Đề tài: Giải pháp áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu tại Việt Nam

18/01/2026 10:15


1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Từ khi thành lập, Hội Quốc Liên - Tổ chức tiền thân của Liên Hợp Quốc và đặc biệt sau Thế chiến thứ II, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) được thành lập với mục tiêu thúc đẩy hợp tác phát triển kinh tế, tạo thành nền kinh tế thế giới. Thông qua tăng cường hoạt động đầu tư nước ngoài và tự do hóa thương mại quốc tế, các quốc gia đã thống nhất xây dựng những chuẩn mực chung về thuế quốc tế trong xây dựng, ban hành thuế TNDN. Theo đó, các nước đã thống nhất các quy định chung tại Mẫu Hiệp định đánh thuế của OECD. Một quốc gia có quyền đánh thuế thu nhập đối với các công ty có tư cách pháp nhân cư trú tại nước đó đối với thu nhập từ sản xuất - kinh doanh, đầu tư, chuyển giao công nghệ, dịch vụ, tài chính... phát sinh tại quốc gia đó hoặc các thu nhập có được thông qua cơ sở thường trú của doanh nghiệp đó đặt tại nước ngoài, các khoản thu nhập gián tiếp từ đầu tư, chuyển giao công nghệ nhận được tại nước ngoài. Nguyên tắc đánh thuế theo thu nhập của pháp nhân trong bối cảnh đầu tư quốc tế mở rộng, đa dạng đã dẫn đến thực tế các pháp nhân thành lập các doanh nghiệp liên kết trong tập đoàn, đóng tại các quốc gia khác nhau với mức thuế ưu đãi khác nhau nhằm tập trung ưu đãi thuế, nộp thuế ở mức thấp nhất, dẫn đến hiện tượng chuyển giá, chuyển lợi nhuận của toàn tập đoàn về những nước thiên đường thuế với mức thuế TNDN rất thấp hoặc miễn thuế. Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế sâu rộng, các chính sách thuế quốc tế ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự công bằng và phát triển bền vững cho môi trường đầu tư kinh doanh toàn cầu. Sáng kiến thuế tối thiểu toàn cầu được OECD thông qua tại Diễn đàn BEPS/IF không chỉ nhằm ngăn chặn hành vi tránh thuế của các công ty đa quốc gia mà còn tạo ra một bước tiến lớn trong việc định hình lại cấu trúc chính sách thuế quốc tế. Mục tiêu của thuế tối thiểu toàn cầu nhằm cải cách chính sách thuế TNDN theo hướng đánh thuế TNDN đối với các tập đoàn đa quốc gia, nhóm công ty trên cơ sở thu nhập hợp nhất của tập đoàn tại công ty mẹ tối cao nơi đóng trụ sở tại các nước như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Nhật Bản… từ cơ sở thu nhập hợp nhất trong năm của tập đoàn, bất kể thu nhập đó có được chuyển về hoặc chia cho công ty mẹ hay không. Việc áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu là một phần trong cam kết của Việt Nam đối với các chế định hợp tác quốc tế, đặc biệt là Chương trình hành động BEPS/IF, nhằm đảm bảo sự cạnh tranh đầu tư lành mạnh thông qua hệ thống thuế quốc tế. Hơn nữa, trước bối cảnh các quốc gia có vốn đầu tư lớn vào Việt Nam đã có kế hoạch áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu để giành quyền thu thuế; đồng thời các quốc gia nhận vốn đầu tư tương tự như Việt Nam đã và đang nghiên cứu chính sách ứng phó, hỗ trợ nhà đầu tư trước tác động của thuế tối thiểu toàn cầu, Việt Nam cần nghiên cứu, xem xét áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu. Tuy nhiên, sự thay đổi này trong chính sách thuế cũng mang đến không ít thách thức, đặc biệt trong việc duy trì sức hấp dẫn của môi trường đầu tư và sự thích ứng. Xuất phát từ các lý do nêu trên, việc lựa chọn đề tài nghiên cứu “Giải pháp áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu tại Việt Nam” là cần thiết và cấp bách cả về mặt lý luận và thực tiễn. Nó không chỉ giúp Việt Nam bảo vệ nguồn thu và quyền đánh thuế mà còn tạo cơ sở điều chỉnh chính sách ưu đãi, củng cố môi trường đầu tư, hoàn thiện thể chế và phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế toàn cầu. 

2. Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài đề xuất giải pháp áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu tại Việt Nam theo đúng quy định, hướng dẫn của OECD/G20 về thuế tối thiểu toàn cầu để đảm bảo đạt chuẩn, phù hợp với thực tế, không ảnh hưởng tới các doanh nghiệp không thuộc đối tượng áp dụng của thuế tối thiểu toàn cầu.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Chính sách thuế tối thiểu toàn cầu và các tác động của thuế tối thiểu toàn cầu đến chính sách pháp luật, quản lý thuế và tình hình kinh tế - xã hội của Việt Nam.

- Phạm vi nghiên cứu: Chính sách, cơ sở pháp lý, giải pháp áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu tại Việt Nam, bao gồm cả chính sách thuế, quản lý thuế và chính sách hỗ trợ đầu tư. Đề tài nghiên cứu đánh giá tình hình đầu tư của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam giai đoạn 2021 - 2023. 

4. Kết quả nghiên cứu

(1) Đề tài đã phân tích cơ sở lý luận về thuế tối thiểu toàn cầu, trong bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra ngày càng sâu rộng, sự phát triển của công nghệ thông tin mà các mô hình kinh tế mới (kinh tế chia sẻ, kinh tế số…) đã và đang làm thay đổi các mô hình kinh doanh truyền thống. Nhiều loại hình kinh doanh mới dựa trên nền tảng công nghệ thông tin ra đời, đem lại nhiều tiện ích cho khách hàng, đồng thời đặt các cơ quan quản lý vào tình huống cần phải thay đổi các biện pháp quản lý phù hợp, đặc biệt là quản lý thuế. Bên cạnh đó, sự phát triển không đồng đều giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ, sự chênh lệch về trình độ quản lý và sự khác biệt về các chính sách ưu đãi thu hút đầu tư nước ngoài, đang tạo cơ hội cho các doanh nghiệp hoạt động đa quốc gia (MNE) lợi dụng chuyển lợi nhuận giữa các nước để tránh việc thực hiện nghĩa vụ thuế đối với các hoạt động sản xuất - kinh doanh. Thuế tối thiểu toàn cầu có những quy định riêng về: (i) Tổng hợp thu nhập chịu thuế tối thiểu (IIR) là quy định đánh thuế từ trên xuống, theo đó cho phép quốc gia nơi đặt trụ sở của công ty mẹ tối cao được quyền đánh thuế bổ sung công ty mẹ tối cao đối với thu nhập hợp nhất của các đơn vị hợp thành ở mỗi nước đang chịu thuế thực tế thấp hơn mức thuế tối thiểu 15%; (ii) Lợi nhuận chịu thuế dưới mức tối thiểu (UTPR) được thiết kế để bổ trợ cho IIR, áp dụng trong trường hợp đơn vị hợp thành đang chịu thuế thực tế thấp hơn mức tối thiểu nhưng chưa bị đánh thuế bổ sung theo IIR tại một nước nào khác thì các quốc gia có đơn vị hợp thành thuộc tập đoàn sẽ có quyền thu thuế bổ sung đối với đơn vị hợp thành ở quốc gia đó, bao gồm cả các đơn vị hợp thành đặt tại quốc gia đặt trụ sở của công ty mẹ tối cao; (iii) Thuế khấu trừ tại nguồn tối thiểu (STTR) cho phép quốc gia nơi phát sinh thu nhập được quyền đánh thuế ở mức thuế suất tối thiểu 9% đối với một số khoản thanh toán thu nhập cho bên liên kết chịu thuế ở dưới mức thuế suất tối thiểu 9% này; (iv) Thuế bổ sung tối thiểu nội địa đạt chuẩn (QDMTT) là quy định quan trọng đối với các quốc gia nhận đầu tư để giành quyền đánh thuế bổ sung trước các quốc gia khác; (v) Khoản giảm trừ thuế thu nhập đạt chuẩn (QRTC) là khoản giảm trừ thuế thu nhập có thể được hoàn trả với điều kiện khoản giảm trừ này thực tế phải được trả bằng tiền hoặc các khoản tương đương tiền trong vòng 4 năm kể từ khi đơn vị hợp thành đáp ứng các điều kiện được giảm trừ thuế thu nhập theo luật của nước cho giảm trừ. Ngoài ra, đề tài còn đánh giá tác động của thuế tối thiểu toàn cầu đối với các công ty, tập đoàn đa quốc gia, từ đó gián tiếp chi phối các mặt khác trong hoạt động sản xuất - kinh doanh; tác động của thuế tối thiểu toàn cầu đến các kinh tế - xã hội của các quốc gia. Đề tàixem xét ảnh hưởng của thuế tối thiểu toàn cầu, căn cứ vào vị thế của các quốc gia trong hoạt động đầu tư quốc tế đểphân chia thành 02 nhóm: Nhóm các quốc gia chủ yếu có vốn đầu ra nước ngoài (xuất khẩu vốn) và nhóm các quốc gia chủ yếu nhận vốn đầu tư từ nước ngoài (nhập khẩu vốn).

