Đề tài: Giải pháp xây dựng Trường Hải quan Việt Nam trở thành Trung tâm đào tạo Hải quan vùng khu vực châu Á - Thái Bình Dương
17/01/2026 14:15
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Hiện Cơ quan Hải quan đang quyết liệt đẩy nhanh tiến độ chuyển đổi mô hình quản lý nghiệp vụ sang mô hình Hải quan số, Hải quan thông minh để tương thích với chuẩn mực Hải quan thế giới và các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghiệp lần thứ tư. Điều đó đòi hỏi công tác đào tạo, bồi dưỡng của ngành cũng phải nhanh chóng đổi mới cả về lượng và chất, không chỉ bó hẹp trong phạm vi quốc gia mà phải bứt phá, vươn tầm Hải quan khu vực và thế giới để thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển, tận dụng có hiệu quả nguồn lực chia sẻ của Hải quan các nước và trở thành điểm đến trung tâm của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) trong quá trình xây dựng, nâng cao năng lực cho công chức Hải quan toàn cầu. Như vậy chất lượng nguồn nhân lực Hải quan mới nhanh chóng đột phá, vươn mình để có trình độ cao, đáp ứng được cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy mới hiện nay, theo kịp được các công nghệ tiên tiến, sáng tạo.
Tại Quyết định số 628/QĐ-TTg ngày 28/05/2022 phê duyệt Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2030, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu ngành Hải quan phải: “Xây dựng cơ sở vật chất hiện đại, phương pháp quản lý đào tạo đạt chuẩn của cơ sở đào tạo cấp khu vực và đội ngũ giảng viên chuyên sâu về kiến thức hải quan, kỹ năng sư phạm, một số giảng viên cơ hữu và giảng viên kiêm chức được WCO công nhận là giảng viên của WCO có thể tham gia giảng dạy quốc tế….”. Quyết định số 1855/QĐ-BTC ngày 13/9/2022 về việc ban hành “Kế hoạch cải cách, phát triển và hiện đại hóa ngành Hải quan đến năm 2025” nêu rõ định hướng: “Xây dựng Trường Hải quan Việt Nam (HQVN) chính quy hiện đại có cơ sở vật chất, phương pháp đào tạo tiên tiến, hiện đại, đạt chuẩn của cơ sở đào tạo cấp khu vực đảm bảo đáp ứng yêu cầu đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho ngành Hải quan trong thời đại mới”. Đề án Đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức Hải quan giai đoạn 2021 - 2025 ban hành kèm theo Quyết định số 2438/QĐ-TCHQ của Tổng Cục trưởng Tổng cục Hải quan xác định: “Hoàn thành mục tiêu đưa Trường HQVN trở thành Trung tâm đào tạo của khu vực”. Bên cạnh đó, việc hợp tác và hội nhập quốc tế ngày một sâu rộng, toàn diện của HQVN đặt ra những yêu cầu cấp thiết về tiếp cận các chuẩn mực đào tạo, xây dựng năng lực của WCO.
Thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, Trường HQVN sẽ hợp nhất để thu gọn đấu mối, đáp ứng yêu cầu của Bộ Tài chính chỉ có duy nhất một đơn vị có chức năng đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức, viên chức và cộng đồng doanh nghiệp về các lĩnh vực nghiệp vụ kinh tế - tài chính như: hải quan, thuế, đầu tư, bảo hiểm,... Tuy nhiên, theo mô hình Trung tâm đào tạo Hải quan vùng (RTC) của các nước có cơ quan Hải quan thuộc Bộ Tài chính, một đơn vị ở cấp độ phân hiệu hoặc Khoa, Phòng Hải quan thuộc Trường Đào tạo, bồi dưỡng của Bộ mà có tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về nghiệp vụ hải quan vẫn được WCO công nhận là RTC nếu đáp ứng một số điều kiện tiên quyết và cơ bản. Do vậy, việc sáp nhập và thay đổi mô hình tổ chức không làm thay đổi mục tiêu trở thành RTC của Trường HQVN. Để phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước nói chung và ngành Hải quan nói riêng trong thời kỳ hội nhập, phát triển của khoa học kỹ thuật và chuyển đổi số, việc triển khai nghiên cứu đề tài “Giải pháp xây dựng Trường HQVN trở thành Trung tâm đào tạo Hải quan vùng khu vực châu Á - Thái Bình Dương” có ý nghĩa cấp thiết, góp phần cung cấp những luận cứ khoa học cả về mặt lý luận và thực tiễn.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng của HQVN và đề xuất các giải pháp đưa Trường HQVN trở thành RTC khu vực châu Á - Thái Bình Dương trước năm 2030.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Mô hình trung tâm đào tạo Hải quan vùng của WCO và điều kiện xây dựng Trường HQVN trở thành RTC khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
- Phạm vi nghiên cứu: Lý luận mô hình trung tâm đào tạo Hải quan vùng của WCO, thực tiễn triển khai tại HQVN và Trường HQVN giai đoạn 2016 - 2024, đề xuất các giải pháp, lộ trình đưa Trường HQVN trở thành RTC khu vực châu Á - Thái Bình Dương đến năm 2030.
4. Kết quả nghiên cứu
(1) Đề tài đã làm rõ một số vấn đề chung về xây dựng trung tâm đào tạo Hải quan vùng theo định hướng của WCO. Theo đó, RTC là một mô hình phát triển các trung tâm đào tạo khu vực bền vững về lĩnh vực Hải quan, hỗ trợ WCO triển khai hoạt động xây dựng năng lực chiến lược khu vực nhằm duy trì khuyến khích học tập, xây dựng văn hóa dịch vụ chuyên nghiệp và dựa trên tri thức, đồng thời phát huy sức mạnh tổng hợp, hội nhập khu vực, chia sẻ thực tiễn và kinh nghiệm tốt nhất với mục tiêu cùng tiến lên của các thành viên. RTC có vai trò phát triển đào tạo phù hợp với tính chất, đặc tính khu vực, là cơ quan khu vực duy trì đội ngũ chuyên gia đào tạo và giảng viên chuyên nghiệp. Bên cạnh đó, RTC cung cấp các hoạt động đào tạo chuyên môn nghiệp vụ hải quan chuyên sâu ở cấp khu vực, phát triển và hỗ trợ các chương trình đào tạo kết hợp của WCO. Mặc dù WCO không đưa ra bộ tiêu chí cố định cụ thể và cũng không hạn chế về số lượng RTC được công nhận nhưng thành viên có mong muốn và nhu cầu trở thành RTC phải đảm bảo một số điều kiện và tuân theo quy trình công nhận RTC nhất định như: Có một trung tâm, cơ sở đào tạo hải quan chuyên nghiệp; có Nghị quyết thông qua của các Tổng cục trưởng Hải quan trong khu vực và ký Biên bản ghi nhớ với WCO. Bên cạnh đó, WCO không có quy định cụ thể và “cứng” về tiêu chuẩn để một cơ sở đào tạo của thành viên được công nhận là RTC. Tuy nhiên, nhằm đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao về đào tạo trong bối cảnh hiện nay, để hỗ trợ cho các hoạt động đào tạo khu vực một cách hiệu quả, RTC được công nhận đặt tại các quốc gia thành viên cần đảm bảo đủ các yếu tố sau: (i) Có cơ sở đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ hải quan; (ii) Thúc đẩy và lan tỏa các chương trình đào tạo thế mạnh; (iii) Có nguồn nhân lực đủ năng lực để đáp ứng yêu cầu vận hành của RTC; (iv) Cơ sở hạ tầng cần đủ năng lực để tổ chức các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng; (v) Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về đào tạo, bồi dưỡng; (vi) Xác định nguồn kinh phí hỗ trợ tổ chức các hoạt động đào tạo tại RTC.
(2) Đề tài đã nghiên cứu kinh nghiệm mô hình Trung tâm đào tạo Hải quan vùng của một số quốc gia như: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Inđônêxia, Malaysia... Tại Trung Quốc, Đại học Hải quan Thượng Hải (SCC) đang hoạt động theo mô hình kết hợp, vừa đào tạo các chương trình thuộc hệ thống giáo dục quốc gia như đào tạo cử nhân, thạc sĩ, các chương trình ngắn hạn; đào tạo chuyên môn nghiệp vụ hải quan cho công chức hải quan trong nước đồng thời thực hiện vai trò đào tạo khu vực theo cam kết hợp tác với WCO. Tại Nhật Bản, Học viện đào tạo Hải quan (CTI) không thuộc Cơ quan Hải quan và Thuế quan Nhật Bản mà là một cơ quan độc lập, nằm dưới sự điều hành trực tiếp của Bộ Tài chính Nhật Bản vừa có chức năng đào tạo cho công chức Hải quan Nhật Bản vừa có chức năng hợp tác quốc tế về đào tạo các lĩnh vực nghiệp vụ Hải quan. Học viện Phát triển Nguồn nhân lực Hải quan (CHRDI) là một trung tâm đào tạo lớn và hiện đại thuộc cơ cấu tổ chức của Hải quan Hàn Quốc. Với quy mô như vậy, Học viện Phát triển Nguồn nhân lực Hải quan (CHRDI) đã rất thành công trong việc duy trì mô hình đào tạo song song giữa đào tạo các chương trình trong nước cho Hải quan Hàn Quốc và đào tạo các chương trình khu vực theo kế hoạch của WCO. Trung tâm đào tạo Hải quan Indonesia (Pusdiklat BC) cung cấp các chương trình đào tạo theo mô hình hoạt động tương tự các RTC khác bao gồm đào tạo trong nước cho các công chức hải quan và đào tạo quốc tế về các vấn đề hải quan. Khác với một số RTC khác, về mặt hành chính, Trung tâm đào tạo Hải quan Indonesia (Pusdiklat BC) thuộc Cơ quan giáo dục của Chính phủ Indonesia nhưng về mặt nghiệp vụ thì Trung tâm đào tạo Hải quan Indonesia (Pusdiklat BC) lại có liên hệ trực tiếp với TCHQ và Thuế (DGCE) của Indonesia. Cũng giống như các RTC khác, Học viện Hải quan Hoàng gia Malaysia (AKMAL) hoạt động theo mô hình đào tạo song song hai chương trình trong nước và quốc tế. Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm một số quốc gia, đề tài đã đưa ra một số khuyến nghị cho Việt Nam như: (i) ở cấp độ vĩ mô: Để trở thành RTC, yếu tố tiên quyết cần có là quyết tâm chính trị vàmong muốn thật sự của Việt Nam đối với mục tiêu trở thành RTC. Đồng thời, cần xác định cụ thể mục tiêu đạt được để có các bước chuẩn bị kỹ lưỡng cho quá trình này. Ngoài ra, cần xây dựng kế hoạch và chuẩn bị kỹ các yếu tố cần và đủ để trở thành RTC; (ii) Ở góc độ chi tiết: Đối với HQVN, muốn trở thành RTC thì việc thuyết minh về nguồn kinh phí để giải trình, báo cáo với các cơ quan chức năng là yếu tố tiên quyết; với các RTC đã được WCO công nhận, một điểm nhấn nổi bật đó là họ đều có cơ sở vật chất tiên tiến, đồng bộ. RTC của HQVN cần được đầu tư xây dựng thêm một số hạng mục, trang bị thêm một số cơ sở vật chất hiện đại với đầy đủ các phòng chức năng phù hợp với các nền văn hóa, tín ngưỡng khác nhau; HQVN cần thúc đẩy, có cơ chế động viên lực lượng giảng viên cơ hữu, giảng viên kiêm nhiệm của ngành tham dự các kỳ thi tuyển chọn chuyên gia của WCO về một/một số lĩnh vực được Hải quan thế giới quan tâm. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng cần được thiết kế phù hợp với các đối tượng: Công chức hải quan trong nước - công chức hải quan nước ngoài - cộng đồng doanh nghiệp/khu vực tư nhân. Phương pháp đào tạo cần đổi mới triệt để và là minh họa rõ nhất cho quyết tâm chính trị trở thành RTC của HQVN.
(3) Đề tài đã phân tích thực trạng hoạt động đào tạo, bồi dưỡng của HQVN thời gian qua. (i) Về nguồn nhân lực: Ngành Hải quan cơ bản đã xây dựng được một nguồn đội ngũ giảng viên (trực tiếp) đa dạng, có trình độ nghiệp vụ chuyên môn và kỹ năng sư phạm. Một số giảng viên đã trở thành các chuyên gia quốc tế hoặc chuyên gia khu vực. (ii) Về chương trình, giáo trình và tài liệu đào tạo: TCHQ đã xây dựng được 08 khung chương trình và tài liệu bồi dưỡng chuyên sâu cho 08 lĩnh vực chuyên môn nghiệp vụ cốt lõi của ngành (thuế xuất nhập khẩu, kiểm tra sau thông quan, điều tra chống buôn lậu, giám sát quản lý, quản lý rủi ro, xử lý vi phạm hành chính, kiểm định hải quan, thanh tra) và 07 lĩnh vực với 64 chương trình bồi dưỡng các lĩnh vực nghiệp vụ hải quan. Đặc biệt, ngành Hải quan có 01 chương trình đào tạo và bộ tài liệu riêng về tiếng Anh chuyên ngành Hải quan cho công chức, viên chức Hải quan và có thời lượng 30 ngày. Bên cạnh đó, còn có các chương trình, giáo trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức Hải quan có yếu tố nước ngoài, cho cộng đồng doanh nghiệp. Hợp tác kỹ thuật phát triển nguồn nhân lực đã được thực liên tục với sự hỗ trợ, tài trợ về tài chính và chuyên gia của nhiều đối tác như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Pháp, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ốt-xtrây-lia, Niu Di-lân, Anh, tập trung vào các lĩnh vực nghiệp vụ hải quan. Bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn một số hạn chế như: Đội ngũ giảng viên cơ hữu còn thiếu về số lượng, yếu về lĩnh vực chuyên môn, chuyên sâu. Đội ngũ giảng viên kiêm nhiệm phải đảm đương nhiều nhiệm vụ trọng trách của ngành nên chưa thực sự đầu tư nhiều cho việc chuẩn bị tài liệu, phương pháp giảng dạy. Lực lượng giảng viên và cán bộ quản lý đào tạo của Trường HQVN còn mỏng; Chính sách ưu đãi của ngành cho lực lượng giảng viên kiêm nhiệm chưa gắn với các quyền lợi thiết thực về luân chuyển, điều động, bổ nhiệm. Công tác hợp tác quốc tế để xây dựng năng lực vẫn còn dàn trải, triển khai theo đối tác và sự kiện chưa được hoạch định thành một bộ phận của công tác đào tạo, bồi dưỡng có yếu tố nước ngoài. Chương trình, tài liệu của lớp nghiệp vụ Hải quan tổng hợp vẫn còn dàn trải, mất cân đối giữa phần lý thuyết và thực hành (tỷ lệ lý thuyết là 50 - 80% và thực hành là 20 - 50% tại một số chuyên đề). Đề tài cũng phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức khi trở thành RTC của WCO.
(4) Trên cơ sở phân tích bối cảnh trong nước, quốc tế, định hướng và yêu cầu, điều kiện để xây dựng RTC với HQVN, đề tài đã đề xuất các giải pháp xây dựng RTC khu vực châu Á - Thái Bình Dương tại Việt Nam gồm: (i) Xây dựng sứ mệnh, tầm nhìn, chiến lược (Kế hoạch hành động) của đơn vị đào tạo hải quan giai đoạn 2025 - 2030. Theo đó, phát triển đơn vị đào tạo Hải quan phải đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước; tuân thủ các quy định của pháp luật; đồng bộ, phù hợp với định hướng phát triển của Bộ Tài chính và TCHQ. Trên cơ sở kế thừa, phát triển các thành tựu cải cách, hiện đại hóa của ngành Hải quan đã đạt được, tiếp tục hiện đại hóa toàn diện công tác đào tạo; (ii) Lựa chọn, phát triển một/một số chương trình đào tạo thế mạnh. Theo đó, cần tập trung vào một số chương trình đã có nền tảng, lợi thế về kinh nghiệm tổ chức, nội dung đào tạo và nguồn lực giảng viên như Kiểm soát thương mại chiến lược, Kiểm soát container toàn cầu và doanh nghiệp ưu tiên; (iii) Kiện toàn, bồi dưỡng, phát triển lực lượng giảng viên nhằm xây dựng, phát triển đồng đều cả hai đội ngũ giảng viên cơ hữu và kiêm chức để bổ trợ những thiếu hụt và phát huy được tối đa những ưu điểm của nhau góp phần nâng cao hiệu quả của công tác đào tạo. Đối với giảng viên cơ hữu, việc kiện toàn, bồi dưỡng, phát triển phải gắn với chính sách bồi dưỡng kiến thức chuyên môn chuyên sâu; bồi dưỡng kỹ năng sư phạm, kỹ năng hợp tác và hội nhập quốc tế, chuyển đổi số và đào tạo kỹ năng giảng dạy trong môi trường số, thiết kế bài giảng điện tử,…nâng cao trình độ tiếng Anh và cơ chế đãi ngộ; (iv) Để nâng cao năng lực đào tạo, bồi dưỡng cần đẩy mạnh chuyển đổi số; đổi mới phương pháp đào tạo và các hình thức đào tạo; đổi mới chương trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng; công tác đánh giá kết quả đào tạo, bồi dưỡng; (v) Đẩy mạnh đào tạo cho cộng đồng doanh nghiệp theo hướng xây dựng các chương trình đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp và nâng cấp chất lượng phục vụ trước, trong và sau quá trình tổ chức đào tạo, bồi dưỡng; (vi) Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức,xây dựng cơ chế huy động các chuyên gia uy tín ở những nước phát triển tham gia giảng dạy, huấn luyện cho đội ngũ công chức, viên chức hải quan. Nghiên cứu áp dụng các chuẩn mực quốc tế về đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức Hải quan. Khuyến khích và tạo điều kiện cho công chức, viên chức được trao đổi, nghiên cứu, học tập, tiếp thu kinh nghiệm của nước ngoài. Ký kết hợp tác song phương về đào tạo chuyên gia hải quan với các nước, WCO, hướng tới xây dựng đội ngũ giảng viên cơ hữu hoặc giảng viên kiêm chức được công nhận là chuyên gia Hải quan hoặc được WCO công nhận là giảng viên của WCO, có thể tham gia giảng dạy quốc tế; (vii) Bố trí kinh phí vận hành RTC nhằm thuyết minh với WCO về sự sẵn sàng của Bộ Tài chính, HQVN trong việc bố trí kinh phí đối ứng để tổ chức, đăng cai hoặc phối hợp tổ chức các sự kiện quốc tế, khu vực. Ngoài ra, đề tài cũng đưa ra lộ trình xây dựng đơn vị đào tạo Hải quan trở thành Trung tâm đào tạo Hải quan vùng khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong thời gian tới.
5. Thông tin nghiệm thu và lưu trữ
- Nghiệm thu: Đề tài đã được Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu thông qua (Quyết định số 401/QĐ-BTC ngày 26/02/2025 của Bộ Tài chính về việc thành lập Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ KHCN cấp Bộ năm 2024).
- Lưu trữ: Đề tài được đóng quyển, lưu trữ tại Thư viện Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính./.
TS. Nguyễn Hồng Phong
Cục Hải quan