Đề tài: Hoàn thiện quy trình kiểm tra, giám sát tài chính nội ngành áp dụng đối với cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp của Bộ Tài chính

18/01/2026 14:05


1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Tài chính là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH), bảo đảm quốc phòng, an ninh của mỗi quốc gia. Kiểm tra, giám sát tài chính nội ngành Tài chính, là  việc xem xét, đánh giá quá trình hình thành và sử dụng của cải trong ngành Tài chính đảm bảo hiệu quả, đúng pháp luật, góp phần xây dựng nền tài chính minh bạch, hiệu quả để ổn định KT-XH. Bộ Tài chính là cơ quan của Chính phủ Việt Nam thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài chính, ngân sách nhà nước (NSNN), thuế, phí, lệ phí và thu khác của NSNN, dự trữ quốc gia, các quỹ tài chính nhà nước, đầu tư tài chính, tài chính doanh nghiệp và hoạt động dịch vụ công trong lĩnh vực tài chính - ngân sách, hải quan, kế toán, kiểm toán độc lập và giá cả trong phạm vi cả nước; thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. Với nhiệm vụ “đầu tàu” trong quản lý tài chính như vậy, trong những năm qua, việc sử dụng nguồn lực tài chính tại các cơ quan hành chính (CQHC), đơn vị sự nghiệp (ĐVSN) của Bộ Tài chính cũng khó tránh khỏi các bất cập trong quản lý tài chính, dẫn tới tình trạng sử dụng lãng phí nguồn lực tài chính như đất đai, nhà cửa, máy móc, trang thiết bị, chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển... Hiện trạng này đã khiến hiệu quả trong sử dụng nguồn lực tài chính bị giảm sút, đồng thời dẫn đến nhiều kẽ hở trong việc sử dụng tài chính nội ngành. Công tác tự kiểm tra, giám sát tại các CQHC, ĐVSN của Bộ Tài chính là một trong những nhân tố quan trọng để tổng hợp kết quả kiểm tra, giám sát nội bộ về tài chính nội ngành. Quy trình kiểm tra, giám sát về tài chính nội ngành được ban hành nhằm đảm bảo mục tiêu kiểm tra thống nhất, tính minh bạch, công khai và độc lập trong hoạt động kiểm tra, giám sát nội bộ tại các CQHC, ĐVSN của Bộ Tài chính. Quy trình này giúp các đơn vị chủ động trong việc kiểm soát rủi ro và tăng cường hiệu quả hoạt động, đồng thời cũng giúp các đơn vị tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động kiểm tra, giám sát nội bộ. 

Do đó, việc nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện quy trình kiểm tra, giám sát tài chính nội ngành áp dụng đối với CQHC, ĐVSN của Bộ Tài chính” là cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống lý luận, phân tích, đánh giá thực trạng quy trình kiểm tra, giám sát tài chính nội ngành; từ đó, đề tài đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy trình kiểm tra, giám sát tài chính nội ngành áp dụng đối với CQHC, ĐVSN của Bộ Tài chính.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Quy trình kiểm tra, giám sát tài chính nội ngành.

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng quy trình kiểm tra, giám sát tài chính nội ngành tại CQHC, ĐVSN của Bộ Tài chính trong giai đoạn 2018 - 2023; từ đó, đề tài đề xuất hoàn thiện quy trình thống nhất về kiểm tra, giám sát tài chính nội ngành áp dụng đối với CQHC, ĐVSN của Bộ Tài chính đến năm 2030. 

4. Kết quả nghiên cứu

(1) Đề tài đã khái quát được một số vấn đề cơ sở lý luận về quy trình kiểm tra, giám sát tài chính nội ngành áp dụng đối với CQHC, ĐVSN, cụ thể là: (i) Bản chất kiểm tra, giám sát tài chính nội ngành tại CQHC, ĐVSN; lý luận về kiểm tra, giám sát tài chính nội ngành tại CQHC, ĐVSN; vai trò, ý nghĩa của hoạt động kiểm tra, giám sát tài chính nội ngành tại CQHC, ĐVSN; mục tiêu của kiểm tra, giám sát tài chính nội ngành tại CQHC, ĐVSN; phân loại hoạt động kiểm tra, giám sát tài chính nội ngành tại CQHC, ĐVSN; nội dung và phạm vi hoạt động kiểm tra, giám sát tài chính nội ngành tại CQHC, ĐVSN. 

