Đề tài: Cổ phần hóa tổ chức tín dụng nhà nước tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

23/01/2026 16:00


1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Trong thời gian qua, việc cổ phần hóa (CPH) một số tổ chức tín dụng nhà nước (TCTDNN) đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Nhiều TCTDNN sau khi CPH đã nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh. Việc áp dụng cơ chế quản lý linh hoạt và chuyên nghiệp giúp tối ưu hóa quy trình làm việc và giảm thiểu lãng phí. CPH đã giúp các ngân hàng này thu hút được lượng vốn đáng kể từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước, nâng cao năng lực tài chính và khả năng cạnh tranh trên thị trường. Các ngân hàng sau CPH đã tăng cường tính minh bạch trong hoạt động và quản trị doanh nghiệp. Thông tin tài chính được công khai, quy trình kiểm soát nội bộ được cải thiện, tạo lòng tin cho nhà đầu tư và khách hàng. Các TCTDNN sau CPH đã đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thờitham gia tài trợ cho nhiều dự án lớn, hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ và góp phần thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành kinh tế quan trọng. Ngày 08/6/2022, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 689/QĐ- TTg về việc phê duyệt đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021 - 2025” trong đó có nội dung yêu cầu Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chủ động xây dựng phương án để cơ cấu lại toàn diện nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động và giữ vai trò chủ đạo trong lĩnh vực tín dụng nông nghiệp, nông thôn; tăng vốn điều lệ theo phương án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; triển khai các bước để thực hiện CPH sau khi Bộ Tài chính hoàn tất việc phê duyệt phương án sắp xếp cơ sở nhà, đất của ngân hàng; thực hiện niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán trong nước.

Ngày 29/11/2022, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 1479/QĐ-TTg về phê duyệt Kế hoạch sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước giai đoạn 2022 - 2025, trong đó có việc thực hiện cổ phần hóa Agribank. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài ”Cổ phần hóa tổ chức tín dụng nhà nước tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp” nhằm đánh giá thực trạng và giải pháp CPH TCTDNN, cụ thể là đối với Agribank là cần thiết để giúp Agribank thực hiện CPH trong giai đoạn từ năm 2025 - 2030, từ đó có thể nâng cao năng lực tài chính đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn theo quy định, góp phần tăng trưởng tín dụng, nâng cao hiệu quả hoạt động cho TCTD; giúp các cơ quan quản lý trong việc xây dựng và thực hiện chính sách một cách đồng bộ, hiệu quả hơn.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về CPH doanh nghiệp nói chung và CPH TCTDNN nói riêng, phân tích, đánh giá thực trạng triển khai thực hiện cổ phần hoá TCTDNN ở Việt Nam thời gian qua; từ đó, đề tài đề xuất những giải pháp đẩy mạnh CPH TCTDNN.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: CPH tổ chức tín dụng nhà nước.

- Phạm vi nghiên cứu: CPH tổ chức tín dụng nhà nước (tập trung vào 4 Ngân hàng thương mại nhà nước Agribank, Vietcombank, BIDV, Vietinbank). Đánh giá việc triển khai thực hiện CPH TCTDNN tại Việt Nam giai đoạn 2007 - 2024, giải pháp CPH TCTDNN giai đoạn 2025 - 2027 và tham khảo kinh nghiệm một số nước có điều kiện tương đồng với Việt Nam.

