Đề tài: Đánh giá tác động của thuế tối thiểu toàn cầu tới thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam và giải pháp ứng phó
25/01/2026 14:05
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. FDI đã và đang tác động mạnh đến nền kinh tế thế giới và là một chủ đề quan trọng đối với các quốc gia đang phát triển. Trong bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra ngày càng sâu rộng, sự phát triển của công nghệ thông tin và các mô hình kinh tế mới đã và đang làm thay đổi các mô hình kinh doanh truyền thống. Nhiều loại hình kinh doanh mới ra đời dựa trên nền tảng công nghệ thông tin, đem lại những tiện ích mới cho khách hàng, song cũng đặt ra yêu cầu đối với các cơ quan quản lý cần thay đổi các biện pháp quản lý phù hợp, đặc biệt là các biện pháp quản lý thu thuế. Bên cạnh đó, sự phát triển không đồng đều giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ, sự chênh lệch về trình độ quản lý và sự khác biệt về các chính sách ưu đãi thu hút đầu tư nước ngoài đang tạo cơ hội cho các doanh nghiệp hoạt động đa quốc gia lợi dụng để tránh việc thực hiện các nghĩa vụ thuế đối với các hoạt động sản xuất - kinh doanh. Để tránh nghĩa vụ thuế, các công ty đa quốc gia đã sử dụng các tài sản vô hình (bản quyền, bằng sáng chế, thương hiệu...) hay các hoạt động kinh doanh qua nền tảng số xuyên quốc gia thông qua chuyển lợi nhuận từ quốc gia có thuế suất cao sang quốc gia có thuế suất thấp, thực hiện các hoạt động chuyển giá... Các hoạt động trên đã gây xói mòn nghiêm trọng nguồn thu ngân sách của các quốc gia, dẫn đến việc nhiều nước đơn phương áp dụng các loại thuế khác nhau, phát sinh bất đồng, tranh chấp giữa các nước.
Tháng 6/2013, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đã khởi xướng và được nguyên thủ các quốc gia G20 thông qua sáng kiến Chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển dịch lợi nhuận (Base Erosion and Profit Shifting - BEPS) với 2 nội dung chính là phân chia quyền đánh thuế, thực hiện đánh giá về phân bổ lợi nhuận và xây dựng các nguyên tắc phân bổ lợi nhuận toàn cầu và đảm bảo rằng tất cả các doanh nghiệp hoạt động đầu tư quốc tế phải trả mức thuế tối thiểu. Ngày 08/10/2021, Diễn đàn hợp tác chung IF đã thông qua gói giải pháp của dự án chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển dịch lợi nhuận (BEPS) gồm 15 hành động nhằm thiết lập một hệ thống thuế quốc tế hiện đại và công bằng toàn cầu. Việc thực hiện rộng rãi và thống nhất là yêu cầu then chốt mang lại hiệu quả của dự án BEPS, đặc biệt là việc thực hiện các quy tắc thuế quốc tế. Trong đó, Trụ cột I về phân bổ thuế đối với hoạt động kỹ thuật số và Trụ cột II quy định về Thuế suất tối thiểu toàn cầu. Đối với Trụ cột II, nhiều nước đã có kế hoạch hoàn thành thủ tục nội luật trong năm 2023 để thực hiện thuế tối thiểu toàn cầu (GMT) từ năm 2024, trong đó có Hàn Quốc, Singapore, Nhật Bản… Đây là các nước có vốn đầu tư nước ngoài lớn vào Việt Nam, có nhiều doanh nghiệp thuộc đối tượng áp dụng của GMT, do đó, nhiều khả năng Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng và mất quyền thu thuế nếu không có những biện pháp ứng phó kịp thời.
