Đưa Nghị quyết số 79-NQ/TW vào cuộc sống: Phát huy vai trò của kinh tế nhà nước trong giai đoạn mới
07/04/2026 08:55
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế nhà nước (KTNN) luôn được xác định giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng quan trọng góp phần định hướng, điều tiết và dẫn dắt sự phát triển của nền kinh tế. Tuy nhiên, trong bối cảnh yêu cầu phát triển nhanh và bền vững ngày càng cao, cùng với những biến động của kinh tế thế giới và quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng trong nước, việc tiếp tục đổi mới tư duy và hoàn thiện thể chế phát triển KTNN trở thành yêu cầu cấp thiết. Với tư duy kiến tạo, Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 (Nghị quyết số 79) vừa được Bộ Chính trị ban hành về phát triển KTNN đã mở ra không gian phát triển mới cho khu vực này, đồng thời đánh dấu bước chuyển quan trọng về nhận thức và cách tiếp cận trong phát triển KTNN. Trên cơ sở đó, các quan điểm, mục tiêu và giải pháp của Nghị quyết đang từng bước được cụ thể hóa và triển khai trong thực tiễn, hướng tới nâng cao hiệu quả và phát huy vai trò dẫn dắt của KTNN trong nền kinh tế.
1. Yêu cầu đổi mới tư duy phát triển kinh tế nhà nước trong giai đoạn mới
Sau gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, KTNN tiếp tục được khẳng định giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Vai trò này được thể hiện nhất quán trong Hiến pháp và các Văn kiện Đại hội Đảng, đồng thời được khẳng định qua thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Khu vực KTNN đã đóng góp quan trọng trong việc giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng thiết yếu, cung cấp nhiều hàng hóa và dịch vụ công quan trọng, đồng thời góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh và thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, KTNN cũng là một khái niệm mở; qua từng thời kỳ phát triển, nhận thức về nội hàm và phạm vi của KTNN có sự điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế. Thực tiễn thời gian qua cho thấy hệ thống thể chế và cơ chế quản lý nhiều nguồn lực của Nhà nước còn chậm được đổi mới; việc khai thác và phân bổ các nguồn lực như đất đai, tài nguyên, tài sản kết cấu hạ tầng, vốn nhà nước tại doanh nghiệp… trong một số trường hợp chưa thực sự hiệu quả. Lực lượng doanh nghiệp nhà nước (DNNN) - lực lượng vật chất quan trọng của KTNN, nhìn chung vẫn chưa phát huy đầy đủ vai trò dẫn dắt, năng lực cạnh tranh quốc tế còn hạn chế so với tiềm năng và nguồn lực đang nắm giữ. Trong bối cảnh đó, việc nhận diện đầy đủ và cụ thể nội hàm của KTNN trở nên cần thiết nhằm định hình rõ hơn tư duy phát triển, qua đó xác định các mục tiêu và giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả khai thác, phân bổ và sử dụng các nguồn lực của Nhà nước.
Bên cạnh những vấn đề nội tại của nền kinh tế, bối cảnh kinh tế thế giới cũng đang có nhiều biến động sâu sắc. Xu hướng tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, cạnh tranh chiến lược giữa các nền kinh tế lớn, cùng với yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế đang đặt ra những thách thức mới đối với nhiều quốc gia. Đồng thời, để thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, vai trò của các khu vực kinh tế cần được phát huy đầy đủ; trong đó cần từng bước hình thành mô hình tăng trưởng mới dựa trên kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Điều này đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển và lựa chọn các giải pháp đột phá nhằm phát huy vai trò chủ đạo và dẫn dắt của KTNN trong nền kinh tế.
Trên cơ sở đó, Nghị quyết số 79 của Bộ Chính trị về phát triển KTNN được ban hành, được xác định là nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng về KTNN kể từ khi thực hiện công cuộc đổi mới năm 1986. Việc ban hành Nghị quyết phản ánh bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận và nhận thức chính sách đối với khu vực này trong điều kiện phát triển mới.