Vai trò, ý nghĩa của hoạt động kiểm tra, giám sát tài chính nội ngành tại các CQHC, ĐVSN: Góp phần thực hiện tốt hơn chức năng giám đốc và điều chỉnh của tài chính công; đối với Nhà nước: Vấn đề kiểm tra, giám sát nội bộ về tài chính nội ngành đã được thể chế hóa tại các văn bản pháp luật cao nhất; đối với CQHC, ĐVSN: Các CQHC, ĐVSN được giao quyền hạn trong sử dụng ngân sách - tài sản nhà nước, đồng thời gắn quyền hạn với trách nhiệm.

Mục tiêu của kiểm tra, giám sát tài chính nội ngành tại các CQHC, ĐVSN: Hỗ trợ CQHC, ĐVSN thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụ được giao, vì đây là nhiệm vụ quan trọng nhất của CQHC, ĐVSN; phải thực hiện kiểm soát và duy trì việc tuân thủ chế độ pháp lý liên quan đến hoạt động của CQHC, ĐVSN và bảo vệ các nguồn lực tài chính, tài sản của CQHC, ĐVSN, bao gồm tài sản hữu hình, tài sản vô hình và các tài sản phi vật chất khác như sổ sách kế toán, các tài liệu quan trọng, thông tin; phát hiện, ngăn ngừa và có biện pháp xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, lãng phí kinh phí, tài sản, các nguồn lực vật chất, nhân lực, thông tin; bảo đảm sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả các nguồn lực; bảo đảm hệ thống thông tin về thực trạng sử dụng ngân sách - tài sản nhà nước của CQHC, ĐVSN chính xác, trung thực và kịp thời; làm căn cứ tin cậy, quan trọng hình thành các quyết định quản lý; phải thực hiện kiểm soát và duy trì việc tuân thủ các cam kết quốc tế có liên quan đến các hoạt động của CQHC, ĐVSN.

Quy trình kiểm tra, giám sát tài chính nội ngành tại CQHC, ĐVSN, trong đó làm rõ nội dung quy trình kiểm tra, giám sát tài chính nội ngành; quy trình tổ chức thực hiện kiểm tra, giám sát tài chính nội ngành; các tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá quy trình kiểm tra, giám sát tài chính nội ngành tại CQHC, ĐVSN; các nhân tố ảnh hưởng đến quy trình, kiểm tra giám sát tài chính nội ngành tại CQHC, ĐVSN. Theo đó, quy trình là một phương pháp để hoàn thành một việc gì đó với các bước và hướng dẫn cho từng khía cạnh của nhiệm vụ. Các quy trình thường nhất quán sau khi được thiết lập để duy trì sự hiểu biết chung về những gì nhân viên nên làm trong nhiều trường hợp khác nhau. Quy trình càng cụ thể càng tốt để mọi người có thể thực hiện dễ dàng. Quy trình tổ chức thực hiện kiểm tra, giám sát tài chính nội ngành bao gồm các bước: Bước 1: Lập kế hoạch kiểm tra, giám sát tài chính nội ngành; bước 2: Tổ chức thực hiện kiểm tra, giám sát tài chính nội ngành; bước 3: Lập báo cáo kiểm tra, giám sát tài chính nội ngành; bước 4: Theo dõi sau kiểm tra, giám sát tài chính nội ngành. 

(2) Đề tài đã phân tích kinh nghiệm xây dựng quy trình kiểm tra, giám sát tài chính nội ngành áp dụng đối với CQHC, ĐVSN tại Trung Quốc, Phần Lan, một số nước OECD, Thổ Nhĩ Kỳ, Bungary và nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng quy trình kiểm tra, giám sát tài chính nội bộ của Bộ Quốc phòng Việt Nam. 

Mặc dù các nước có chế độ chính trị, điều kiện KT-XH khác nhau, nhưng đều chung quan niệm ngân sách - tài sản nhà nước là nguồn lực đặc biệt được gắn chặt với quyền lực của Nhà nước. Vì thế công tác sử dụng ngân sách - tài sản nhà nước và hoạt động kiểm tra, giám sát nội bộ về sử dụng ngân sách - tài sản nhà nước luôn được quy định tại các văn bản pháp lý có hiệu lực cao và hệ thống chế độ, định mức quy định chặt chẽ, đầy đủ.