Từ thực tiễn đó, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản quan trọng về thu hút FDI, như Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019; Nghị quyết số 58/NQ-CP ngày 27/4/2019; Quyết định số 667/QĐ-TTg ngày 02/6/2022... Trong đó, đề ra các mục tiêu, nhiệm vụ, định hướng thu hút FDI đến năm 2030, các giải pháp cần triển khai để đảm bảo thực hiện các mục tiêu đó và để chủ động ứng phó kịp thời trước những diễn biến mới của các nước trong triển khai Trụ cột II, đảm bảo thực hiện các mục tiêu về thu hút FDI đã đề ra. Đây là lần đầu tiên Việt Nam triển khai một cơ chế khuyến khích mang tính đột phá mới, thông qua việc hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp công nghệ cao và các ngành mũi nhọn; đồng thời là một bước đi chiến lược nhằm đánh dấu một cột mốc quan trọng trong nỗ lực củng cố vị thế cạnh tranh và không bị tụt lại trong cuộc đua thu hút đầu tư toàn cầu. Xuất phát từ lý do trên, việc nghiên cứu đề tài “Đánh giá tác động của GMT tới thu hút FDI của Việt Nam và giải pháp ứng phó” là cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài đánh giá tác động của GMT tới thu hút FDI của Việt Nam, từ đó đề xuất giải pháp đảm bảo quyền đánh thuế của Việt Nam, cũng như tạo thuận lợi trong thu hút FDI thực chất, hiệu quả.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tác động của GMT tới thu hút FDI.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu tác động của GMT tới thu hút FDI ở Việt Nam, có tham khảo các phản ứng chính sách của các nước khi áp dụng GMT nhằm thu hút FDI. Đối với Việt Nam, nghiên cứu thực trạng chủ yếu tập trung trong giai đoạn 2011 - 2024 và xây dựng kịch bản đánh giá tác động của GMT đến FDI cho giai đoạn 2025 - 2030 và đề xuất chính sách đến năm 2030.
4. Kết quả nghiên cứu
(1) Đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lý luận những vấn đề chung về GMT, thu hút FDI và yếu tố ảnh hưởng đến thu hút FDI, mối quan hệ và tác động của GMT tới thu hút FDI, các phương pháp đánh giá tác động của GMT đến thu hút FDI. Trụ cột thứ II đặt ra mức thuế doanh nghiệp tối thiểu toàn cầu 15% đối với các công ty đa quốc gia nhằm ngăn các công ty này chuyển lợi nhuận sang quốc gia có thuế suất thấp để tránh thuế. Quy tắc thuế tối thiểu toàn cầu hướng tới mục tiêu đảm bảo các tập đoàn đa quốc gia phải trả mức thuế tối thiểu bất kể đặt trụ sở chính ở đâu hoặc khu vực pháp lý mà hoạt động, nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến trốn thuế và chuyển lợi nhuận của các tập đoàn đa quốc gia. Thuế tối thiểu toàn cầu được áp dụng theo các quy tắc sau: Quy tắc nội luật thuế kết hợp - GloBE (Global Anti-Base Erosion), gồm Quy tắc tổng hợp thu nhập chịu thuế tối thiểu - IIR (Income Inclusion Rule) và Quy tắc khoản thanh toán chịu thuế dưới mức tối thiểu - UTPR (Under Taxed Payment Rule); quy định thuế khấu trừ tại nguồn tối thiểu - STTR (The Subject to Tax Rule).
Thu hút FDI chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố: Thể chế, chính sách; môi trường kinh doanh, năng lực cạnh tranh; môi trường kinh tế vĩ mô; chất lượng nguồn nhân lực; cơ sở hạ tầng… Mối quan hệ và tác động của Trụ cột II về thuế tối thiểu toàn cầu đến thu hút FDI được phân tích trên các kênh tác động: Mục tiêu chuyển lợi nhuận và cạnh tranh thuế, địa điểm đầu tư FDI, quy mô đầu tư FDI. Trụ cột II có khả năng làm giảm việc dịch chuyển lợi nhuận nhưng không loại bỏ được. Mặc dù không còn có thể dịch chuyển lợi nhuận từ một quốc gia có mức thuế suất là 25% sang một quốc gia có mức thuế suất 10%, nhưng vẫn có lợi nhuận - nhỏ hơn nhưng vẫn là lợi nhuận - khi chuyển sang mức thuế suất 15%. Bên cạnh đó, không có vị trí đầu tư FDI nào mà tổng số tiền thuế có khả năng giảm do hậu quả của Trụ cột II. Các quốc gia sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi mức thuế tối thiểu sẽ chịu ảnh hưởng tới việc chọn vị trí đầu tư FDI rõ ràng hơn. Ngoài ra, với một địa điểm đầu tư FDI đã được quyết định cụ thể, quy mô đầu tư FDI tối đa hóa lợi nhuận phụ thuộc vào tỷ lệ thuế suất hiệu quả cận biên (METR) tại địa điểm đó. Đối với các quốc gia không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi mức thuế tối thiểu, các cơ hội dịch chuyển lợi nhuận giảm không chỉ làm tăng tỷ lệ thuế suất hiệu quả trung bình (AETR) ở cấp độ FDI mà còn cả METR và thông qua cùng một cơ chế. Tại các quốc gia chịu ảnh hưởng trực tiếp của Trụ cột II, METR ở những quốc gia đó sẽ tăng đến mức các khoản đầu tư thực tế được thực hiện ở đó chỉ để tạo điều kiện chuyển dịch lợi nhuận vào trong. Tuy nhiên, trong phạm vi mà các tác động của mức thuế tối thiểu tương tự như sự gia tăng thuế suất luật định (STR, Statutory tax rate) ở những quốc gia này, tác động đó rất có thể là sự gia tăng METR hay khả năng AETR tăng lên.
