Lạng Sơn đạt nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số
05/08/2026 16:40
Thời gian qua, công tác phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi ở Lạng Sơn đã đạt nhiều kết quả quan trọng, khá toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực, diện mạo vùng đồng bào DTTS và miền núi của tỉnh có nhiều đổi thay rõ nét, đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện. Tuy nhiên, với đặc thù là tỉnh miền núi, Lạng Sơn vẫn còn đối mặt với không ít khó khăn, thách thức nên cần có các giải pháp đồng bộ để phát triển nhanh và bền vững hơn.
Những thành tựu đạt được
Giai đoạn 2023 - 2025
Lạng Sơn là tỉnh miền núi, biên giới, có đường biên giới dài 231,74 km tiếp giáp với Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây - Trung Quốc. Hiện nay, toàn tỉnh có 65/65 xã, phường thuộc vùng đồng bào DTTS và miền núi (61 xã, 04 phường); dân số khoảng 881.384 người, đồng bào DTTS chiếm 83,91% dân số toàn tỉnh với 07 dân tộc chủ yếu (Nùng, Tày, Kinh, Dao, Hoa, Sán Chay, Mông). Giai đoạn 2021 - 2025, tỉnh đã đạt được những thành tựu nổi bật trong triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi.
Trước hết, thành tựu nổi bật của Lạng Sơn trong những năm qua là công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện chương trình được triển khai bài bản, đồng bộ và có trọng tâm, trọng điểm. Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã ban hành nhiều chủ trương, kế hoạch, cơ chế cụ thể để tổ chức thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi phù hợp với đặc thù của địa phương. Bộ máy chỉ đạo, điều hành chương trình được kiện toàn từ tỉnh đến cơ sở; công tác kiểm tra, giám sát được tăng cường; những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai từng bước được phát hiện, tháo gỡ. Chính sự chủ động và quyết liệt ngay từ đầu đã tạo nền tảng quan trọng để các mục tiêu, nhiệm vụ của chương trình từng bước đi vào cuộc sống.
Công tác giảm nghèo vùng đồng bào DTTS ở Lạng Sơn thời gian qua đã đạt kết quả rất tích cực. Số hộ nghèo đa chiều DTTS giảm nhanh, từ 29.629 hộ năm 2023 xuống còn 17.494 hộ năm 2025, giảm 12.135 hộ. Tương ứng tỷ lệ hộ nghèo đa chiều DTTS giảm từ 17,68% năm 2023 xuống còn 10,82% năm 2025. Trong đó, tỷ lệ hộ nghèo DTTS giảm rất nhanh từ 7,05% năm 2023 xuống còn 2,7% năm 2025, tương đương giảm 4,35% trong vòng 2 năm.
Hộ nghèo, hộ cận nghèo DTTS tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2023 - 2025
| Năm | Tổng số hộ DTTS (hộ) | Hộ nghèo đa chiều DTTS (hộ) | Hộ nghèo DTTS (hộ) | Hộ cận nghèo DTTS (hộ) | Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều DTTS (%) | Tỷ lệ hộ nghèo DTTS (%) | Tỷ lệ hộ cận nghèo DTTS (%) |
| 2023 | 167.618 | 29.629 | 11.824 | 17.805 | 17,68 | 7,05 | 10,62 |
| 2024 | 169.625 | 22.436 | 6.547 | 15.889 | 13,23 | 3,86 | 9,37 |
| 2025 | 161.675 | 17.494 | 4.369 | 13.125 | 10,82 | 2,70 | 8,12 |
Nguồn: tác giả tổng hợp từ các báo cáo kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025
Đặc biệt, đến hết năm 2025, toàn tỉnh có 47/47 xã và 315/315[1] thôn thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn, đạt 100% chỉ tiêu kế hoạch của giai đoạn 2021 - 2025. Đây là dấu mốc có ý nghĩa rất lớn, thể hiện hiệu quả của Chương trình MTQG phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi trong việc cải thiện điều kiện sống và nâng cao năng lực phát triển ở những địa bàn khó khăn nhất.