(2) Đề tài đã nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trong việc áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu như: Đức, Thái Lan, Malaysia, Singapore và Trung Quốc. Tại Đức, việc áp dụng các quy định của thuế tối thiểu toàn cầu chỉ nội luật hoá 3 quy định: IIR, UTPR và QDMTT để đảm bảo quyền đánh thuế của quốc gia, còn STTR sẽ được bổ sung sau vào các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần, quy định IIR và QDMTT áp dụng từ 01/01/2024, còn quy định UTPR áp dụng từ 01/01/2025. Tuy nhiên, Thái Lan đề xuất thu thuế bổ sung thông qua các quy định thuế bổ sung nội địa (DMTT), IIR và UTPR. Đối với quy định UTPR, dự thảo Luật nêu rõ rằng Thái Lan sẽ không áp dụng phương pháp từ chối khấu trừ mà thay vào đó, thuế bổ sung sẽ được áp dụng đối với tất cả các đơn vị hợp thành ở Thái Lan. Trong khi đó, Malaysia áp dụng quy định GloBE và thuế bổ sung nội địa kể từ ngày 01/01/2025. Các quy định GloBE và thuế bổ sung nội địa được đưa vào luật pháp của Malaysia bằng cách bổ sung một phần mới - thực hiện thuế bổ sung trong nước và thuế bổ sung đa quốc gia. Việc ban hành các chính sách thu hút đầu tư trong bối cảnh áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu tại Singapore đã xác định rõ việc thu hút nguồn vốn FDI tập trung vào 3 lĩnh vực: Ngành sản xuất mới, xây dựng và xuất khẩu. Bên cạnh đó, tùy từng điều kiện cụ thể của mỗi thời kỳ, Singapore sẽ chủ trương thu hút vốn FDI vào các ngành thích hợp. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của ngành công nghiệp điện tử và một số công nghệ tiên tiến khác, hướng sử dụng nguồn vốn đầu tư tập trung vào những ngành, như: Sản xuất máy vi tính, điện tử, hàng bán dân dụng, công nghiệp lọc dầu và kỹ thuật khai thác mỏ… và có định hướng vào các ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước. Trong khi đó, Trung Quốc luôn coi trọng xây dựng chính sách thu hút FDI, tích cực sửa đổi, bổ sung pháp luật liên quan nhằm thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn này. Trung Quốc đã xây dựng hệ thống pháp luật chặt chẽ về tiêu chuẩn môi trường, thủ tục pháp lý đối với hoạt động thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhằm thu hút nguồn vốn FDI sạch, đảm bảo cho sự phát triển bền vững. Mặc dù Trung Quốc không có tiêu chuẩn môi trường riêng cho đầu tư nước ngoài, nhưng các nhà đầu tư FDI phải tuân theo luật và quy định về môi trường của Trung Quốc. Từ việc phân tích kinh nghiệm của các quốc gia, đề tài đã rút ra 02 bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, cụ thể là: (i) Khi triển khai thuế tối thiểu toàn cầu, đề tài đề xuất Việt Nam lựa chọn các quy định phù hợp với bối cảnh của quốc gia, Việt Nam nên áp dụng quy định IIR và QDMTT ngay từ năm 2024 để giành quyền thu thuế và cân nhắc áp dụng quy định UTPR và STTR sau. Bên cạnh đó, Việt Nam cần nghiên cứu soạn thảo các nội dung thuế tối thiểu toàn cầu để đưa vào văn bản luật của Việt Nam cho phù hợp, dễ hiểu và dễ áp dụng; (ii) Về chính sách hỗ trợ đầu tư, ưu đãi thu hút đầu tư, Việt Nam cần nghiên cứu và ban hành các chính sách ưu đãi dựa trên chi phí thay thế cho các ưu đãi hiện hành, cũng như nghiên cứu áp dụng QRTC để phù hợp với hướng dẫn của OECD. Ngoài ra, Việt Nam cũng cần chú trọng cải thiện môi trường đầu tư để thu hút đầu tư mới và giữ chân các nhà đầu tư hiện hành trong dài hạn.

(3) Đề tài đã phân tích thực trạng khi áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu tại Việt Nam, trong đó tập trung phân tích một số tác động về: (i) Việc áp dụng thuế TNDN bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu sẽ mang lại cho Việt Nam những cơ hội mới, như: Giảm thiểu tác động xấu của thuế tối thiểu toàn cầu đến Việt Nam, giúp tăng thu ngân sách; tăng cường hội nhập quốc tế; hạn chế hiện tượng trốn thuế, tránh thuế, chuyển giá, chuyển lợi nhuận; động lực để Việt Nam tiếp tục phát triển môi trường đầu tư theo hướng bền vững, minh bạch, cạnh tranh hơn thông qua cải cách thủ tục hành chính, tiếp cận đất đai, nguồn lao động chất lượng cao; (ii) Tác động của từng chính sách về thuế tối thiểu toàn cầu đối với Việt Nam, thu thêm thuế TNDN bổ sung đối với đơn vị hợp thành hoặc tập hợp các đơn vị hợp thành của tập đoàn đa quốc gia thuộc đối tượng áp dụng có hoạt động sản xuất - kinh doanh tại Việt Nam, góp phần tăng thu NSNN về thuế TNDN. IIR tác động về kinh tế - xã hội, khi Việt Nam áp dụng IIR đối với những doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài có doanh thu hợp nhất đạt tối thiểu 750 triệu EUR (thuộc đối tượng áp dụng của thuế tối thiểu toàn cầu), có công ty thành viên ở nước khác nếu thấp hơn mức tối thiểu thì có khả năng thu thêm toàn bộ phần thuế TNDN bổ sung từ những doanh nghiệp này, từ đó tăng thu NSNN; (iii) Tác động đến thu hút đầu tư tại Việt Nam, các yếu tố thu hút FDI vào Việt Nam như chi phí sinh hoạt thấp, môi trường sống an toàn và văn hóa kinh doanh thân thiện cũng góp phần làm tăng sức hấp dẫn của Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài, các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo của chính phủ. Đối với các doanh nghiệp, việc áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu cần đầu tư nhiều hơn vào hệ thống kế toán và thuế để đảm bảo tuân thủ các quy định của thuế tối thiểu toàn cầu; gián tiếp làm giảm lợi thế cạnh tranh, dẫn đến việc giảm thu hút đầu tư nước ngoài vào các khu vực này, dẫn đến dịch chuyển dòng vốn đầu tư nước ngoài; (iv) Chính sách ưu đãi hỗ trợ đầu tư thể hiện qua các điều kiện để hưởng ưu đãi đầu tư, bao gồm: Điều kiện về địa bàn đầu tư; ngành nghề, lĩnh vực đầu tư và quy mô và tác động của dự án đầu tư. Các chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư tại Việt Nam có một số thành tựu nổi bật như: Cơ cấu các ngành công nghiệp có sự chuyển biến tích cực, một số ngành công nghiệp như: Điện, điện tử, công nghệ thông tin và viễn thông, chế tạo thiết bị năng lượng, dệt may, da giày, xây dựng; các ưu đãi thuế xuất nhập khẩu giúp tăng doanh số xuất khẩu qua các năm.

