẩn với các bước rõ ràng nhằm đảm bảo tính khoa học và thống nhất trong quá trình xây dựng ĐMKTKT; (iii) Tăng cường đào tạo, nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ xây dựng, thẩm định và áp dụng ĐMKTKT; (iv) Ứng dụng công nghệ thông tin rộng rãi để nâng cao tính minh bạch, linh hoạt và hiệu quả trong quản lý và cập nhật các ĐMKTKT; (v) Thiết lập cơ chế đánh giá, kiểm định chất lượng dịch vụ công độc lập để đảm bảo tính minh bạch, khách quan và hiệu quả; (vi) Đẩy mạnh xã hội hóa thông qua các mô hình hợp tác công - tư (PPP) nhằm huy động nguồn lực tư nhân, giảm gánh nặng cho NSNN và nâng cao chất lượng dịch vụ công.

Bên cạnh các giải pháp, đề tài cũng đưa ra một số kiến nghị nhằm thực hiện các giải pháp như: (i) Hoàn thiện khung pháp lý đồng bộ đảm bảo cung cấp đủ số lượng và chất lượng dịch vụ công, tạo điều kiện thuận lợi để triển khai hiệu quả các hoạt động đặt hàng và đấu thầu DVSNC; (ii) Nâng cao năng lực cán bộ nhằm giúp cán bộ có khả năng xây dựng, triển khai các ĐMKTKT sát với thực tiễn; (iii) Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo nhằm tăng cường tính linh hoạt, minh bạch trong quản lý ĐMKTKT, cập nhật nhanh các thông tin thị trường, đảm bảo ĐMKTKT thường xuyên được cập nhật, xây dựng đồng bộ hạ tầng kỹ thuật trong cung ứng DVSNC; thúc đẩy nhanh quá trình đấu thầu dịch vụ công, tiết kiệm chi phí, nâng cao chất lượng DVSNC; (iv) Thiết lập cơ chế kiểm định chất lượng độc lập nhằm nâng cao chất lượng, tăng cường lòng tin của xã hội, tăng cường phúc lợi xã hội, phản biện xã hội; (v) Tăng cường xã hội hóa thông qua mô hình PPP nhằm tối ưu hóa nguồn lực, cải thiện chất lượng và mở rộng cung cấp các DVSNC, giảm gánh nặng cho NSNN, cho phép các ĐVSNCL tự xây dựng ĐMKTKT được kiểm định, thẩm tra, kiểm toán, qua đó xác định giá dịch vụ công theo nhu cầu về số lượng và chất lượng của xã hội đối với DVSNC.

5. Thông tin nghiệm thu và lưu trữ

- Nghiệm thu: Đề tài đã được Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu thông qua (Quyết định số 460/QĐ-BTC ngày 26/02/2025 của Bộ Tài chính về việc thành lập Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ KHCN cấp Bộ năm 2024).

- Lưu trữ: Đề tài được đóng quyển, lưu trữ tại Thư viện Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính./.

PGS.TS. Ngô Thanh Hoàng

Học viện Tài chính