Đề tài: Hoàn thiện chính sách thuế ứng phó với cơ chế điều chỉnh các-bon biên giới
21/01/2026 08:35
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Cơ chế điều chỉnh các-bon biên giới (CBAM) đang trở thành xu hướng toàn cầu, nhằm hạn chế sự rò rỉ các-bon và quản lý dấu chân các-bon, bao gồm tổng lượng khí nhà kính phát sinh từ sản xuất, sử dụng và cuối vòng đời sản phẩm. Rò rỉ các-bon và dấu chân các-bon tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế, thương mại, việc làm, quyết định đầu tư, đồng thời liên quan đến hiện tượng nóng lên của trái đất. Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách quan trọng để quản lý và giảm phát thải khí nhà kính, như Quyết định số 1775/QĐ-TTg (2012), Nghị quyết số 24-NQ/TW (2013), Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris (2016) và Nghị định số 06/2022/NĐ-CP với mục tiêu đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 và giảm khoảng 564 triệu tấn CO2 vào năm 2030. Các văn bản pháp luật, đặc biệt là Luật Bảo vệ môi trường (BVMT), đã đưa ra các quy định cụ thể về việc phát triển thị trường các-bon trong nước, bao gồm trao đổi hạn ngạch phát thải và tín chỉ các-bon, buộc các cơ sở phát thải phải kiểm kê, mua bán hạn ngạch theo quy định, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp chuyển đổi công nghệ để giảm phát thải khí các-bon trong sản xuất, tăng sức cạnh tranh hàng hóa xuất khẩu vào EU.
Trên thế giới, Nghị viện và Ủy ban châu Âu cũng đã triển khai CBAM từ năm 2023 - 2025, dự kiến áp dụng chính thức từ năm 2026, đánh thuế điều chỉnh các-bon đối với hàng hóa nhập khẩu từ các quốc gia chưa có cơ chế định giá các-bon. CBAM tập trung vào phát thải trực tiếp trong sản xuất, sau đó có thể mở rộng sang phát thải gián tiếp trong chuỗi giá trị. Tại COP26, Việt Nam cam kết mạnh mẽ giảm phát thải ròng về “0” vào năm 2050, ngừng xây dựng điện than từ năm 2030, loại bỏ dần điện than từ năm 2040, giảm 30% khí thải metan so với năm 2020, thực hiện các cam kết về rừng, sử dụng đất và thích ứng khí hậu. Do đó, việc nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện chính sách thuế ứng phó với cơ chế điều chỉnh các-bon biên giới” là cần thiết, làm rõ cơ chế điều chỉnh các-bon biên giới và đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách thuế góp phần BVMT, giảm phát thải khí nhà kính và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong hội nhập quốc tế.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về CBAM, chính sách thuế môi trường tại Việt Nam; đề tài đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thuế ứng phó với CBAM.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chính sách thuế ứng phó với CBAM.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu chính sách thuế ứng phó với CBAM, trong đó tập trung vào chính sách thuế có liên quan đến mục tiêu BVMT (gồm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế BVMT, thuế tiêu thụ đặc biệt) đối với các mặt hàng thải ra nhiều khí các-bon ở Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới trong giai đoạn 2013 - 2023.
4. Kết quả nghiên cứu
(1) Đề tài đã tổng quan những vấn đề chung về CBAM; theo đó, CBAM được hiểu là một biểu thuế các-bon áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu vào EU trong các ngành công nghiệp có cường độ các-bon cao (EITE) như sắt, thép, nhôm, xi măng, phân bón và điện, dựa trên các cơ sở khoa học gồm rò rỉ các-bon, dấu chân các-bon và phát thải nhúng. Do đó, CBAM hỗ trợ phát triển kinh tế bền vững, gia tăng lợi ích xã hội, nâng cao nhận thức doanh nghiệp trong sản xuất thân thiện môi trường, thúc đẩy quan hệ thương mại quốc tế và huy động vốn đầu tư cho công nghệ sạch. Bên cạnh đó, đề tài cũng đã hệ thống hoá được cơ sở lý luận về chính sách thuế có liên quan đến mục tiêu BVMT, làm rõ mối quan hệ giữa chính sách thuế có liên quan đến mục tiêu BVMT và CBAM. Chính sách thuế BVMT và CBAM đều nhằm mục tiêu giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường từ sản xuất và tiêu dùng. Thuế môi trường tác động gián tiếp đến hành vi tiêu dùng, trong khi CBAM buộc nhà sản xuất chịu trách nhiệm trực tiếp với lượng khí CO2 thải ra, đặc biệt áp dụng với hàng nhập khẩu vào các nước phát triển như EU, Hoa Kỳ. Đề tài cũng đã phân tích làm rõ các nhân tố khách quan và chủ quan gây ảnh hưởng đến chính sách thuế có liên quan đến mục tiêu BVMT, đặc biệt là trong bối cảnh áp dụng CBAM.