2. Đổi mới cách tiếp cận về kinh tế nhà nước trong Nghị quyết số 79-NQ/TW
Một trong những điểm mới quan trọng của Nghị quyết số 79 là lần đầu tiên nội hàm của KTNN được xác định một cách cụ thể, toàn diện và có hệ thống. Nếu trước đây KTNN thường được hiểu chủ yếu thông qua khu vực DNNN thì với Nghị quyết số 79, phạm vi của KTNN đã được xác định rõ hơn trên cơ sở tiếp cận tổng thể các nguồn lực vật chất và công cụ kinh tế mà Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối.
Theo đó, nền tảng của KTNN bao gồm các nguồn lực quan trọng của quốc gia do Nhà nước nắm giữ, quản lý và điều tiết, với 9 thành tố chủ yếu, gồm: (1) Đất đai và tài nguyên; (2) Tài sản kết cấu hạ tầng; (3) Ngân sách nhà nước; (4) Dự trữ quốc gia; (5) Các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách; (6) Vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống; (7) Doanh nghiệp nhà nước; (8) Các tổ chức tín dụng nhà nước; (9) Các đơn vị sự nghiệp công lập.
Việc xác định rõ các thành tố cấu thành của KTNN có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Trước hết, điều này góp phần thống nhất nhận thức về phạm vi và nội hàm của KTNN, khắc phục cách hiểu chung chung trước đây khi KTNN thường chỉ được đồng nhất với khu vực DNNN. Đồng thời, cách tiếp cận này phản ánh đầy đủ hơn các nền tảng vật chất và các nguồn lực quan trọng mà Nhà nước đang nắm giữ và sử dụng để thực hiện vai trò điều tiết, định hướng và dẫn dắt sự phát triển của nền kinh tế. Trên cơ sở đó, việc làm rõ nội hàm của KTNN cũng tạo nền tảng quan trọng cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn lực công, bảo đảm các nguồn lực này được khai thác hợp lý, phát huy tối đa hiệu quả trong phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời phục vụ các mục tiêu bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế.
Cùng với việc xác định rõ nội hàm của KTNN, Nghị quyết số 79 còn thể hiện sự đổi mới quan trọng về tư duy phát triển KTNN, thông qua việc đặt ra các nguyên tắc mới trong quản lý, sử dụng và phát huy hiệu quả các nguồn lực của Nhà nước.
Thứ nhất, Nghị quyết số 79 khẳng định yêu cầu các nguồn lực của KTNN phải được hạch toán đầy đủ theo nguyên tắc thị trường, gắn với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời bảo đảm quốc phòng, an ninh. Đây là bước chuyển quan trọng trong tư duy quản lý nguồn lực công, từ cách tiếp cận hành chính sang tiếp cận theo cơ chế thị trường, bảo đảm các nguồn lực của Nhà nước được phân bổ và sử dụng hiệu quả hơn.
Thứ hai, Nghị quyết số 79 đặt ra yêu cầu thực hiện đánh giá tác động và phân tích lợi ích - chi phí xã hội đối với các hoạt động đầu tư từ nguồn lực vật chất của Nhà nước theo thông lệ quốc tế. Đây là một yêu cầu mang tính kỹ thuật nhưng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng các quyết định đầu tư công. Việc đánh giá đầy đủ cả chi phí và lợi ích trực tiếp, gián tiếp, ngắn hạn và dài hạn của các dự án đầu tư từ nguồn lực Nhà nước, bao gồm cả các yếu tố ngoại vi mà thị trường có thể chưa phản ánh đầy đủ, sẽ giúp Nhà nước lựa chọn những dự án mang lại lợi ích xã hội ròng cao nhất; đồng thời hạn chế tình trạng đầu tư dàn trải, kém hiệu quả hoặc thiên về lợi ích kinh tế ngắn hạn. Theo thông lệ quốc tế, đầu tư từ nguồn lực Nhà nước chỉ thực sự cần thiết trong những trường hợp khu vực tư nhân không làm hoặc không thể thực hiện hiệu quả.
Thứ ba, Nghị quyết số 79 nhấn mạnh yêu cầu tách bạch rõ ràng giữa việc sử dụng nguồn lực nhà nước để cung cấp hàng hóa, dịch vụ công và việc sử dụng nguồn lực đó cho các hoạt động kinh doanh. Việc tách bạch này giúp nâng cao tính minh bạch trong quản lý và sử dụng tài sản công, đồng thời tạo điều kiện để đánh giá chính xác hiệu quả sử dụng nguồn lực của Nhà nước. Mặt khác, đây cũng là cơ sở quan trọng để tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các khu vực kinh tế.
Thứ tư, Nghị quyết số 79 đã định vị lại vai trò của DNNN trong nền kinh tế. Nếu trước đây DNNN được coi là lực lượng vật chất chủ yếu của KTNN và thực hiện vai trò chủ đạo trên phạm vi rộng, thì với cách tiếp cận mới, DNNN được xác định là lực lượng vật chất quan trọng của KTNN, tập trung vào một số ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược của nền kinh tế. Trong đó, DNNN phải thực hiện vai trò tiên phong, kiến tạo và dẫn dắt phát triển, đặc biệt trong những lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi mô hình tăng trưởng của đất nước.
Trên cơ sở xác định rõ nội hàm và vai trò của KTNN, Nghị quyết số 79 đặt mục tiêu nâng cao hiệu quả, phát huy vai trò chủ đạo, tiên phong và định hướng chiến lược của KTNN trong những ngành, lĩnh vực then chốt, thiết yếu của nền kinh tế. KTNN không chỉ giữ vai trò nòng cốt trong bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh mà còn phải thực hiện chức năng dẫn dắt, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển, góp phần thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và nâng cao đời sống của nhân dân.
Đồng thời, một hệ thống giải pháp đồng bộ được đặt ra nhằm bảo đảm các định hướng phát triển được triển khai hiệu quả trong thực tiễn, với 07 nhóm giải pháp trọng tâm, tập trung vào: Đổi mới tư duy trong lãnh đạo, chỉ đạo; hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch; phân định rõ chức năng đại diện chủ sở hữu với chức năng quản lý nhà nước và chức năng kinh doanh; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm; tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, công bằng, minh bạch; xây dựng cơ chế khuyến khích và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; đồng thời tiếp tục đổi mới hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm toán theo hướng hiệu quả, minh bạch.
Có thể thấy, hệ thống giải pháp về phát triển KTNN tại Nghị quyết số 79 không chỉ tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn trong quản lý và sử dụng nguồn lực của Nhà nước mà còn hướng tới xây dựng khu vực KTNN hiện đại, hiệu quả, đủ năng lực thực hiện vai trò dẫn dắt và tạo động lực phát triển cho toàn bộ nền kinh tế.
3. Đưa Nghị quyết số 79-NQ/TW vào cuộc sống: Triển khai theo phương châm “6 rõ”
Ngay sau khi Nghị quyết số 79 của Bộ Chính trị về phát triển KTNN được
ban hành, Chính phủ đã khẩn trương cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu và giải pháp bằng việc ban hành Nghị quyết số 29/NQ-CP ngày 24/02/2026 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 79. Đây là bước triển khai quan trọng nhằm đưa Nghị quyết nhanh chóng đi vào thực tiễn, bảo đảm sự thống nhất trong tổ chức thực hiện từ Trung ương đến địa phương.