Qua nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước và tại Bộ Quốc phòng, đề tài rút ra 7 bài học vận dụng cho Việt Nam, cụ thể: (i) Cần có sự thống nhất nhận thức về tính tất yếu khách quan và vai trò quan trọng của hoạt động kiểm tra, giám sát tài chính nội ngành. Dù ở mô hình tập trung, phi tập trung hoặc hỗn hợp, quy định kiểm soát nội bộ (KSNB) mang tính bắt buộc hay khuyến khích; hoạt động KSNB có tính độc lập, chuyên trách hay thiết lập các mối quan hệ theo hướng hợp tác giải trình trách nhiệm và xã hội hóa hoạt động KSNB thông qua thuê công ty tư vấn, chuyên gia độc lập thực hiện, nhưng đều khẳng định hoạt động KSNB là tất yếu khách quan, cần thiết, là một công cụ quản lý có hiệu quả, hoạt động KSNB luôn được thực hiện cùng hoạt động sử dụng ngân sách - tài sản nhà nước của các cơ quan nhà nước; (ii) Hoạt động kiểm tra, giám sát tài chính nội ngành cần được quy định tại các văn bản pháp lý cao và có hệ thống văn bản pháp luật hướng dẫn đầy đủ. Các nước đều có Luật quy định về hoạt động KSNB; các cơ quan quản lý nhà nước (chủ yếu là Kiểm toán Nhà nước và Bộ Tài chính) đều ban hành đầy đủ hệ thống văn bản pháp luật hướng dẫn thực hiện, trong đó nhấn mạnh: Quy định về phân cấp giữa các cơ quan về hoạt động KSNB và trách nhiệm báo cáo, giải trình (Pháp: Chánh Thanh tra, kiểm soát viên của Bộ Tài chính thực hiện KSNB đối với các Bộ, ngành và báo cáo, giải trình với Bộ Tài chính, kiểm soát viên của Bộ thực hiện KSNB đối với Bộ đó và giải trình với người đứng đầu Bộ; Hoa Kỳ: Bộ phận KSNB chịu trách nhiệm giải trình với Tổng Thanh tra; Anh: Thư ký thường trực của Bộ, ngành thực hiện KSNB đối với Bộ, ngành và giải trình với cơ quan kiểm toán quốc gia; Đức: Kiểm toán độc lập thuê ngoài chịu trách nhiệm KSNB và báo cáo Kiểm toán Nhà nước). Trách nhiệm hướng dẫn trình tự, thủ tục, quy trình KSNB (Pháp, Hoa Kỳ: Kiểm toán Nhà nước ban hành chuẩn mực KSNB; Hàn Quốc: Kiểm toán Nhà nước ban hành chuẩn mực KSNB, Chính phủ ban hành quy định KSNB đối với các cơ quan nhà nước cấp Trung ương, một số Bộ ban hành quy định KSNB trong phạm vi Bộ; Anh, Phần Lan, Trung Quốc: Bộ Tài chính ban hành chuẩn mực KSNB); (iii) Cần lựa chọn mô hình tổ chức hoạt động KSNB phù hợp với thực tiễn. Việc lựa chọn mô hình KSNB (tập trung, phi tập trung, hỗn hợp) đều có những ưu điểm và hạn chế; (iv) Quy định rõ thẩm quyền bổ nhiệm người đứng đầu bộ phận KSNB và kiểm soát viên. Bộ máy thực hiện nhiệm vụ KSNB hoạt động có hiệu lực, hiệu quả đều dựa trên nền tảng lực lượng cán bộ được giao nhiệm vụ KSNB phải có đủ trình độ, năng lực thực hiện nhiệm vụ; (v) Cần tăng cường phối hợp giữa KSNB với ngoại kiểm. Ở các nước đều có sự phân định rõ giữa hoạt động ngoại kiểm và KSNB. Tuy nhiên, bộ phận KSNB về sử dụng ngân sách - tài sản nhà nước đều có mối quan hệ mật thiết với các cơ quan ngoại kiểm (thanh tra, kiểm toán của Nhà nước) thông qua việc cơ quan ngoại kiểm xác định rủi ro. Trong tổ chức hoạt động KSNB luôn song hành với công tác ngoại kiểm, các hoạt động này không thể thay thế, cản trở nhau và luôn có tác dụng phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau. Không có độc quyền đơn phương kiểm soát mà phối hợp phân quyền rõ ràng giữa ngoại kiểm và KSNB; (vi) Chú trọng cảnh báo rủi ro, nguy cơ tiềm ẩn, tăng cường kiểm soát hiệu quả của công tác sử dụng ngân sách - tài sản nhà nước; (vii) Nâng cao năng lực của cán bộ và tăng cường ứng dụng công nghệ trong KSNB.

(3) Đề tài đã đánh giá và làm rõ thực trạng quy trình, giám sát tài chính nội ngành tại CQHC, ĐVSN của Bộ Tài chính giai đoạn trước năm 2024. Đề tài đã khái quát về hoạt động của CQHC, ĐVSN của Bộ Tài chính; tình hình hoạt động và tài chính của CQHC, ĐVSN của Bộ Tài chính; từ đó nêu được những vấn đề đặt ra cần phải tăng cường công tác giám sát tài chính nội ngành. Đề tài tổng hợp hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước và Bộ Tài chính trong công tác kiểm tra, giám sát tài chính nội ngành; nhiệm vụ và tổ chức bộ máy thực hiện công tác kiểm tra, giám sát tài chính nội bộ của Bộ Tài chính; đánh giá quy trình kiểm tra, giám sát tài chính nội ngành tại Cục Kế hoạch - Tài chính (Bộ Tài chính) và các CQHC, ĐVSN của Bộ Tài chính; từ đó, rút ra những ưu điểm và những hạn chế như: Quy trình kiểm tra, giám sát tài chính nội bộ mới chỉ áp dụng cho Cục Kế hoạch - Tài chính khi thực hiện công tác kiểm tra nội bộ hoặc giám sát nội bộ; chưa xác định cụ thể các nội dung cần được giám sát nội bộ; chưa xây dựng được chế độ thông tin, hệ thống biểu mẫu/yêu cầu báo cáo để áp dụng thống nhất; ngoài ra yêu cầu báo cáo (thường xuyên, đột xuất) của các cấp quản lý nhiều và thường phát sinh gấp, trong đó nhiều nội dung chưa được tích hợp chung hoặc chưa ứng dụng báo cáo điện tử. 

Đề tài cũng đánh giá kết quả đạt được trong công tác kiểm tra, giám sát tài chính nội bộ như: Công tác kiểm tra, giám sát tài chính nội ngành của Bộ Tài chính đã và đang được đẩy mạnh, giúp cho các CQHC, ĐVSN thuộc Bộ kiểm soát rủi ro từ sớm và tăng cường hoạt động của mình; các đơn vị đã triển khai kế hoạch kiểm tra giữa Cục Kế hoạch - Tài chính và các Tổng cục không chồng chéo, chủ động tổ chức thực hiện, tăng cường công tác phối hợp giữa các đơn vị. Thông qua công tác kiểm tra, Cục Kế hoạch - Tài chính và các Tổng cục đã kịp thời phát hiện những tồn tại trong quá trình thực hiện của đơn vị để kịp thời rà soát, chấn chỉnh công tác quản lý của các đơn vị, trong các lĩnh vực quản lý tài chính, tài sản công, đầu tư xây dựng.