4. Kết quả nghiên cứu

(1) Đề tài đã tổng quan một số vấn đề cơ bản đối với lý luận về CPH TCTDNN và chỉ ra khái niệm và mục tiêu CPH TCTDNN. Qua đó, có thể nêu lên một số vấn đề liên quan đến CPH TCTDNN như sau: Việc CPH TCTDNN đòi hỏi sự sửa đổi hoặc thay thế các chính sách và pháp luật để điều chỉnh quy trình CPH, bảo vệ quyền lợi của các cổ đông và đảm bảo hoạt động công bằng và minh bạch trong hệ thống tài chính. Sự thay đổi trong cấu trúc cổ đông và quản lý có thể ảnh hưởng đến quyết định kinh doanh và tài chính của TCTD. Các TCTD sau khi CPH sẽ phải đối mặt với việc quản lý các cổ đông khác nhau, có thể có những quan điểm và mục tiêu đầu tư khác nhau. Điều này đòi hỏi sự cân nhắc cẩn thận để đảm bảo rằng quyết định kinh doanh được đưa ra vẫn tương thích với lợi ích chung của tổ chức và quốc gia. Bên cạnh đó, CPH có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của các cán bộ và nhân viên trong TCTDNN. Việc chuyển đổi sang một cơ cấu sở hữu mới có thể làm thay đổi các chính sách về lương và phúc lợi, cũng như ảnh hưởng đến quyền lợi lao động và tư duy chiến lược. CPH có thể tăng cường sự cạnh tranh trong ngành tài chính, đặc biệt là khi mở cửa thị trường cho các TCTD tư nhân và quốc tế. Bên cạnh đó, đề tài cũng đã nêu ra các điều kiện CPH và 03 hình thức CPH gồm: Phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ nhưng giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp; bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc có thể tăng vốn điều lệ bằng cách kết hợp với việc phát hành thêm cổ phiếu; bán một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc có thể tăng vốn điều lệ bằng cách kết hợp với việc phát hành thêm cổ phiếu. Có 03 đối tượng được mua cổ phần của doanh nghiệp CPH là: Nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư chiến lược. Từ đó, đề tài nêu ra được quy trình của CPH thông thường gồm 03 bước: Xây dựng phương án CPH; tổ chức thực hiện phương án CPH; hoàn tất việc chuyển doanh nghiệp thành công ty cổ phần. Qua phân tích, đề tài đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của CPH trong việc nâng cao năng lực tài chính, cải thiện hiệu quả hoạt động và tăng cường sức cạnh tranh của các TCTDNN trong bối cảnh kinh tế thị trường. Đồng thời, làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình CPH. Những yếu tố này có tác động trực tiếp đến hiệu quả và tiến độ của quá trình CPH, gồm: (i) Nhân tố chủ quan: Những nhân tố này tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau, góp phần quyết định sự thành công của quá trình CPH TCTD. Việc nhận diện và quản lý tốt các nhân tố này sẽ giúp quá trình CPH diễn ra suôn sẻ và đạt được các mục tiêu đề ra. Các nhân tố chủ quan này có thể tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau, đóng vai trò quyết định trong việc CPH TCTDNN một cách hiệu quả và bền vững. (ii) Nhân tố khách quan: Tạo ra bối cảnh và điều kiện bên ngoài ảnh hưởng đến quá trình CPH TCTDNN. Việc nhận diện và quản lý tốt các nhân tố này sẽ giúp TCTD thực hiện CPH thành công và đạt được các mục tiêu đề ra. 

(2) Đề tài đã nghiên cứu kinh nghiệm các nước về việc CPH TCTD. Theo đó, một đặc điểm chung ở các nước áp dụng mô hình ngân hàng thương mại (NHTM) nhà nước là các ngân hàng này thường là các NHTM lớn nhất, chiếm một phần lớn trong tổng tài sản cũng như đóng góp phần chủ yếu trong hoạt động NHTM tại các nước đó. Do nhiều nước không phân biệt mức độ phát triển kinh tế, vẫn duy trì một hệ thống ngân hàng chính sách thuộc sở hữu 100% của nhà nước để phục vụ những mục tiêu phát triển khác nhau. Do vậy, đề tài đã nghiên cứu kinh nghiệm CPH hệ thống ngân hàng tại Trung Quốc, Nga, Ấn Độ. Từ đó, rút ra bài học CPH lĩnh vực ngân hàng cho Việt Nam như sau: (i) Vai trò, trách nhiệm của nhóm ngân hàng chính sách và NHTM cần được tách biệt. Chính phủ cần hoạch định rõ vai trò và định hướng của các ngân hàng chính sách và các NHTMNN. Từ đó, xác định việc phân bổ nguồn vốn và mục tiêu lợi nhuận của các ngân hàng đảm bảo phù hợp với nhiệm vụ, định hướng của từng nhóm; (ii) Về lộ trình thực hiện CPH thì nên chuyển đổi ngân hàng nhà nước sang ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước (Nhà nước vẫn nắm trên 50% vốn); nên cải cách quản trị, xử lý nợ xấu, nâng cao hiệu quả hoạt động trong vòng 1 - 2 năm trước khi tiến hành CPH; nên bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược trước khi IPO; nên thực hiện IPO trên thị trường chứng khoán khi ngân hàng đã có nền tảng vững chắc để tránh bán rẻ gây thiệt hại vốn nhà nước; (iii) Quyền lợi của các cổ đông thiểu số tại các ngân hàng cổ phần cần được đảm bảo. Tại các ngân hàng cổ phần Nhà nước sở hữu dưới 100%, quyền của các cổ đông thiểu số cần được xác định rõ ràng và được bảo vệ trước pháp luật; (iv) Cần có hệ thống pháp lý rõ ràng, phù hợp liên quan đến công tác CPH. Việc xây dựng khung pháp lý chặt chẽ, minh bạch và bảo đảm lợi ích của các bên liên quan là điều kiện để CPH thành công; (v) Các báo cáo thường niên cần được công bố đầy đủ, minh bạch: Các mục tiêu, nhiệm vụ phi thương mại của khối ngân hàng thương mại nhà nước cần được cân nhắc công bố minh bạch với công chúng để tăng cường trách nhiệm giải trình.