Bên cạnh đó, cũng có một số hạn chế như: (i) Khó khăn về kỹ thuật và pháp lý khi nội luật hóa quy định của OECD như Quy định mẫu của OECD rất phức tạp, nhiều thuật ngữ chưa từng xuất hiện trong pháp luật Việt Nam, gây khó khăn khi dịch thuật và hiệu đính và điều chỉnh. OECD ban hành hướng dẫn không đồng thời, nên có thể tiếp tục sửa đổi dẫn đến Việt Nam dễ rơi vào tình huống phải sửa luật và điều chỉnh liên tục, gây tốn thời gian, chi phí soạn thảo và chuẩn bị; (ii) Hạn chế trong hệ thống ưu đãi thuế hiện hành của Việt Nam, như các ưu đãi TNDN truyền thống (miễn/giảm thuế) mất hiệu lực khi tập đoàn đa quốc gia bị áp mức 15% tại nước mẹ dẫn đến Việt Nam mất công cụ thu hút FDI chủ lực, cấu trúc ưu đãi hiện tại chủ yếu dựa trên thu nhập, không phù hợp với định hướng ưu đãi theo chi phí theo Trụ cột 2 của OECD; (iii) Hạn chế về năng lực quản lý thuế và hạ tầng dữ liệu như doanh nghiệp đa quốc gia phải đầu tư lớn vào hệ thống kế toán, báo cáo; trong khi cơ quan thuế Việt Nam cũng đối mặt với áp lực tuân thủ, công nghệ, nhân lực để vận hành GloBE; nhu cầu chuẩn hóa theo chuẩn mực kế toán quốc tế IAS/IFRS đặt ra yêu cầu cấp bách nhưng Việt Nam chưa áp dụng rộng rãi; nguy cơ giảm sức hút đầu tư FDI, do Việt Nam là quốc gia phụ thuộc lớn vào FDI” dẫn đến khi ưu đãi thuế không còn tác dụng, nguy cơ giảm dòng vốn mới và khó giữ chân nhà đầu tư hiện hữu. Các tập đoàn lo ngại chi phí tuân thủ tăng, giảm tính cạnh tranh so với các nước có hạ tầng hoặc hỗ trợ đầu tư mạnh hơn. Ngoài ra, chính sách ưu đãi đầu tư tại Việt Nam chưa đa dạng, chỉ tập trung vào các hình thức ưu đãi dựa trên thu nhập mà hầu như chưa có các hình thức ưu đãi dựa trên chi phí, theo đó chưa thực sự khuyến khích các hoạt động đầu tư thực chất, có lợi ích lâu dài; chính sách ưu đãi đầu tư của Việt Nam chưa bắt kịp với các chính sách tiên tiến, thông lệ thế giới; một số chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đã được quy định trong Luật nhưng không có hướng dẫn cụ thể để triển khai nên chưa có tác dụng trong thực tế; các ưu đãi thuế được quy định tại nhiều luật thuế khác nhau, gây ra vướng mắc, khó khăn trong quá trình thực thi, áp dụng ưu đãi và gia tăng chi phí tuân thủ của doanh nghiệp; chính sách ưu đãi thuế TNDN không còn phù hợp trong bối cảnh áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu.

(4) Đề tài đã đưa ra các điều kiện áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu tại Việt Nam, để áp dụng hiệu quả quy định thuế tối thiểu toàn cầu tại Việt Nam, các điều kiện về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước có vai trò quan trọng, nhằm tạo ra một khuôn khổ pháp lý và môi trường thuận lợi cho việc triển khai chính sách này. Từ định hướng rõ ràng trong chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế là một điều kiện quan trọng để thực thi quy định thuế tối thiểu toàn cầu tại Việt Nam. Các quy định về thuế tối thiểu toàn cầu cần được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật, đảm bảo tính đồng bộ với các quy định hiện hành và minh bạch cho các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam. Đề tài đề xuất 02 giải pháp áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu tại Việt Nam, cụ thể: (i) Về chính sách thuế, việc áp dụng quy định thuế tối thiểu toàn cầu cần phải phù hợp với Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18/11/2016 của Bộ Chính trị về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại NSNN, quản lý nợ công để bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững. Về việc nộp NSNN số thuế bổ sung theo thuế tối thiểu toàn cầu, báo cáo đề xuất phần thuế TNDN bổ sung theo quy định về thuế tối thiểu toàn cầu được nộp vào ngân sách trung ương theo quy định; (ii) Hỗ trợ nhà đầu tư trong bối cảnh áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu, việc áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu là một thách thức lớn đối với Việt Nam, nhưng cũng mang lại cơ hội để cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh. Chính phủ cần thực hiện các biện pháp ứng phó kịp thời và hiệu quả để cải thiện môi trường đầu tư tại Việt Nam, như: Thành lập Quỹ Hỗ trợ Đầu tư; điều chỉnh chính sách ưu đãi thuế; tăng cường hợp tác quốc tế và minh bạch, cải thiện môi trường kinh doanh; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực và đẩy mạnh cải cách thể chế. Đồng thời, đề tài cũng đề xuất các kiến nghị với Chính phủ, Bộ Tài chính, các bộ, ngành ở trung ương, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nhằm thực hiện hiệu quả thuế tối thiểu toàn cầu tại Việt Nam.

5. Thông tin nghiệm thu và lưu trữ

- Nghiệm thu: Đề tài đã được Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu thông qua (Quyết định số 133/QĐ-BTC ngày 23/01/2025 của Bộ Tài chính về việc thành lập Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ KHCN cấp Bộ năm 2024).

- Lưu trữ: Đề tài được đóng quyển, lưu trữ tại Thư viện Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính./.

ThS. Đặng Ngọc Minh

Cục Thuế