(2) Đề tài đã phân tích kinh nghiệm của các nước Hoa Kỳ; Liên minh châu Âu (EU); Đức, Pháp; Hà Lan; Anh về áp dụng GMT và phản ứng chính sách của các nước nhằm thu hút FDI trong bối cảnh áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu. Theo đó, GMT đã có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2024 tại EU, Anh và nhiều nền kinh tế lớn khác. Hầu hết các nước thuộc EU; Thụy Sỹ, Anh, Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, Indonesia, Úc… đã xác nhận sẽ áp dụng quy tắc IRR bắt đầu từ năm 2024 và quy tắc UTPR từ năm 2024 hoặc 2025. Hoa Kỳ đang áp dụng Luật GILTI (Global Intangible Low-taxed Income) - cơ chế thuế tối thiểu hiện hành của nước này đối với thu nhập vô hình toàn cầu chịu thuế thấp. Các công ty của Hoa Kỳ ở nước ngoài nếu có thuế suất thực tế thấp hơn 10,5% đang phải nộp thuế chênh lệch về Hoa Kỳ theo các quy định tại Luật GILTI. Tại Thụy Điển, thu nhập chịu thuế phải chịu thuế doanh nghiệp với mức thuế suất cố định là 20,6% áp dụng từ ngày 01/01/2021. Theo quy định chung, nghĩa vụ nộp thuế bổ sung phải thuộc về công ty mẹ cuối cùng của một tập đoàn. Do đó, một công ty mẹ trong nước có thể phải chịu thuế đối với các thực thể tập đoàn nước ngoài. Tại Đức, từ ngày 15/01/2023, Hội đồng Liên bang Đức đã thông qua luật để thực hiện Chỉ thị Thuế tối thiểu. Chỉ thị này nêu rõ các yêu cầu mà các tập đoàn lớn sẽ phải đáp ứng như một phần của GMT tại Đức từ năm 2024. Tại Anh áp dụng quy định IIR và QDMTT từ năm 2024, quy định UTPR từ năm 2025. Hàn Quốc áp dụng Quy định IIR và UTPR từ 01/01/2024. Quy định mới buộc các công ty mẹ của các công ty đa quốc gia tạo ra doanh thu toàn cầu hơn 750 triệu EUR (811 triệu USD) phải nộp thuế bổ sung nếu các công ty con ở nước ngoài nộp thuế doanh nghiệp thấp hơn 15% thu nhập của họ. Đối với các nước nhận vốn đầu tư từ nước ngoài, tương tự như Việt Nam, đang nghiên cứu để đưa ra chính sách ứng phó GMT, trong đó có việc áp dụng quy định Thuế bổ sung tối thiểu nội địa đạt chuẩn (QDMTT) để tránh việc nộp thuế bổ sung đối với phần thu nhập của công ty thành viên có thuế suất thực tế thấp hơn mức tối thiểu về các nước có công ty mẹ đóng trụ sở chính, đồng thời cũng nghiên cứu một số giải pháp hỗ trợ về tài chính (như Thái Lan) để giữ chân các doanh nghiệp FDI thuộc đối tượng của GMT và thu hút các nhà đầu tư mới. Việc triển khai GMT làm cho nhiều quốc gia phải điều chỉnh chính sách để giữ chân doanh nghiệp và duy trì sức cạnh tranh, thông qua các biện pháp: Tạo quỹ hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp bị ảnh hưởng (Pháp, Đức, Ireland, Nhật Bản); tăng cường tín dụng thuế và trợ cấp R&D (Anh, Hoa Kỳ, Canada); cung cấp ưu đãi phi thuế quan như hỗ trợ thuê đất, giảm chi phí lao động (Hà Lan, Ireland); khuyến khích đầu tư vào sản xuất xanh và năng lượng tái tạo (Hoa Kỳ, Canada, Nhật Bản).