Một điểm sáng nổi bật khác là kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi được quan tâm đầu tư mạnh mẽ, tạo nền tảng cho phát triển bền vững. Đến hết năm 2025, 100% xã có đường ô tô đến trung tâm được rải nhựa hoặc bê tông; 91% thôn có đường ô tô đến trung tâm được cứng hóa, vượt kế hoạch đề ra là 80%. Riêng số ki-lô-mét đường đến trung tâm xã được cứng hóa đạt 315,36 km, bằng 163% kế hoạch. Kết quả này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với một tỉnh miền núi như Lạng Sơn, bởi giao thông không chỉ mở lối cho hàng hóa lưu thông, thúc đẩy sản xuất, mà còn tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thuận lợi hơn với y tế, giáo dục, thông tin và các dịch vụ xã hội cơ bản.
Không chỉ giao thông, nhiều công trình hạ tầng thiết yếu khác cũng được đầu tư đồng bộ. Tỷ lệ trường, lớp học được xây dựng kiên cố đạt 100%; tỷ lệ trạm y tế được xây dựng kiên cố đạt 100%; tỷ lệ hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia và các nguồn điện phù hợp đạt 99,8%; tỷ lệ đồng bào DTTS được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 99%. Những con số này phản ánh sự cải thiện rõ rệt về điều kiện dân sinh, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa vùng đồng bào DTTS, miền núi với khu vực trung tâm.
Lĩnh vực giáo dục cũng có nhiều chuyển biến tích cực. Tỷ lệ trẻ mẫu giáo 5 tuổi đến trường đạt trên 99,9%; tỷ lệ học sinh tiểu học trong độ tuổi đến trường đạt 99,97%; tỷ lệ học sinh trung học cơ sở trong độ tuổi đến trường đạt 100%; tỷ lệ học sinh trung học phổ thông trong độ tuổi đến trường đạt 94,7%, vượt xa mục tiêu đề ra. Tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên đọc thông, viết thạo tiếng phổ thông đạt 99,35%. Những kết quả đó cho thấy mặt bằng dân trí ở vùng đồng bào DTTS ngày càng được nâng lên, tạo cơ sở quan trọng để phát triển nguồn nhân lực cho giai đoạn tiếp theo.
Lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân cũng có bước tiến rõ rệt. Tỷ lệ đồng bào DTTS tham gia bảo hiểm y tế đạt 98%; tỷ lệ phụ nữ sinh con tại cơ sở y tế hoặc có sự hỗ trợ của nhân viên y tế đạt 99%; tỷ lệ phụ nữ mang thai được thăm khám định kỳ ít nhất 4 lần trong thai kỳ đạt 90%; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể nhẹ cân được kiểm soát dưới 14,8%. Đây là những chỉ tiêu phản ánh chất lượng mạng lưới y tế cơ sở ngày càng được nâng lên, đồng thời cho thấy mức độ tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người dân vùng đồng bào DTTS và miền núi ngày càng được cải thiện.
Công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc cũng được chú trọng gắn với nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân. Tỷ lệ thôn có nhà sinh hoạt cộng đồng đạt 80%, vượt mức kế hoạch 60%; tỷ lệ thôn có đội văn hóa, văn nghệ truyền thống hoạt động thường xuyên đạt 53%, vượt chỉ tiêu đề ra. Điều đó cho thấy quá trình phát triển ở vùng đồng bào DTTS và miền núi của Lạng Sơn không chỉ nhấn mạnh mục tiêu kinh tế mà còn hướng đến phát triển hài hòa, bền vững, gắn với gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, củng cố khối đoàn kết cộng đồng.