(2) Đề tài nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia phát triển và đang phát triển về chính sách hạn chế phát thải các-bon (EU, Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ghana, Indonesia…). Qua đó cho thấy, các nước phát triển như EU, Anh và Hoa Kỳ đã sớm triển khai CBAM nhằm đánh thuế hoặc yêu cầu mua chứng chỉ phát thải đối với hàng hóa có cường độ khí thải cao, khuyến khích sản xuất xanh và giảm phát thải toàn cầu. Trong khi đó, Nhật Bản và Singapore chú trọng xây dựng hệ thống pháp luật môi trường chặt chẽ, gắn quản lý phát thải với các chế tài xử phạt nghiêm. Từ kinh nghiệm các nước, đề tài rút ra một số bài học cho Việt Nam, cụ thể là: (i) Cần sự đồng thuận xã hội và chính trị: Việc áp thuế các-bon phải có sự ủng hộ của người dân, tránh gây phản ứng xã hội; được triển khai phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước; (ii) Đảm bảo công bằng xã hội: Thuế các-bon có thể gây ảnh hưởng lớn đến người thu nhập thấp do giá cả hàng hóa tăng, do đó, cần có chính sách bồi thường, hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp cho nhóm người dễ bị tổn thương. Hệ thống phân phối lại nguồn thu từ thuế các-bon phải được thiết kế minh bạch và hiệu quả; (iii) Cần gói chính sách tổng thể: Có thể triển khai kết hợp thuế các-bon với các chính sách bổ sung khác (như cấm hoặc hạn chế một số sản phẩm gây ô nhiễm, hỗ trợ tài chính cho năng lượng tái tạo, đầu tư vào hạ tầng xanh và giao thông công cộng); (iv) Xem xét việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Tăng giá các-bon sẽ dẫn tới tái cấu trúc kinh tế, do đó cần nghiên cứu để có giải pháp hỗ trợ đào tạo lại lao động, đầu tư vào lĩnh vực năng lượng sạch để tạo việc làm thay thế; (v) Giải quyết các lỗ hổng từ việc đánh thuế: Một số lĩnh vực như nông nghiệp, rừng, chất thải khó bị đánh thuế trực tiếp, do đó cần áp dụng chính sách quản lý phi thuế (như quản lý đất bền vững, giảm phát thải trong nông nghiệp thông qua kỹ thuật mới, cải tiến quản lý chất thải và thức ăn chăn nuôi; (vi) Ngoài ra, nên tận dụng thuế các-bon để thúc đẩy đổi mới và đầu tư xanh, tận dụng thuế xanh để cải cách thuế toàn diện, chủ động chuẩn bị tiêu chuẩn sản xuất và đo lường phát thải để đáp ứng các rào cản thương mại mới.
(3) Đề tài phân tích, đánh giá thực trạng chính sách thuế nhằm mục tiêu BVMT tại Việt Nam. Về cơ bản, chính sách thuế góp phần hạn chế việc sử dụng các loại sản phẩm gây ô nhiễm môi trường như túi ni lông, xăng dầu và thúc đẩy người dân chuyển dần sang sử dụng các phương tiện thân thiện với môi trường. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, các chính sách thuế này vẫn còn một số hạn chế, đặc biệt trong bối cảnh các quốc gia trên thế giới đang tăng cường đánh thuế dựa trên mức độ phát thải. (i) Đối với thuế BVMT: Phạm vi đánh thuế còn hẹp, mới tập trung vào 08 nhóm hàng hóa truyền thống, chưa bao quát các sản phẩm gây ô nhiễm khác như phân bón, chất tẩy rửa hay nhựa dùng một lần. Biểu khung thuế thiếu hợp lý, chưa phản ánh đúng mức độ gây hại môi trường, trong khi mức thuế suất thấp so với nhiều quốc gia, dẫn đến hiệu quả hạn chế trong việc thay đổi hành vi tiêu dùng. Ngoài ra, quy định về đối tượng không chịu thuế (hàng xuất khẩu) và việc thiếu cơ chế ưu đãi, miễn giảm thuế cho doanh nghiệp thân thiện môi trường cũng làm cho chính sách chưa tạo được động lực mạnh mẽ trong cải tiến công nghệ và giảm phát thải. (ii) Đối với thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: Đã có quy định về miễn thuế đối với một số hàng hóa nhập khẩu để BVMT, tuy nhiên, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là chính sách thuế thực hiện hoạt động BVMT gián tiếp và được quy định mức thuế suất dựa trên Danh mục Biểu thuế quan hài hòa ASEAN và không đánh thuế dựa trên mức độ phát thải. (iii) Đối với thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB): Chủ yếu điều tiết các hàng hóa, dịch vụ xa xỉ (như rượu, bia, thuốc lá, ô tô...), không đánh thuế theo lượng phát thải CO₂ hoặc ô nhiễm môi trường, nên tác động đến BVMT còn hạn chế.
(4) Đề tài đã phân tích làm rõ bối cảnh trong nước và quốc tế, quan điểm và chủ trương đối với việc điều chỉnh chính sách thuế nhằm ứng phó với CBAM, từ đó đề tài đề xuất 04 nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thuế nhằm ứng phó với CBAM, gồm: (i) Về chính sách thuế BVMT: Sửa đổi quy định về khung thuế BVMT đối với mặt hàng xăng dầu để phù hợp với thực tiễn; sửa đổi mức thuế BVMT đối với xăng sinh học để khuyến khích sử dụng, hướng đến mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững; (ii) Về chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: Điều chỉnh thẩm quyền ban hành Biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu theo hướng giao cho Bộ Tài chính để đảm bảo sự linh hoạt, chủ động trong điều hành; điều chỉnh mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với nhiên liệu sinh học, đặc biệt áp dụng mức thuế ưu đãi phù hợp đối với một số mặt hàng có khả năng bị điều chỉnh bởi CBAM (như sắt, thép); (iii) Về thuế TTĐB: Nghiên cứu điều chính mức thuế suất thuế TTĐB, phân cấp cho Uỷ ban Thường vụ Quốc hội được quyền điều chỉnh mức thuế suất thuế TTĐB trong biên độ được Quốc hội cho phép để đảm bảo tính chủ động, linh hoạt trong điều hành; nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định về khấu trừ thuế TTĐB đối với xăng dầu sinh học để thúc đẩy tăng trưởng xanh, phát triển bền vững; (iv) Ngoài ra, Việt nam cần xây dựng chính sách thuế các-bon hoặc một cơ chế tương tự CBAM nhằm giảm phát thải trong sản xuất và tránh bị đánh thuế bổ sung khi xuất khẩu. Điều này giúp hàng hóa Việt Nam duy trì năng lực cạnh tranh và phù hợp với xu hướng giảm phát thải toàn cầu.
Đề tài cũng đã đưa ra lộ trình áp dụng các chính sách thuế phù hợp với Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2030. Theo đó, giai đoạn đến năm 2026, tập trung hoàn thiện khung thuế BVMT, mở rộng đối tượng chịu thuế và điều chỉnh mức thuế phù hợp; sau năm 2026, tiếp tục mở rộng cơ sở thuế và áp dụng linh hoạt hơn. Trong giai đoạn 2025 - 2027, Việt Nam sẽ hoàn thiện khung pháp lý và hạ tầng kỹ thuật để vận hành thị trường các-bon; từ năm 2027 trở đi, Việt Nam sẽ chính thức áp dụng cơ chế tín chỉ CBAM, đồng thời, các doanh nghiệp phải kê khai và bù trừ phát thải.
5. Thông tin nghiệm thu và lưu trữ
- Nghiệm thu: Đề tài đã được Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu thông qua (Quyết định số 404/QĐ-BTC ngày 26/02/2025 của Bộ Tài chính về việc thành lập Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ KHCN cấp Bộ năm 2024).
- Lưu trữ: Đề tài được đóng quyển, lưu trữ tại Thư viện Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính./.
ThS. Trần Thị Bích Ngọc
Cục Quản lý, Giám sát chính sách thuế, phí và lệ phí