(3) Đề tài đã phân tích, làm rõ thực trạng CPH TCTDNN ở Việt Nam giai đoạn 2007 - 2024. Theo đó, CPH các TCTDNN đóng vai trò quan trọng trong quá trình cơ cấu lại hệ thống ngân hàng và nâng cao năng lực tài chính. Qua đó, không chỉ giúp cải thiện sức mạnh tài chính của các ngân hàng mà còn tạo điều kiện cho sự phát triển của thị trường tài chính Việt Nam, nâng cao khả năng cạnh tranh trong khu vực và quốc tế. Đồng thời, quá trình này cũng giúp tăng cường tính tự chủ và chủ động của các ngân hàng, khi các ngân hàng cổ phần có thể linh hoạt hơn trong các quyết định kinh doanh và huy động vốn. CPH là một bước đi quan trọng trong quá trình phát triển của hệ thống tín dụng, nhưng nó cũng đòi hỏi sự hỗ trợ mạnh mẽ từ Chính phủ và các cơ quan chức năng để có thể đạt được kết quả lâu dài. Quá trình thực hiện công tác CPH TCTDNN còn một số những hạn chế như sau: (i) Về chính sách pháp luật: Pháp luật về đất đai, thuế, ngân sách nhà nước, tài sản công qua các thời kỳ có sự thay đổi rất nhiều; (ii) Về xử lý tài chính: Từ thời điểm CPH đến nay, một số TCTD vẫn còn phải xử lý một số vấn đề vướng mắc tồn đọng liên quan đến quá trình CPH, trong đó chủ yếu là vấn đề về xác nhận nguồn gốc tiền mua đất, xác định giá trị tài sản công trình trên đất khi CPH và xác định nguồn vốn của dự án đầu tư xây dựng để hình thành tài sản cố định là có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước hay không để thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, làm cơ sở công nhận quyền sử dụng đất; (iii) Về vấn đề tăng vốn: Các TCTD hiện nay gặp vướng mắc trong quá trình tăng vốn khi "room" ngoại đã đầy. Để đáp ứng tiêu chuẩn an toàn vốn, một mặt ngân hàng phải quản trị rủi ro tín dụng tốt, một mặt tăng nguồn vốn; (iv) Về xử lý tài sản của TCTD: Theo quy định, các TCTDNN phải hoàn tất xử lý tài sản công, đặc biệt là đất đai có nguồn gốc phức tạp, trước khi CPH. Những hạn chế trong công tác CPH TCTDNN tại Việt Nam có một số nguyên nhân chủ quan, bao gồm: Do quy trình thực hiện; thiếu kinh nghiệm quản lý; lợi ích nhóm và chống đối nội bộ; thiếu quyết tâm chính trị; khả năng quản lý rủi ro hạn chế; thiếu minh bạch và thông tin; khả năng thích ứng với môi trường mới; thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý; do phương pháp và cách thức định giá; do xử lý tài chính sau CPH. Bên cạnh đó là một số nguyên nhân khách quan như: Khung pháp lý chưa hoàn chỉnh và ổn định; hệ thống pháp lý và hành chính phức tạp; chất lượng thông tin và báo cáo tài chính không đồng đều; thiếu nhà đầu tư chiến lược; cạnh tranh từ các TCTD tư nhân và nước ngoài; yêu cầu bảo vệ lợi ích quốc gia; thiếu hạ tầng kỹ thuật và công nghệ; thay đổi chính sách kinh tế; áp lực từ các tổ chức quốc tế.

 (4) Đề tài đã đề xuất một số vấn đề để góp phần thúc đẩy CPH TCTDNN như sau: (i) Đối với Đảng, Nhà nước, Quốc hội: Tăng cường vai trò của Nhà nước trong việc giám sát; thúc đẩy CPH đồng bộ, theo lộ trình cụ thể; cần xác định rõ ràng các mục tiêu, lộ trình CPH cho từng TCTD; Quốc hội có thể ban hành thêm những chính sách khuyến khích sự tham gia của nhà đầu tư chiến lược, đặc biệt là các tổ chức tài chính quốc tế có uy tín; (ii) Đối với Chính phủ: Tiếp tục chỉ đạo các bộ, ngành triển khai quyết liệt và đồng bộ các giải pháp điều hành chính sách vĩ mô nhằm kiên trì thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững; cần rà soát, bổ sung và hoàn thiện khung pháp lý hiện hành, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình CPH TCTDNN; cần chỉ đạo xây dựng một lộ trình CPH rõ ràng và phù hợp cho TCTD; cần thiết lập các cơ chế giám sát chặt chẽ quá trình CPH, từ khâu lập kế hoạch, thực hiện cho đến giai đoạn hậu CPH; (iii) Đối với Ngân hàng Nhà nước: Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối; thực hiện chức năng của Ngân hàng Trung ương, có nhiệm vụ xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ; cần bảo đảm việc định giá tài sản của TCTDNN được thực hiện một cách minh bạch và chính xác; thuê các tổ chức kiểm toán và thẩm định độc lập có uy tín để đảm bảo giá trị tài sản được xác định đúng đắn, tránh tình trạng định giá thấp gây thất thoát vốn nhà nước; cần thực hiện tốt chức năng giám sát việc sử dụng và bảo toàn vốn nhà nước; cần nâng cấp và cải tiến các công cụ của chính sách tiền tệ còn lạc hậu, mang nặng tính hành chính; cần đẩy mạnh hoạt động thanh tra của Ngân hàng Nhà nước đối với các TCTD để có cảnh báo sớm, phát hiện và xử lý khách quan các vụ vi phạm; đẩy mạnh sự phát triển của thị trường tiền tệ; (iv) Đối với Bộ Tài chính: Hoàn thiện chính sách pháp lý về CPH; áp dụng các chính sách ưu đãi thuế đối với các nhà đầu tư chiến lược tham gia mua cổ phần trong quá trình CPH TCTD; tăng cường giám sát định giá tài sản trong quá trình CPH, đảm bảo giá trị tài sản và quyền lợi cổ đông được đánh giá công bằng và minh bạch; thúc đẩy phát triển thị trường vốn; phối hợp chặt chẽ với Ngân hàng Nhà nước để đảm bảo các quy định về quản trị ngân hàng và hoạt động tín dụng phù hợp với các yêu cầu của quá trình CPH; (v) Đối với TCTD: Xây dựng chiến lược CPH rõ ràng và minh bạch; cải thiện năng lực quản trị và điều hành; tối ưu hóa giá trị tài sản và nâng cao hiệu quả hoạt động; thu hút nhà đầu tư chiến lược; đẩy mạnh đổi mới và ứng dụng công nghệ; tăng cường năng lực quản lý rủi ro; phát triển mối quan hệ đối tác quốc tế; đảm bảo quyền lợi của cổ đông và người lao động; chủ động phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước; đề xuất chính sách hỗ trợ từ Nhà nước. 

5. Thông tin nghiệm thu và lưu trữ

- Nghiệm thu: Đề tài đã được Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu thông qua (Quyết định số 409/QĐ-BTC ngày 26/02/2025 của Bộ Tài chính về việc thành lập Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ KHCN cấp Bộ năm 2024).

- Lưu trữ: Đề tài được đóng quyển, lưu trữ tại Thư viện Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính./.

Nguyễn Hữu Hùng

Vụ Các định chế tài chính