Ngoài ra, các nội dung hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế, phát triển theo chuỗi giá trị cũng được triển khai rộng rãi. Trong giai đoạn vừa qua, tỉnh đã thực hiện 47 dự án hỗ trợ phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, 309 dự án hỗ trợ phát triển sản xuất cộng đồng, với hàng nghìn hộ dân tham gia. Dù hiệu quả còn khác nhau giữa các địa bàn, nhưng đây là hướng đi đúng, góp phần từng bước chuyển đổi tư duy sản xuất, tạo thêm sinh kế, nâng cao thu nhập và giảm dần tình trạng sản xuất manh mún, tự cung tự cấp.
Có thể khẳng định, những thành tựu đạt được trong giai đoạn 2021 - 2025 đã tạo nên diện mạo mới cho vùng đồng bào DTTS và miền núi của tỉnh Lạng Sơn. Đó là diện mạo của hạ tầng ngày càng khang trang hơn, đời sống người dân ngày càng cải thiện hơn, cơ hội phát triển ngày càng rộng mở hơn và niềm tin của đồng bào đối với tương lai ngày càng được củng cố vững chắc hơn.
6 tháng đầu năm 2026
Trong 6 tháng đầu năm 2026, tỉnh Lạng Sơn tiếp tục quan tâm, chỉ đạo quyết liệt công tác dân tộc và triển khai các chính sách đối với vùng đồng bào DTTS và miền núi. Mặc dù còn nhiều khó khăn, song kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi cơ bản ổn định, tiếp tục duy trì đà phát triển.
Hạ tầng và điều kiện dân sinh tiếp tục được cải thiện. Toàn tỉnh có 100% xã, phường có điện lưới quốc gia, tỷ lệ hộ sử dụng điện đạt 99,88%; 85% hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh; 65,1% hộ nông thôn được sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn; 83,8% diện tích đất nông nghiệp được tưới, tiêu chủ động và khoảng 80,3% thôn, tổ dân cư có nhà văn hóa đạt chuẩn.
Lĩnh vực văn hóa - xã hội có nhiều chuyển biến tích cực. Toàn tỉnh có 63/65 xã, phường có trung tâm văn hóa - thể thao, trong đó 25 xã đạt chuẩn. Công tác bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc được quan tâm; mạng lưới trường lớp, chăm sóc sức khỏe nhân dân tiếp tục được duy trì, công tác phòng, chống dịch bệnh đạt hiệu quả, không để xảy ra dịch bệnh lớn. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong vùng đồng bào DTTS được giữ vững, không phát sinh điểm nóng.
Trong 6 tháng đầu năm, Lạng Sơn tập trung triển khai Chương trình MTQG giai đoạn 2026 - 2030. Ban Chỉ đạo Chương trình được thành lập, các kế hoạch năm 2026 được ban hành kịp thời, nhiều cơ chế, chính sách mới tiếp tục được hoàn thiện. Tiểu dự án đầu tư hạ tầng triển khai 700 công trình chuyển tiếp và khởi công mới, đồng thời duy tu 35 công trình; hỗ trợ trang thiết bị cho 25 nhà văn hóa thôn; hoàn thành quyết toán dự án cải tạo Trung tâm Y tế Bình Gia; duy trì 19 mô hình giảm thiểu tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống và tổ chức 8 hội nghị tập huấn tuyên truyền, phổ biến pháp luật.
Về nguồn lực, tổng vốn đầu tư công năm 2026 của Chương trình MTQG đạt 298,211 tỷ đồng, ước giải ngân đến hết tháng 6 đạt 42 tỷ đồng (14% kế hoạch). Vốn sự nghiệp được giao 398,77 tỷ đồng, lũy kế giải ngân đến giữa tháng 5 đạt gần 34 tỷ đồng. Tuy nhiên, một số nội dung như hỗ trợ nhà ở, chuyển đổi nghề, nước sinh hoạt, phát triển sản xuất, đào tạo nghề và bình đẳng giới còn chậm do phải rà soát đối tượng và hoàn thiện thủ tục.
Nhìn chung, vùng đồng bào DTTS và miền núi tỉnh Lạng Sơn tiếp tục giữ vững đà phát triển, tạo nền tảng cho việc thực hiện các mục tiêu giai đoạn 2026 - 2030. Dù vẫn còn một số khó khăn trong quá trình triển khai, nhưng với sự chỉ đạo quyết liệt của tỉnh và sự đồng thuận của đồng bào các dân tộc, công tác dân tộc và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn đang chuyển biến theo hướng ngày càng thực chất, đồng bộ và bền vững.
Những hạn chế, thách thức và nguyên nhân
Bên cạnh những kết quả tích cực, quá trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi của Lạng Sơn vẫn còn một số hạn chế, khó khăn và thách thức cần được nhìn nhận đầy đủ, khách quan.
Trước hết, một số chỉ tiêu, nội dung thành phần của chương trình chưa đạt kế hoạch đề ra. Trong nhóm nội dung liên quan đến giải quyết thiếu đất ở, nhà ở, đất sản xuất và nước sinh hoạt, kết quả thực hiện còn hạn chế. Cụ thể, hỗ trợ đất ở mới đạt 3/142 hộ; hỗ trợ nhà ở đạt 1.409/2.015 hộ; hỗ trợ đất sản xuất chưa thực hiện được; hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán mới đạt khoảng 51% kế hoạch. Đây là những nội dung liên quan trực tiếp đến điều kiện sống cơ bản và sinh kế bền vững của người dân, vì vậy việc chưa đạt mục tiêu cho thấy vẫn còn những “điểm nghẽn” cần tập trung tháo gỡ trong thời gian tới.
Trong lĩnh vực phát triển lâm nghiệp, một số chỉ tiêu đạt thấp so với kế hoạch. Chẳng hạn, hỗ trợ khoanh nuôi tái sinh có trồng rừng bổ sung mới đạt khoảng 9%; hỗ trợ trồng rừng sản xuất, khai thác kinh tế dưới tán rừng và phát triển lâm sản ngoài gỗ đạt khoảng 21%; hỗ trợ trồng rừng phòng hộ đạt khoảng 23%. Điều này cho thấy dư địa phát triển kinh tế lâm nghiệp còn lớn nhưng việc tổ chức thực hiện chưa thật sự hiệu quả, nhất là trong việc thu hút người dân tham gia và tổ chức sản xuất theo hướng bền vững, gắn với sinh kế lâu dài.
Ở lĩnh vực giáo dục, dù nhiều chỉ tiêu về huy động học sinh đến trường đạt cao, song một số hạng mục đầu tư cho hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú còn chưa đạt như kỳ vọng. Số phòng công vụ giáo viên, phòng ở cho học sinh bán trú, nội trú, nhà ăn, nhà bếp, nhà kho chứa lương thực, không gian sinh hoạt văn hóa… ở một số nơi còn thiếu hoặc chưa được đầu tư đầy đủ theo kế hoạch. Điều này ảnh hưởng nhất định đến chất lượng học tập, sinh hoạt và điều kiện ăn ở của học sinh ở vùng sâu, vùng xa.
Một hạn chế khác là chất lượng tăng trưởng kinh tế ở vùng đồng bào DTTS và miền núi tuy đã được cải thiện nhưng chưa thật sự bền vững. Sản xuất ở nhiều nơi vẫn còn nhỏ lẻ, phân tán, thiếu liên kết chuỗi; khả năng ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, phát triển sản phẩm hàng hóa có thương hiệu còn hạn chế; năng lực cạnh tranh của một số ngành, lĩnh vực chưa cao. Nhiều mô hình sản xuất vẫn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, dễ bị tác động bởi thiên tai, dịch bệnh, biến động thị trường. Thu nhập của người dân tuy tăng nhưng chưa đồng đều giữa các địa bàn, giữa các nhóm dân cư.
Bên cạnh đó, vùng đồng bào DTTS và miền núi của Lạng Sơn vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức khách quan. Địa hình chia cắt, dân cư phân tán, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt ở một số nơi làm tăng chi phí đầu tư hạ tầng, chi phí tổ chức sản xuất và cung cấp dịch vụ công. Khoảng cách phát triển giữa các khu vực trong tỉnh tuy đã thu hẹp nhưng vẫn còn tương đối lớn. Một bộ phận lao động ở vùng cao chưa qua đào tạo hoặc đào tạo chưa gắn chặt với nhu cầu thị trường, khiến việc chuyển dịch cơ cấu lao động và nâng cao năng suất lao động còn chậm.
Nguyên nhân của những hạn chế trên đến từ cả yếu tố khách quan và chủ quan. Về khách quan, chất lượng và năng suất lao động còn tương đối thấp, chưa đáp ứng tốt được với yêu cầu phát triển; kết cấu hạ tầng dù đã được đầu tư nhưng chưa thật sự đồng bộ; quỹ đất ở, đất sản xuất ở nhiều nơi hạn hẹp; tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu, thị trường và điều kiện địa hình làm cho việc triển khai nhiều nội dung hỗ trợ gặp khó khăn. Về chủ quan, ở một số nơi công tác tổ chức thực hiện còn chậm; việc phối hợp giữa các cấp, các ngành có lúc, có nơi chưa thật sự nhịp nhàng; năng lực quản lý và tổ chức triển khai ở cơ sở còn có mặt hạn chế; một số cơ chế, chính sách khi triển khai vào thực tiễn còn bộc lộ bất cập; công tác hướng dẫn, hỗ trợ người dân xây dựng mô hình sản xuất hiệu quả chưa đồng đều. Bên cạnh đó, ở một bộ phận người dân vẫn còn tâm lý trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước, chưa mạnh dạn đổi mới tư duy sản xuất, chưa chủ động liên kết để phát triển kinh tế hàng hóa.
Giải pháp trong thời gian tới
Trong thời gian tới, để tiếp tục tạo chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa trong phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi, Lạng Sơn cần tập trung thực hiện đồng bộ nhiều nhóm giải pháp.
Trước hết, cần tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, sự quản lý, điều hành của chính quyền các cấp đối với công tác dân tộc và việc thực hiện Chương trình MTQG. Đây là giải pháp có tính nền tảng. Cần tiếp tục quán triệt đầy đủ quan điểm của Đảng về phát triển toàn diện vùng đồng bào DTTS và miền núi; nâng cao trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức trong tổ chức thực hiện; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và người có uy tín trong đồng bào DTTS. Đồng thời, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện theo hướng thực chất, kịp thời phát hiện và xử lý các bất cập phát sinh ở cơ sở.
Hai là, cần ưu tiên huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho vùng đồng bào DTTS và miền núi, bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải. Việc đầu tư cần tập trung vào các lĩnh vực còn là “nút thắt” như giao thông liên thôn, liên xã; nước sinh hoạt; trường học, trạm y tế; hạ tầng phục vụ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; công trình dân sinh thiết yếu ở những địa bàn khó khăn nhất. Cùng với ngân sách nhà nước, cần đẩy mạnh lồng ghép các chương trình, dự án; thu hút nguồn lực xã hội hóa; phát huy nội lực của cộng đồng dân cư; nâng cao hiệu quả đầu tư công.
Ba là, tiếp tục đẩy mạnh phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế, nâng cao thu nhập cho người dân theo hướng bền vững. Trọng tâm là tổ chức lại sản xuất gắn với lợi thế của từng vùng, từng địa bàn; phát triển các mô hình kinh tế theo chuỗi giá trị; đẩy mạnh liên kết giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp; xây dựng và phát triển các sản phẩm đặc trưng có khả năng cạnh tranh trên thị trường. Đồng thời, cần hỗ trợ người dân tiếp cận khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, tín dụng ưu đãi, thông tin thị trường, kỹ năng quản trị sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Đối với kinh tế lâm nghiệp, cần có giải pháp cụ thể để khắc phục tình trạng manh mún, nâng cao hiệu quả trồng rừng, khoanh nuôi bảo vệ rừng gắn với tạo sinh kế ổn định cho người dân.
Bốn là, tập trung giải quyết hiệu quả các vấn đề dân sinh bức thiết như đất ở, nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt, nhất là đối với các hộ còn đặc biệt khó khăn. Cần rà soát kỹ từng nhóm đối tượng, từng địa bàn, phân loại nguyên nhân cụ thể để có giải pháp phù hợp. Với những nơi thiếu quỹ đất, cần nghiên cứu các hình thức hỗ trợ linh hoạt hơn, gắn với chuyển đổi sinh kế, đào tạo nghề, tạo việc làm, hỗ trợ sản xuất phi nông nghiệp hoặc phát triển ngành nghề phù hợp với điều kiện thực tế.
Năm là, tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, văn hóa và nguồn nhân lực ở vùng đồng bào DTTS và miền núi. Trong giáo dục, cần ưu tiên đầu tư hoàn thiện cơ sở vật chất cho các trường bán trú, nội trú; nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên; tăng cường hỗ trợ học sinh vùng khó khăn, hạn chế nguy cơ bỏ học. Trong y tế, cần củng cố mạng lưới y tế cơ sở, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu, chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em, phòng chống suy dinh dưỡng. Trong văn hóa, cần tiếp tục bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc gắn với phát triển du lịch cộng đồng, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân. Về nguồn nhân lực, cần đẩy mạnh đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường lao động, với định hướng phát triển kinh tế của địa phương và với quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động ở khu vực miền núi.
Sáu là, cần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở, nhất là cán bộ làm công tác dân tộc, cán bộ trực tiếp tổ chức thực hiện chương trình ở cấp xã, thôn, bản. Đây là lực lượng giữ vai trò rất quan trọng trong việc đưa chính sách đến với người dân. Do đó, cần quan tâm đào tạo, bồi dưỡng năng lực quản lý, kỹ năng vận động quần chúng, kỹ năng xây dựng và tổ chức thực hiện mô hình phát triển; đồng thời chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ là người DTTS, am hiểu phong tục, tập quán, tiếng nói và điều kiện thực tế ở địa phương.
Bảy là, tiếp tục gắn phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi với củng cố quốc phòng, an ninh, giữ vững chủ quyền biên giới quốc gia và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đối với Lạng Sơn, đây không chỉ là yêu cầu phát triển mà còn là nhiệm vụ chiến lược lâu dài. Khi đời sống của người dân được nâng lên, hạ tầng được hoàn thiện, sinh kế được bảo đảm, niềm tin được củng cố, thì đó cũng chính là nền tảng vững chắc để xây dựng thế trận lòng dân, giữ ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ vững chắc khu vực biên giới.
Với mục tiêu đề ra đến năm 2030 thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 130 triệu đồng/người, tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng bào DTTS và miền núi giảm bình quân khoảng 2%/năm, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 76%, tỷ lệ thôn có đường ô tô đến trung tâm được cứng hóa đạt trên 95%, Lạng Sơn đang đứng trước yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa trong tư duy phát triển, phương thức tổ chức thực hiện và sử dụng nguồn lực.
ThS. Phạm Anh Tuấn
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026), Quyết định công bố kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2025 theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025;
2. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2025), Quyết định công bố kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2024 theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025;
3. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2024), Quyết định công bố kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2023 theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025;
4. UBND tỉnh Lạng Sơn (2026), Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025, xây dựng nội dung Chương trình giai đoạn 2026 - 2030 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn;
5. UBND tỉnh Lạng Sơn (2026), Báo cáo kết quả thực hiện công tác dân tộc 6 tháng đầu năm, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026.
[1] Số lượng xã, thôn được tính trước khi sáp nhập.