Đề tài rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong hoàn thiện chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) nhằm thu hút FDI trong bối cảnh áp dụng GMT: (i) Các nước đang dần kiện toàn thể chế tài chính áp dụng GMT. Một trong những yếu tố quan trọng để xây dựng hệ thống GMT là có một khung pháp lý rõ ràng và minh bạch, tạo sự tin tưởng cho các doanh nghiệp và các nhà đầu tư. (ii) Chính phủ các nước đều chủ động đánh giá tổng thể về hệ thống ưu đãi, khuyến khích đầu tư, bao gồm các ưu đãi qua thuế TNDN, các biện pháp phi thuế để xây dựng phương án thay thế sau khi GMT được áp dụng, có giải pháp ưu đãi đầu tư phù hợp, cũng như làm rõ chế độ ưu đãi thuế với các nhà đầu tư mới. (iii) Đẩy mạnh cải cách thuế, cải cách thủ tục hành chính và đổi mới cơ chế, chính sách thu hút FDI. (iv) Một số nước (như Thái Lan) đã nghiên cứu chính sách mới nhằm bù đắp một phần cho các đối tượng sẽ chịu tác động. Các biện pháp hỗ trợ đầu tư phải bảo đảm không vi phạm quy định của OECD, đồng thời phải khả thi và phù hợp với điều kiện thực tiễn, tránh các hệ lụy cho ngân sách nhà nước (NSNN). Một số nước nghiên cứu, xem xét thành lập, quản lí và sử dụng Quỹ Hỗ trợ đầu tư từ nguồn thu GMT và các nguồn hợp pháp khác. (v) Sức cạnh tranh trong thu hút FDI của nước nhận đầu tư có thể bị ảnh hưởng trong ngắn hạn khi chính sách ưu đãi thuế không còn tác dụng. (vi) Để áp dụng GMT hiệu quả, cần tăng cường năng lực quản lý thuế. (vi) Mặc dù GMT hướng đến các doanh nghiệp lớn, nhưng việc áp dụng các quy định thuế có thể ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống kinh doanh, bao gồm cả các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các quốc gia phải cân nhắc tác động của các thay đổi thuế đến các doanh nghiệp nhỏ và vừa để tránh gây khó khăn cho các doanh nghiệp này. (viii) Phát triển các công cụ đo lường và đánh giá. Các quốc gia áp dụng GMT đều có các công cụ và hệ thống để đo lường mức độ hiệu quả của các chính sách thuế mới.
(3) Đề tài đã phân tích thực trạng chính sách thuế TNDN và thu hút FDI ở Việt Nam giai đoạn 2011 - 2024, từ đó chỉ ra các kết quả đạt được, hạn chế, tồn tại. Theo đó, quá trình cải cách chính sách thuế TNDN trong giai đoạn vừa qua đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy các lĩnh vực trong nền kinh tế phát triển theo các định hướng ưu tiên, đặc biệt là quá trình cơ cấu lại nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng. Chính sách thuế TNDN đã được xây dựng, hoàn thiện đảm bảo minh bạch, dễ thực hiện; đảm bảo đồng bộ với hệ thống pháp luật có liên quan và phù hợp với thực tiễn, góp phần đảm bảo quyền lợi và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, người nộp thuế. Việc áp dụng các chính sách ưu đãi về thuế cùng với các biện pháp cải cách có liên quan khác đã góp phần cải thiện môi trường đầu tư trong nước, đặc biệt là trong việc thu hút nguồn vốn cho phát triển kinh tế - xã hội, nhất là đối với nguồn vốn ngoài Nhà nước. Tuy nhiên, chính sách thuế TNDN còn một số tồn tại, hạn chế như: Pháp luật thuế TNDN còn quy định về thời gian ưu đãi tương đối dài so với các nước trong khu vực; việc lồng ghép các chính sách xã hội vào các điều khoản ưu đãi miễn, giảm thuế như quy định về miễn, giảm thuế cho các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động là người dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay không còn phù hợp; quy định về chuyển lỗ trong thời hạn 05 năm nên thực tế nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng sự ưu đãi này để trốn thuế TNDN; việc quy định quá nhiều trường hợp được miễn giảm thuế làm cho cơ sở thuế bị xói mòn và tính công bằng theo đó cũng bị giảm sút; tác động của ưu đãi thuế đối với việc phân bổ nguồn lực và thu hút đầu tư có chọn lọc vào các lĩnh vực, địa bàn mà Nhà nước khuyến khích gắn với quá trình cơ cấu lại nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng còn hạn chế.
Qua phân tích thực trạng thu hút và đóng góp của FDI ở Việt Nam cho thấy, giai đoạn 2011 - 2024, vốn FDI vào Việt Nam nhìn chung tăng nhanh cả về số dự án và vốn đăng ký; các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 18/20 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân với hơn một nửa vốn đăng ký tập trung vào công nghiệp chế biến - chế tạo; đã có 130 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư vào Việt Nam, quy mô doanh thu và lợi nhuận tăng dần qua các năm; bình quân giai đoạn 2011 - 2024, khu vực FDI chiếm khoảng 17,3% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, góp phần thúc đẩy sản xuất trong nước; đồng thời, bước đầu có những đóng góp vào quá trình chuyển dịch xanh và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng của Việt Nam; không chỉ đạt tốc độ tăng trưởng GDP cao nhất trong 3 thành phần kinh tế, FDI còn là khu vực mang lại phần lớn giá trị xuất khẩu cho Việt Nam và đóng góp ngày càng tăng cho NSNN; khu vực FDI mang lại việc làm, giúp cải thiện thu nhập của người lao động, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tuy nhiên, quá trình thu hút FDI vào Việt Nam vẫn còn một số hạn chế như: Chuyển giao công nghệ và tác động lan tỏa của FDI đối với khu vực kinh tế trong nước chưa đạt được như kỳ vọng; khu vực FDI những năm gần đây tuy chú trọng đến việc đào tạo và thu hút lao động chất lượng cao nhưng điều này chủ yếu mang đến lợi ích cho bản thân doanh nghiệp FDI; tình trạng chuyển giá, trốn thuế của các doanh nghiệp FDI vẫn chưa khắc phục, gây thất thu NSNN; sự hiện diện của các doanh nghiệp FDI tạo ra cạnh tranh lớn với các doanh nghiệp trong nước, dẫn đến các sức ép nhiều hơn là động lực để các doanh nghiệp trong nước phát triển.
(4) Trước bối cảnh GMT đang là xu hướng chung của thế giới, để giữ quyền đánh thuế, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp, Việt Nam đã khẳng định áp dụng QDMTT và IIR. Tuy nhiên, Việt Nam cần có giải pháp nhằm đảm bảo ổn định môi trường đầu tư, giữ chân các nhà đầu tư cũ và thu hút thêm nhiều nhà đầu tư mới trong các lĩnh vực ưu tiên phát triển. Trên cơ sở phân tích kinh nghiệm của các nước trên thế giới; đánh giá thực trạng; quan điểm, định hướng; đề tài đưa ra một số khuyến nghị chính sách nhằm thu hút FDI trong bối cảnh triển khai GMT: (1) Tiếp tục hoàn thiện thể chế thu hút FDI liên quan đến việc triển khai áp dụng GMT, trong đó, trước mắt cần ban hành hướng dẫn quy định chi tiết Nghị quyết số 107/2023/QH15; (2) Cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia để tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài và tận dụng xu hướng dịch truyền dòng vốn ra khỏi các nước khác trong bối cảnh các nước triển khai áp dụng GMT; (3) Tiếp tục củng cố, đảm bảo ổn định vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế. Duy trì tăng trưởng kinh tế tích cực và mở rộng quy mô của nền kinh tế trong điều kiện kiểm soát lạm phát ổn định ở mức thấp và ổn định tỷ giá; (4) Rà soát và điều chỉnh các chính sách ưu đãi, hỗ trợ về đầu tư và sản xuất - kinh doanh nhằm giảm tính dàn trải, tăng tính hấp dẫn của các ưu đãi; tăng cường khả năng tiếp cận chính sách.
5. Thông tin nghiệm thu và lưu trữ
- Nghiệm thu: Đề tài đã được Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu thông qua (Quyết định số 411/QĐ-BTC ngày 26/02/2025 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc thành lập Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ KHCN cấp Bộ năm 2024).
- Lưu trữ: Đề tài được đóng quyển, lưu trữ tại Thư viện Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính./.
ThS. Dương Hoàng Linh
Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính