Đề tài: Chính sách phát triển bảo hiểm xanh: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

25/01/2026 10:20


1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Trong bối cảnh toàn cầu đối diện với những thách thức nghiêm trọng từ biến đổi khí hậu và các vấn đề môi trường, bảo hiểm xanh ngày càng trở thành một công cụ quan trọng để giảm thiểu rủi ro và hỗ trợ quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh. Trên thế giới, thị trường bảo hiểm xanh phát triển nhanh, với quy mô dự kiến đạt 15,49 tỷ USD vào năm 2032, tập trung vào các lĩnh vực như năng lượng tái tạo, giao thông xanh và công trình tiết kiệm năng lượng. Sự tăng trưởng này cho thấy phát triển sản phẩm bảo hiểm xanh là hướng đi tất yếu của ngành Tài chính toàn cầu và ngành bảo hiểm nói riêng trong lộ trình hướng tới phát triển bền vững. Việt Nam hiện đang ở giai đoạn quan trọng của quá trình thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh và cam kết đạt mức phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050. Để đạt được mục tiêu này, việc xây dựng các chính sách tài chính, bao gồm bảo hiểm xanh, là một phần không thể thiếu. Việc phát triển chính sách bảo hiểm xanh không chỉ đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu các tác động tiêu cực của quá trình chuyển đổi xanh, biến đổi khí hậu và thiên tai, đồng thời tăng cường khả năng thích ứng và phục hồi của các ngành kinh tế trước các rủi ro của quá trình chuyển đổi. Bảo hiểm xanh có tiềm năng phát triển tại Việt Nam và phù hợp với định hướng phát triển của Chính phủ tại Quyết định số 07/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam đến năm 2030 và Quyết định số 1658/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050. Tuy nhiên, Việt Nam cũng đang đối diện với các thách thức chung của các quốc gia đang phát triển trong việc phát triển bảo hiểm xanh, bao gồm: Hạn chế về cơ sở hạ tầng, khung pháp lý chưa hoàn thiện, thiếu các quy định hỗ trợ cho các dự án bền vững. Đây đều là những yếu tố then chốt ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng phát triển thị trường bảo hiểm xanh. Bên cạnh đó, khoảng trống trong nghiên cứu về chính sách phát triển bảo hiểm xanh tại Việt Nam vẫn tồn tại, đặc biệt khi bảo hiểm xanh được xem như một dòng sản phẩm và dịch vụ hỗ trợ quá trình chuyển đổi xanh. Hiện chưa có các nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu về chính sách phát triển bảo hiểm xanh, bao gồm các khía cạnh như khung pháp lý, cơ chế vận hành và vai trò của bảo hiểm xanh trong việc thúc đẩy quá trình chuyển đổi xanh. Xuất phát từ những vấn đề trên, việc nghiên cứu đề tài “Chính sách phát triển bảo hiểm xanh: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam” là cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ các vấn đề lý luận chung về chính sách phát triển bảo hiểm xanh; phân tích, đánh giá thực trạng chính sách phát triển bảo hiểm xanh tại Việt Naml, đề tài đã đưa ra một số khuyến nghị chính sách nhằm phát triển bảo hiểm xanh tại Việt Nam giai đoạn 2025 - 2030.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Chính sách phát triển bảo hiểm xanh.

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung phân tích khung pháp lý bảo hiểm xanh; nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế tại một số quốc gia trên thế giới (Trung Quốc, Hoa Kỳ, Anh, EU…). Đề tài nghiên cứu thực trạng phát triển bảo hiểm xanh giai đoạn 2020 - 2024 tại Việt Nam và đề xuất khuyến nghị giai đoạn 2025 - 2030.

4. Kết quả nghiên cứu

(1) Đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về chính sách phát triển bảo hiểm xanh với các nội dung về khái niệm, phân loại, vai trò, các chính sách phát triển bảo hiểm xanh và các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách phát triển bảo hiểm xanh. Bảo hiểm xanh được hiểu là các sản phẩm bảo hiểm có tác động tích cực đến mục tiêu giảm thiểu biến đổi khí hậu, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ hệ sinh thái và đa dạng sinh học, khả năng phục hồi tài nguyên và chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn thông qua việc mở rộng các rủi ro bảo hiểm có liên quan, tiếp cận tới các đối tượng bảo hiểm là các tài sản, các tài sản xanh, các dự án xanh, phần thu nhập hỗ trợ thay đổi công nghệ xanh, trách nhiệm ô nhiễm môi trường… hoặc khuyến khích các hành vi của bên mua bảo hiểm trong việc thực hiện các mục tiêu giảm thiểu biến đổi khí hậu, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ hệ sinh thái và đa dạng sinh học, khả năng phục hồi tài nguyên và chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn. Bảo hiểm xanh có thể được phân loại theo các loại hình gồm: Bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm y tế; phân loại theo các kênh phân phối, gồm: Bán hàng trực tiếp, đại lý/môi giới, nền tảng trực tuyến, ngân hàng bảo hiểm (Bancassurance).

Chính sách phát triển bảo hiểm xanh được hiểu là tập hợp các quy định, biện pháp của Nhà nước nhằm khuyến khích, hỗ trợ và định hướng sự phát triển của thị trường bảo hiểm xanh,  góp phần bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và thúc đẩy phát triển bền vững. Chính sách trong phát triển bảo hiểm xanh có vai trò thúc đẩy sự tham gia của doanh nghiệp bảo hiểm, đảm bảo tính minh bạch và tiêu chuẩn hóa, khuyến khích hành vi thân thiện với môi trường, giảm thiểu rủi ro môi trường và kinh tế, thúc đẩy đổi mới và cạnh tranh. Đề tài tiếp cận chính sách phát triển bảo hiểm xanh theo các nhóm chính sách: Chính sách phát triển chung, chính sách đối với doanh nghiệp bảo hiểm, chính sách đối với bên mua bảo hiểm, chính sách đối với các bên liên quan khác. Cách tiếp cận này đảm bảo phản ánh toàn diện các bên liên quan trong hệ sinh thái bảo hiểm xanh, giúp xác định chính xác các động lực phát triển thị trường bảo hiểm xanh và việc chia thành ba nhóm chính sách sẽ giúp xác định chính xác các yếu tố cản trở và các giải pháp cần thiết để thúc đẩy bảo hiểm xanh trong từng lĩnh vực. Chính sách phát triển bảo hiểm xanh chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố đa chiều, bao gồm các yếu tố kinh tế, pháp lý, xã hội, công nghệ và môi trường. Những yếu tố này tương tác với nhau và định hình cách thức mà bảo hiểm xanh được thiết kế, triển khai và quản lý.

(2) Đề tài đã nghiên cứu kinh nghiệm của các nước Trung Quốc, EU, Hoa Kỳ; một số quốc gia trong khu vực ASEAN như Singapore, Thái Lan và một số nền kinh tế mới nổi như Ấn Độ. Các quốc gia như Trung Quốc, EU và Ấn Độ và nhiều nước ASEAN đã áp dụng chiến lược phát triển bảo hiểm xanh. Trung Quốc tập trung vào bảo hiểm trách nhiệm môi trường, nông nghiệp và tài chính carbon. EU triển khai Chỉ thị Trách nhiệm Môi trường và Solvency II, thúc đẩy tính bền vững thông qua Quy định Phân loại Xanh. Ấn Độ khuyến khích các doanh nghiệp bảo hiểm tích hợp ESG và phát triển sản phẩm thân thiện môi trường. Khung pháp lý giữ vai trò then chốt trong việc thúc đẩy bảo hiểm xanh, thể hiện rõ qua các cơ chế như Đạo luật CERCLA của Hoa Kỳ, các quy định về trách nhiệm môi trường của Liên minh châu Âu, hay hệ thống pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường tại Trung Quốc. Cơ chế báo cáo ESG (chẳng hạn SFDR và ORSA) giúp minh bạch và quản lý rủi ro hiệu quả hơn. Đồng thời, các chính sách tài chính như tài trợ xây dựng xanh ở Hoa Kỳ hay chương trình bảo hiểm năng lượng tái tạo tại EU đã hỗ trợ thị trường bảo hiểm xanh phát triển mạnh. Đề tài rút ra 06 bài học cho Việt Nam nhằm hoàn thiện chính sách phát triển bảo hiểm xanh như: (i) Xác định bảo hiểm xanh là một trụ cột của hệ thống tài chính xanh. Kinh nghiệm của Trung Quốc và EU cho thấy bảo hiểm xanh không chỉ đơn thuần là một sản phẩm tài chính mà còn là một công cụ thúc đẩy quá trình chuyển đổi kinh tế theo hướng bền vững; (ii) Phát triển các sản phẩm bảo hiểm xanh phù hợp với nhu cầu trong nước. Đối với bảo hiểm rủi ro môi trường bắt buộc, kinh nghiệm từ Trung Quốc, EU, Hoa Kỳ... cho thấy, việc triển khai bảo hiểm trách nhiệm môi trường bắt buộc đối với các ngành công nghiệp có nguy cơ cao (như hóa chất và khai thác mỏ) đã góp phần giảm thiểu rủi ro môi trường và hỗ trợ chuyển đổi xanh; (iii) Xây dựng cơ chế hỗ trợ và ưu đãi cho bảo hiểm xanh. Các chính sách ưu đãi tài chính trực tiếp cho phát triển bảo hiểm xanh (Kinh nghiệm Hoa Kỳ) hoặc gián tiếp cho các loại tài sản xanh, ngành, lĩnh vực chuyển đổi xanh (như ngành năng lượng, phát triển công trình xanh, xe điện ....) là công cụ quan trọng để thúc đẩy bảo hiểm xanh; (iv) Tăng cường hợp tác quốc tế và phát triển dữ liệu; (v) Nâng cao nhận thức và quản trị ESG trong doanh nghiệp bảo hiểm và nhận thức của các ngành, xã hội về bảo hiểm xanh; (vi) Xây dựng hạ tầng dữ liệu và công nghệ hỗ trợ.

(3) Đề tài đã phân tích làm rõ thực trạng chính sách phát triển bảo hiểm xanh tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, chính sách phát triển bảo hiểm xanh ở Việt Nam đã đạt được một số kết quả về khung pháp lý, đặc biệt là hệ thống pháp lý nền tảng cho bảo hiểm trách nhiệm môi trường, cũng như các chính sách ưu đãi và hỗ trợ nhằm thúc đẩy bảo hiểm xanh. Bảo hiểm xanh tại Việt được chính thức nhắc đến trong Chiến lược tăng trưởng xanh năm 2012 và tiếp tục được hoàn thiện qua các Luật Bảo vệ môi trường 2014, 2020 cùng các văn bản pháp luật liên quan. Dấu mốc quan trọng là Quyết định số 1658/QĐ-TTg năm 2021, xác định bảo hiểm xanh là công cụ huy động nguồn lực cho tăng trưởng xanh. Nội dung này được cụ thể hóa trong Quyết định số 882/QĐ-TTg (2022) và được nhấn mạnh trong Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm đến năm 2030 (Quyết định số 07/QĐ-TTg, Quyết định số 808/QĐ-BTC). Các chính sách này đã tạo nền tảng pháp lý cơ bản cho sự phát triển của bảo hiểm xanh tại Việt Nam. Đối với bảo hiểm trách nhiệm môi trường, Việt Nam đã tiếp cận với loại hình bảo hiểm này từ Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và hiện nay tiếp tục được quy định tại Luật Bảo vệ môi trường 2020. Bảo hiểm trách nhiệm môi trường không chỉ giúp khắc phục hậu quả mà còn khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng biện pháp phòng ngừa sự cố môi trường. Các chính sách ưu đãi cho bảo hiểm xanh được triển khai chủ yếu dưới hình thức hỗ trợ gián tiếp thông qua chiến lược tăng trưởng xanh như Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050... Các biện pháp hỗ trợ tập trung vào việc thúc đẩy kinh tế xanh thông qua các chính sách tài chính chung, như chính sách thuế xanh và tín dụng xanh. Bên cạnh một số kết quả đạt được, chính sách phát triển bảo hiểm xanh tại Việt Nam vẫn còn một số tồn tại, vướng mắc như: Thiếu khung pháp lý rõ ràng để tạo điều kiện cho bảo hiểm xanh phát triển, thiếu kinh nghiệm và nguồn lực phát triển bảo hiểm xanh, thiếu  chính sách khuyến khích và hỗ trợ phát triển sản phẩm bảo hiểm xanh, thiếu nhận thức và hiểu biết về bảo hiểm xanh, thiếu sự phối hợp giữa các bên liên quan để thúc đẩy sự phát triển bền vững của bảo hiểm xanh, thiếu cơ sở dữ liệu và công cụ đánh giá rủi ro. 

Qua nghiên cứu phân tích thực trạng triển khai bảo hiểm xanh tại Việt Nam cho thấy, việc triển khai sản phẩm bảo hiểm xanh bước đầu được quan tâm, Chính phủ đã xác định rõ cần phải thúc đẩy bảo hiểm xanh để hướng đến mục tiêu tăng trưởng xanh. Các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam đã nghiên cứu, triển khai một số sản phẩm bảo hiểm xanh để đáp ứng nhu cầu bảo hiểm đa dạng của khách hàng, mở rộng thị phần. Tuy nhiên vẫn còn ít doanh nghiệp đơn lẻ tham gia thị trường bảo hiểm xanh; có ít sản phẩm có thể gọi là bảo hiểm xanh, sản phẩm chủ yếu tập trung nhiều vào sản phẩm bảo hiểm trách nhiệm môi trường. Nguyên nhân làm cho bảo hiểm xanh chưa phát triển được hết tiềm năng là do vẫn còn thiếu những văn bản pháp lý quy định rõ, chi tiết về bảo hiểm xanh, để làm cơ sở pháp lý thúc đẩy sự phát triển các sản phẩm bảo hiểm xanh tại Việt Nam; so với các sản phẩm bảo hiểm thông thường, sản phẩm bảo hiểm xanh liên quan đến các rủi ro phức tạp và khó định lượng chính xác làm gia tăng thách thức trong việc phát triển sản phẩm mới của các doanh nghiệp bảo hiểm; bảo hiểm xanh là một lĩnh vực mới nổi, doanh nghiệp và đối tượng tham gia bảo hiểm còn thiếu hiểu biết và nhận thức về tầm quan trọng của bảo hiểm xanh, dẫn đến nhu cầu tham gia ở mức thấp. 

(4) Trên cơ sở phân tích kinh nghiệm của các nước trên thế giới; đánh giá thực trạng; quan điểm, định hướng phát triển bảo hiểm xanh tại Việt Nam; đề tài đề xuất một số giải pháp nhằm giúp giải quyết các vướng mắc hiện tại, đồng thời hoàn thiện chính sách phát triển bảo hiểm xanh tại Việt Nam, đảm bảo phù hợp với bối cảnh thị trường và thông lệ quốc tế. Các giải pháp gồm: (i) Nhóm giải pháp chung chú trọng vào việc hoàn thiện các văn bản pháp lý và quy định liên quan tới phát triển bảo hiểm xanh; xây dựng tiêu chí, phương pháp xác định, phân loại sản phẩm bảo hiểm xanh tương thích, phù hợp các tiêu chí xanh của các ngành kinh tế; xây dựng nguồn nhân lực chuyên sâu về bảo hiểm xanh; tận dụng nguồn lực tài chính từ các cơ chế hợp tác quốc tế để hỗ trợ bảo hiểm xanh; xây dựng cơ sở dữ liệu rủi ro và tổn thất. (ii) Nhóm giải pháp về chính sách thúc đẩy doanh nghiệp phát triển bảo hiểm xanh sẽ triển khai xây dựng khái niệm bảo hiểm xanh theo nghĩa rộng; xây dựng chính sách ưu đãi tài chính phát triển sản phẩm bảo hiểm xanh; hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển sản phẩm bảo hiểm xanh; hướng dẫn doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam về công bố thông tin tài chính khí hậu; xây dựng chính sách hướng doanh nghiệp tích hợp quan niệm “xanh” vào hoạt động của doanh nghiệp; đặc biệt cần có giải pháp đẩy mạnh hiệu quả, hiệu lực của chính sách này. (iii) Nhóm giải pháp về chính sách đối với bên mua bảo hiểm xanh được thực hiện thông qua chính sách hỗ trợ các đối tượng mua sản phẩm bảo hiểm xanh; đẩy mạnh tuyên truyền và nâng cao nhận thức của bên mua bảo hiểm. Đề tài cũng đã đề xuất lộ trình và điều kiện thực hiện các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách phát triển bảo hiểm xanh tại Việt Nam trong thời gian tới.

5. Thông tin nghiệm thu và lưu trữ

- Nghiệm thu: Đề tài đã được Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu thông qua (Quyết định số 410/QĐ-BTC ngày 26/02/2025 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc thành lập Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ KHCN cấp Bộ năm 2024).

- Lưu trữ: Đề tài được đóng quyển, lưu trữ tại Thư viện Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính./.

ThS. Đinh Ngọc Linh

Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính