Đề tài: Luận cứ hình thành Trung tâm tài chính quốc tế và đề xuất mô hình cho Việt Nam
24/01/2026 08:05
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định: Trong bối cảnh mới, Việt Nam phải nhanh chóng bứt phá, rút ngắn khoảng cách phát triển với khu vực và thế giới, nỗ lực phấn đấu hướng tới mục tiêu đến năm 2030 là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 10 năm 2021 - 2030 nêu rõ phương hướng, giải pháp trong giai đoạn này là: “Tập trung xây dựng các hành lang kinh tế trọng điểm, thúc đẩy liên kết, hội nhập quốc tế và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng. Xây dựng trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm trí tuệ nhân tạo tại các vùng trọng điểm”. Nghị quyết số 50/NQ-CP ngày 20/5/2021 của Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, trong đó nêu rõ cần “Xây dựng, hoàn thiện khung khổ pháp lý nói chung và thử nghiệm cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội, cạnh tranh nói riêng để thúc đẩy quá trình phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế số, phát triển các mô hình kinh tế mới, khởi nghiệp sáng tạo, cung cấp dịch vụ công, quản lý và bảo vệ môi trường…”. Ngày 27/7/2021, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 16/2021/QH15 về Kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm 2021 - 2025 cũng nhấn mạnh: “Xây dựng các chính sách khuyến khích, ưu đãi mang tính cạnh tranh quốc tế đối với các dự án lớn, quan trọng để thu hút được các nhà đầu tư chiến lược, các tập đoàn đa quốc gia đặt trụ sở và thành lập các trung tâm nghiên cứu - phát triển, đổi mới sáng tạo tại Việt Nam”. Chiến lược phát triển KT-XH 10 năm 2021 - 2030 và Kế hoạch phát triển KT-XH năm 2021 - 2025 đều nhấn mạnh việc “Lựa chọn một số địa điểm, đô thị, vùng có lợi thế đặc biệt để xây dựng trung tâm kinh tế, tài chính với thể chế, cơ chế, chính sách đặc thù có tính đột phá, có khả năng cạnh tranh quốc tế cao”.
Để có bước chuyển mới về chất, Việt Nam phải xác định một tầm nhìn chiến lược, có tính dài hạn, tạo đột phá phát triển hướng tới một quốc gia thịnh vượng, bền vững, bao trùm; đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình. Tầm nhìn của Việt Nam cần dựa trên việc tận dụng các cơ hội để trở thành trung tâm thu hút các doanh nghiệp mới, năng động trong các lĩnh vực như tài chính, công nghệ, truyền thông và viễn thông, kết hợp với việc nâng cao thu nhập và đời sống nhân dân. Để đạt được các mục tiêu chiến lược dài hạn đó, một trong những lựa chọn có tính đột phá là việc xem xét các điều kiện hình thành Trung tâm tài chính (TTTC) Việt Nam quy mô khu vực và quốc tế hướng đến tái định vị Việt Nam như một cửa ngõ cho các nhà đầu tư toàn cầu và khu vực, từ đó thu hút nguồn lực tiềm năng cho quá trình phát triển của quốc gia là một hướng đi phù hợp với xu hướng phát triển chung cần được nghiên cứu kỹ lưỡng để đề xuất mô hình phù hợp và hiệu quả. Do đó, việc lựa chọn nghiên cứu về “Luận cứ hình thành TTTC quốc tế và đề xuất mô hình cho Việt Nam” nhằm xem xét quá trình hình thành TTTC ở một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới, xác định các tiêu chuẩn, điều kiện cần và đủ để xây dựng TTTC nói chung, TTTC tại Việt Nam nói riêng và đề xuất, kiến nghị mô hình phù hợp với điều kiện và trình độ phát triển KT-XH của Việt Nam.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu hệ thống luận cứ, đề xuất mô hình TTTC quốc tế tại Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu một số mô hình TTTC ở một số quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới để đề xuất một mô hình cho Việt Nam và một số địa phương dự kiến sẽ được lựa chọn để xây dựng TTTC quốc tế tại Việt Nam (thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng).
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu nghiên cứu về các điều kiện cần và đủ (vị trí địa lý, trình độ phát triển kinh tế, dân số, giáo dục, điều kiện tự nhiên,…) ở phạm vi quốc gia và ở cả phạm vi khu vực/địa phương (cụ thể là thành phố Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh) có khả năng để xây dựng TTTC quốc tế dựa trên các đặc điểm, điều kiện đã phân tích và đúc rút được từ kinh nghiệm quốc tế.
4. Kết quả nghiên cứu
(1) Đề tài đã tổng quan một số vấn đề lý luận chung về TTTC, từ đó chỉ ra khái niệm chung của TTTC là một hệ sinh thái đa dạng các dịch vụ tài chính tập trung tại một địa điểm nhất định, thường có sự hiện diện của nhiều định chế tài chính, ngân hàng, quỹ đầu tư, công ty dịch vụ tài chính và có các sàn giao dịch chứng khoán, tiền tệ, hàng hóa. Vì vậy, việc xây dựng TTTC được xem là việc hình thành một khu vực có thể chế riêng, đặc thù, khuyến khích và thu hút các nhà đầu tư (quỹ đầu tư, định chế tài chính,....) để cung cấp các sản phẩm hoặc dịch vụ tài chính, kết nối với các TTTC quốc tế. Bên cạnh đó, đề tài đã phân loại TTTC theo phạm vi hoạt động hay theo tính chất và dịch vụ được cung cấp tại TTTC. Đồng thời, chỉ ra một số đặc điểm của TTTC như: (i) Đối với TTTC quốc gia: Thường là các TTTC có quy mô nhỏ đến trung bình với vai trò cung cấp các dịch vụ tài chính cho các hoạt động đầu tư kinh doanh trong nước. Các TTTC quốc gia thường được đặt tại trung tâm kinh tế của quốc gia, với vai trò là cầu nối giữa dòng vốn đầu tư quốc tế với nền kinh tế trong nước; (ii) Đối với TTTC khu vực: Việc tập trung cung cấp một số dịch vụ hoặc sản phẩm tài chính theo lợi thế cạnh tranh của TTTC khu vực thường có quy mô thị trường lớn hơn các TTTC quốc gia, nhưng không cung cấp đa dạng các sản phẩm và dịch vụ tài chính xuyên biên giới quy mô lớn như một TTTC quốc tế; (iii) Đối với TTTC hải ngoại: Các TTTC hải ngoại thường hình thành tại các quốc gia có thuế thu nhập doanh nghiệp thấp và cơ chế bảo mật thông tin cao để thu hút các định chế tài chính, tập đoàn đa quốc gia đặt trụ sở tại đây. Đề tài cũng chỉ ra vài trò của TTTC quốc tế đối với sự phát triển của địa phương và quốc gia, cụ thể: (i) Đối với quốc gia: Thông qua TTTC quốc tế, việc thu hút đầu tư và dịch chuyển vốn sẽ hiệu quả hơn, góp phần lan tỏa tích cực trên phạm vi rộng, thúc đẩy tái cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang các ngành kinh tế, dịch vụ chất lượng cao; xây dựng và phát triển TTTC quốc tế sẽ góp phần thu hút việc làm, đặc biệt là đối với đội ngũ nhân lực và lao động có tay nghề, kỹ thuật cao, góp phần thúc đẩy thị trường lao động chuyển dịch theo hướng tích cực; Bên cạnh đó cần ưu đãi đầu tư, ưu đãi thuế. Tuy nhiên, xét về dài hạn, khi TTTC quốc tế phát triển đến một mức độ nhất định, các ngành dịch vụ bên trong TTTC quốc tế hoạt động ổn định, nguồn vốn đầu tư thu hút vào TTTC ngày càng tăng và thu nhập của người lao động, mức sống và tiêu dùng của người dân không ngừng được cải thiện sẽ góp phần đóng góp ngày càng cao cho ngân sách nhà nước; Nguồn thu từ TTTC cũng góp phần thực hiện trách nhiệm xã hội như xây dựng hạ tầng KT-XH, giao thông, bảo vệ môi trường, đảm bảo an ninh, an toàn và an sinh xã hội,... (ii) Đối với khu vực hoặc địa phương được lựa chọn xây dựng TTTC quốc tế: TTTC quốc tế có tác động về tăng trưởng kinh tế đối với địa phương hoặc khu vực nơi được lựa chọn xây dựng TTTC; góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập, nâng cao chất lượng đời sống và trình độ tay nghề cho người dân tại khu vực hoặc địa phương được lựa chọn xây dựng TTTC; sẽ là nơi quy tụ nhiều nhà đầu tư, chuyên gia nước ngoài; địa phương được lựa chọn xây dựng TTTC sẽ tăng cường hoạt động giao lưu văn hóa, khả năng giới thiệu, phát triển du lịch và quảng bá hình ảnh; Bên cạnh đó, phát triển TTTC quốc tế góp phần phát triển cơ sở hạ tầng, hệ thống công nghệ thông tin, hệ thống giao thông công cộng của địa phương/khu vực; Về dài hạn, TTTC quốc tế cũng sẽ có tác động tới nguồn thu ngân sách của địa phương như đối với nguồn thu của ngân sách quốc gia.
(2) Đề tài đã nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng và phát triển TTTC quốc tế như London (Anh), New York (Mỹ), Thượng Hải (Trung Quốc), Singapore, Dubai, Abu Dhabi. Qua đó, đề tài đã phân tích và rút ra một số vấn đề chung như (i) Về mô hình phát triển TTTC: Các TTTC thường phát triển theo 03 cách chủ yếu là: Mô hình tự nhiên, mô hình “cải cách và hiện đại hóa, mô hình độc lập và chuyên biệt, mô hình kết hợp; (ii) Về mô hình quản lý TTTC: Tùy thuộc vào thể chế chính trị và điều kiện riêng, mỗi quốc gia và khu vực sẽ lựa chọn mô hình quán lý, giám sát TTTC riêng phù hợp với đặc điểm của đất nước, thể chế chính trị, mô hình quản trị của chính quyền trung ương và chính quyền địa phương, cũng như định hướng phát triển kinh tế; (iii) Về hình thành và phát triển TTTC là nhiệm vụ chính trị: Dù sự phát triển TTTC quốc tế ở mỗi quốc gia, khu vực từ những xuất phát điểm khác nhau nhưng đều thành công nhờ có sự thống nhất và ủng hộ từ các Lãnh đạo cấp cao nhất của quốc gia và sự đồng hành, vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị từ trung ương đến địa phương; (iv) Xây dựng và cho phép áp dụng các chính sách ưu đãi, vượt trội: Chính phủ một số quốc gia hoặc chính quyền các vùng lãnh thổ lựa chọn hình thành và phát triển TTTC quốc tế thông qua việc xây dựng và ban hành các cơ chế, chính sách ưu đãi vượt trội áp dụng cho TTTC quốc tế để tạo cú huých, qua đó nhanh chóng tạo dựng cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển các ngành dịch vụ nền tảng; (v) Việc xây dựng và phát triển TTTC luôn gắn liền với quá trình phát triển các dịch vụ, tiện ích bổ trợ, bất động sản, khu phức hợp và quá trình phát triển TTTC là một tiến trình lâu dài, thường được thực hiện là một phần của chiến lược phát triển KT-XH chung của quốc gia và địa phương nơi hình thành TTTC theo từng giai đoạn và lộ trình phù hợp. Qua đó, rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc xây dựng TTTC quốc tế: (i) Thế giới hình thành xu hướng chuyển dịch phát triển TTTC từ mô hình các TTTC truyền thống sang mô hình TTTC mới; (ii) Các TTTC phát triển đóng vai trò là thị trường vốn của khu vực và (hoặc) trên quy mô thế giới; là nơi quy tập của các ngân hàng, định chế và tổ chức tài chính hàng đầu trên thế giới, thu hút được các nhà đầu tư lớn, tạo lưu chuyển dòng vốn giữa các quốc gia và châu lục; (iii) Các quốc gia có TTTC phát triển hình thành được một khung khổ pháp lý công bằng, hiệu quả, minh bạch trong tiếp cận thị trường, thuận lợi trong dịch chuyển dòng vốn, bảo vệ nhà đầu tư, giải quyết tốt các tranh chấp; (iv) Thông qua các TTTC, các quốc gia hoặc khu vực trở thành trung gian luân chuyển hàng hóa - dịch vụ quan trọng của thế giới; (v) Bên cạnh vai trò thị trường vốn, thông qua sự phát triển của các TTTC, các dịch vụ tiện ích chất lượng cao của các quốc gia, khu vực cũng phát triển mạnh mẽ; (vi) TTTC phát triển với chức năng là kênh dẫn vốn quan trọng để đầu tư có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát triển KT-XH của địa phương nơi có TTTC và rộng hơn là của quốc gia; (vii) Để phát triển TTTC và đảm bảo các mục tiêu phát triển hiệu quả, tăng khả năng cạnh tranh, tạo sự hấp dẫn và đảm bảo an ninh, an toàn hoạt động, hầu hết các quốc gia đều xây dựng và thực thi nhiều chính sách thích hợp có tính hấp dẫn và ưu đãi cao; (viii) Hình thành các cơ quan quản lý giám sát có sự phối hợp chặt chẽ, chia sẻ thông tin, đảm bảo việc giám sát hoạt động của các TTTC diễn ra minh bạch, an toàn và hiệu quả.
(3) Đề tài đã phân tích, đánh giá điều kiện hình thành và định hướng phát triển TTTC quốc tế tại Việt Nam, chỉ rõ quan điểm và mục tiêu phát triển TTTC quốc tế tại Việt Nam có cơ sở chính trị và chủ trương nhất quán của Đảng, Chính phủ. Theo đó, việc nghiên cứu, xây dựng TTTC quốc tế phù hợp với điều kiện và bối cảnh phát triển KT-XH tại Việt Nam trong thời gian tới là điều tất yếu. Việc xây dựng TTTC quốc tế tại Việt Nam đã được xác định tại Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII, chỉ đạo của Bộ Chính trị và Chính phủ. Theo đó, hướng đến mục tiêu thu hút, huy động có hiệu quả các nguồn lực để phục vụ cho sự phát triển KT-XH ở các địa phương xây dựng TTTC và đối với cả sự phát triển của cả quốc gia, bảo đảm sự phát triển minh bạch, hiệu quả của thị trường tài chính trong nước bắt kịp các chuẩn mực tài chính của thế giới. Kết luận của Bộ Chính trị tại Thông báo số 47-TB/TW ngày 15/11/2024 đã chỉ ra mục tiêu của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị đã đồng ý về chủ trương thành lập TTTC quốc tế toàn diện tại thành phố Hồ Chí Minh và TTTC khu vực tại thành phố Đà Nẵng. Theo đó, việc xây dựng cơ chế, chính sách cho TTTC quốc tế tại Việt Nam cũng cần được định hướng có sự vượt trội nhưng phải đảm bảo khả thi và phát huy tối đa lợi thế cạnh tranh của Việt Nam so với các TTTC quốc tế trong khu vực và trên thế giới, phù hợp với điều kiện Việt Nam và các cam kết quốc tế Việt Nam đã ký kết. Đối với cơ chế chính sách mới, đột phá cần được triển khai thí điểm có kiểm soát để đánh giá được hiệu quả và tác động tới nền KT-XH trước khi nhân rộng và áp dụng rộng rãi trong TTTC. Quá trình xây dựng và phát triển TTTC quốc tế tại Việt Nam hướng cần quán triệt, thống nhất và tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản sau: (i) Quá trình xây dựng TTTC quốc tế đòi hỏi nghiên cứu và học hỏi có chọn lọc các bài học kinh nghiệm quốc tế với nguyên tắc xuyên suốt tiếp thu những kinh nghiệm hay, tương thích với thông lệ quốc tế, nhưng đồng thời phải phù hợp với điều kiện của Việt Nam; (ii) Việc xây dựng TTTC quốc tế tại Việt Nam cần phải được nghiên cứu, triển khai theo nguyên tắc có từng lộ trình phù hợp gắn với điều kiện phát triển của mỗi thời kỳ, trong đó, những chính sách mới, đột phá cần được thực hiện thí điểm, trên cơ sở tổng kết đánh giá hiệu quả của giai đoạn trước để cân nhắc, tính toán thận trọng, có lộ trình, nhân rộng ở các giai đoạn sau và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam; (iii) Việc nghiên cứu, xây dựng khung