(4) Trên cơ sở phân tích kinh nghiệm của một số nước, thực trạng quy trình, giám sát tài chính nội ngành tại CQHC, ĐVSN của Bộ Tài chính, đề tài đề xuất giải pháp: Hoàn thiện quy trình và phương pháp kỹ thuật kiểm tra, giám sát tài chính nội bộ tại Bộ Tài chính: Giai đoạn 1: Lập kế hoạch cuộc kiểm tra, giám sát tài chính nội ngành (Tìm hiểu mong muốn của các bên liên quan; thu thập thông tin về bộ phận/hoạt động được kiểm tra, giám sát; lập chương trình kiểm tra, giám sát; xác định sự tồn tại của hệ hống KSNB và tác dụng của nó trong việc hạn chế/thu hẹp các rủi ro; xác định mức độ hiệu lực của hệ thống KSNB; Giai đoạn 2: Thực hiện kiểm tra, giám sát tài chính nội ngành. Thực hiện các thủ tục kiểm tra, giám sát nội bộ; ghi chép hồ sơ kiểm tra, giám sát nội bộ; Giai đoạn 3: Kết thúc kiểm tra, giám sát nội bộ và lập báo cáo kết quả kiểm tra, giám sát nội bộ; Giai đoạn 4: Theo dõi việc thực hiện kiến nghị kiểm tra, giám sát tài chính: Kiểm tra thời hạn, nội dung báo cáo của bộ phận/hoạt động được kiểm tra, giám sát tài chính về tình hình và kết quả thực hiện kiến nghị của đoàn kiểm tra, giám sát nội bộ; kiểm tra thực tế về thời gian, nội dung kết quả những công việc mà bộ phận/hoạt động được kiểm tra, giám sát tài chính đã thực hiện theo các kiến nghị của đoàn kiểm tra, giám sát tài chính; dựa trên kết quả kiểm tra, giám sát nội bộ, báo cáo kết quả thực hiện kiến nghị cho Lãnh đạo đơn vị. Đề tài đề xuất các điều kiện thực hiện giải pháp: (i) Nhận thức về công tác kiểm tra, giám sát nội bộ: Công tác kiểm tra, giám sát nội bộ là khách quan, phù hợp thông lệ quốc tế và xu hướng cải cách hành chính, công tác quản lý, sử dụng kinh phí, tài sản không được lãng phí, tham nhũng nên toàn bộ các nghiệp vụ quản lý, sử dụng kinh phí, tài sản phải được kiểm soát chặt chẽ, từng bước từ tự nguyện đến bắt buộc. Thủ trưởng các đơn vị, các cấp phải xác định công tác kiểm tra, giám sát nội bộ chính là cánh tay nối dài cho Thủ trưởng cơ quan nhìn nhận khách quan, trung thực về công tác quản lý, sử dụng kinh phí, tài sản trong phạm vi trách nhiệm quản lý của mình; (ii) Đối với các cơ quan quản lý nhà nước: Tuyên truyền rộng rãi về công tác kiểm tra, giám sát nội bộ đến các đối tượng cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan HCSN và các đối tượng khác trong xã hội để tạo dư luận và áp lực; xây dựng mô hình kiểm tra, giám sát nội bộ độc lập, chuyên nghiệp thông qua việc thành lập bộ phận chuyên trách hoặc không thành lập bộ phận chuyên trách tại đơn vị nhưng phải đảm bảo độc lập một cách tương đối với các đơn vị quản lý, sử dụng kinh phí, tài sản, trong đó các CQHC, ĐVSN có quy mô lớn có thể thành lập bộ phận độc lập với các bộ phận thuộc CQHC, ĐVSN. (iii) Đối với các Bộ, ngành, địa phương: Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện văn bản, quy chế của Bộ, ngành, địa phương về kiểm tra, giám sát nội bộ, đồng thời ban hành Sổ tay nghiệp vụ kiểm tra, giám sát nội bộ. Các quyết định về tổ chức bộ máy và nhân sự kiểm tra, giám sát nội bộ phải đảm bảo độc lập với bộ phận quản lý, sử dụng kinh phí, tài sản; hợp nhất hệ thống cơ sở dữ liệu hiện có và kiện toàn hệ thống dữ liệu về quản lý, sử dụng kinh phí, tài sản, kết quả kiểm tra, giám sát nội bộ, công tác ngoại kiểm của các đơn vị trực thuộc, quy định thống nhất đầu mối quản lý dữ liệu và phân cấp, phân quyền truy cập…; (iv) Đối với Cục Kế hoạch - Tài chính: Bám sát chỉ đạo của Chính phủ, nhiệm vụ của Ban Cán sự Đảng Bộ Tài chính và Lãnh đạo Bộ giao, nhiệm vụ của ngành trong quản lý điều hành tài chính - ngân sách để chủ động trong điều hành và phối hợp chặt chẽ với các đơn vị có chức năng thanh tra, kiểm tra chuyên ngành thuộc Bộ để điều chỉnh, bổ sung kế hoạch kiểm tra, giám sát tài chính nội ngành cho phù hợp, kịp thời. Đổi mới phương pháp kiểm tra, giám sát để nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát; phấn đấu hoàn thành 100% kế hoạch được giao. Xây dựng chương trình công tác chi tiết từng tháng để triển khai thực hiện kế hoạch kiểm tra, giám sát đã được phê duyệt; bố trí lực lượng dự phòng cho các cuộc kiểm tra, giám sát đột xuất theo chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính. Thường xuyên nắm bắt tình hình, chủ động tham mưu, đề xuất định hướng công tác, những nhiệm vụ cụ thể cho từng thời kỳ, từng thời gian cụ thể để đảm bảo công tác kiểm tra, giám sát đáp ứng với nhiệm vụ của toàn ngành Tài chính.

5. Thông tin nghiệm thu và lưu trữ

- Nghiệm thu: Đề tài đã được Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu thông qua (Quyết định số 1841/QĐ-BTC ngày 27/5/2025 của Bộ Tài chính về việc thành lập Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ KHCN cấp Bộ năm 2024).

- Lưu trữ: Đề tài được đóng quyển, lưu trữ tại Thư viện Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính./.

ThS. Nguyễn Đức Thịnh

Cục Kế hoạch - Tài chính