pháp lý áp dụng cho TTTC cần có sự phải có sự đổi mới, đột phá nhưng phải khả thi khi thực hiện, phù hợp với điều kiện thực tiễn và năng lực nội tại của quốc gia và địa phương; tuân thủ nguyên tắc pháp quyền, hài hoà và phù hợp với cam kết quốc tế; bảo đảm sự đồng bộ, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận, phát triển bền vững; đảm bảo uy tín và an ninh tài chính quốc gia; (iv) Việc tổ chức bộ máy vận hành, quản lý, giám sát TTTC quốc tế nên được cân nhắc dựa trên các nguyên tắc như: Trao quyền chủ động tối đa cho bộ máy vận hành, quản lý, giám sát TTTC trong phạm vi không gian của TTTC; bộ máy vận hành, quản lý, giám sát TTTC quốc tế là đầu mối trong mọi đối thoại, hợp tác, tiếp nhận và giải quyết các vấn đề liên quan đến việc triển khai các hoạt động bên trong TTTC; hoạt động của các cơ quan này mang tính chất xây dựng, hỗ trợ, đồng hành với doanh nghiệp để phát triển TTTC cũng như tăng cường hợp tác quốc tế.
(4) Đề tài đã phân tích điều kiện hình thành và định hướng phát triển TTTC quốc tế tại Việt Nam. Đồng thời, đề xuất mô hình “kết hợp” có ưu điểm là kết hợp việc hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh trong dài hạn; đồng thời cho phép thử nghiệm chính sách trong phạm vi hoạt động của TTTC, đảm bảo phù hợp với bối cảnh và điều kiện thực tế của quốc gia trong từng giai đoạn. Theo đó, đề xuất mô hình quản trị của TTTC gồm: (i) Cơ quan quản lý TTTC: Quyết định việc gia nhập và rút khỏi TTTC của các chủ thể/thành viên tham gia TTTC (người cung cấp dịch vụ và khách hàng), cấp phép, quản lý hoạt động trong TTTC cũng như các vấn đề liên quan (visa, lao động, thuế…); (ii) Cơ quan giám sát TTTC: chịu trách nhiệm giám sát hoạt động của các định chế tài chính trong TTTC; đảm bảo an toàn cho hoạt động của TTTC, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng (người tiêu dùng); phòng chống rửa tiền, tài trợ khủng bố, gian lận tài chính…; (iii) Cơ quan giải quyết tranh chấp: Để đảm bảo việc giải quyết tranh chấp liên quan TTTC (giữa các thành viên tham gia TTTC, giữa thành viên và khách hàng, giữa các chủ thể tham gia TTTC và cơ quan quản lý, giám sát TTTT…). Đồng thời, đề tài cũng đề xuất lộ trình thực hiện xây dựng TTTC quốc tế tại Việt Nam qua 03 giai đoạn là: (i) Giai đoạn 1: Chuẩn bị đầy đủ cơ sơ vật chất và các nguồn lực cần thiết cho quá trình xây dựng TTTC quốc tế; (ii) Giai đoạn 2: Nghiên cứu, xây dựng và thí điểm cơ chế, chính sách ưu đãi ở một số lĩnh vực ưu tiên phát triển tại TTTC; (iii) Giai đoạn 3: Tổng kết, đánh giá kết quả thí điểm chính sách để cho phép mở rộng.
5. Thông tin nghiệm thu và lưu trữ
- Nghiệm thu: Đề tài đã được Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu thông qua (Quyết định số 408/QĐ-BTC ngày 26/02/2025 của Bộ Tài chính về việc thành lập Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ KHCN cấp Bộ năm 2024).
- Lưu trữ: Đề tài được đóng quyển, lưu trữ tại Thư viện Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính./.
ThS. Lê Ngọc Chi
Vụ Các định chế tài chính