Chương trình hành động của Chính phủ đã xác định các mục tiêu triển khai rất rõ ràng và xuyên suốt. Trước hết, yêu cầu thể chế hóa đầy đủ, đồng bộ các chủ trương, chính sách tại Nghị quyết số 79, bảo đảm tính khả thi, tạo đột phá trong nâng cao hiệu quả phân bổ, sử dụng và khai thác nguồn lực nhà nước. Đặc biệt, Chương trình hành động nhấn mạnh việc bố trí nguồn lực tài chính và nhân sự cho các khâu đột phá; tập trung nguồn lực có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên cho những nhiệm vụ mang tính nền tảng và tạo hiệu ứng lan tỏa, tránh dàn trải, hình thức. Bên cạnh đó, các nhiệm vụ được xác định rõ ràng, gắn với phân công cụ thể cơ quan chủ trì, lộ trình thực hiện và sản phẩm đầu ra, bảo đảm mỗi nhiệm vụ đều có chủ thể chịu trách nhiệm, có mốc thời gian hoàn thành và kết quả có thể đo lường được, qua đó tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong tổ chức thực hiện.
Về các giải pháp nâng cao hiệu quả của KTNN, Chương trình hành động của Chính phủ xác định 09 nhiệm vụ chung và 99 nhiệm vụ cụ thể đối với 9 nhóm thành tố của KTNN. Các giải pháp được thiết kế bảo đảm bao quát cả phương diện nguồn lực và các chủ thể của khu vực KTNN, bao gồm: 18 nhiệm vụ về đất đai và tài nguyên; 03 nhiệm vụ về tài sản kết cấu hạ tầng; 04 nhiệm vụ về ngân sách nhà nước; 07 nhiệm vụ về dự trữ quốc gia; 05 nhiệm vụ về các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách; 01 nhiệm vụ liên quan đến vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống; 35 nhiệm vụ đối với DNNN; 14 nhiệm vụ đối với các tổ chức tín dụng nhà nước; và 12 nhiệm vụ đối với các đơn vị sự nghiệp công lập.
Các nhiệm vụ trong Chương trình hành động được xây dựng gắn với phân công trách nhiệm cụ thể, thời hạn hoàn thành rõ ràng theo phương châm “6 rõ”: Rõ người, rõ việc, rõ thời hạn, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm và rõ thẩm quyền. Theo đó, các bộ, ngành và địa phương được giao các nhiệm vụ cụ thể phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mình. Đơn cử như Bộ Tài chính được giao: (i) Nghiên cứu, hoàn thiện đồng bộ chính sách về quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng do Nhà nước đầu tư, quản lý; (ii) Xây dựng lộ trình triển khai các sắc thuế mới liên quan đến tài sản, phát thải carbon; (iii) Hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu về nợ công có tính kết nối giữa Trung ương và địa phương; (iv) Xây dựng và triển khai quy hoạch, kế hoạch phát triển hệ thống kho dự trữ quốc gia theo hướng hiện đại, thông minh; (v) Nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật về quản lý, đầu tư vốn nhà nước, ngân sách và thuế nhằm tạo cơ chế cho DNNN sử dụng hiệu quả nguồn lực, nhất là nguồn thu từ cổ phần hóa, thoái vốn; (vi) Hoàn thiện cơ chế giám sát, đánh giá, xếp loại DNNN gắn với thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; (vii) Bổ sung quy định về đánh giá hiệu quả doanh nghiệp theo chuẩn mực quốc tế và hạch toán tách bạch nhiệm vụ kinh doanh với nhiệm vụ chính trị, công ích; (viii) Nghiên cứu cơ chế thưởng gắn với lợi nhuận vượt kế hoạch của doanh nghiệp; (ix) Xây dựng Nghị định về cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính của SCIC, hướng tới hình thành quỹ đầu tư quốc gia; (x) Nghiên cứu, đề xuất mô hình hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam sau cơ cấu lại; (xi) Xây dựng tiêu chí chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập thành doanh nghiệp 100% vốn nhà nước…
Trên cơ sở Chương trình hành động của Chính phủ, các bộ, ngành được giao chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị và ban hành trong quý II/2026. Bộ Tài chính là một trong những cơ quan sớm ban hành Chương trình hành động để triển khai thực hiện, với việc ban hành Quyết định số 419/QĐ-BTC ngày 06/3/2026 về Chương trình hành động của Bộ Tài chính thực hiện Nghị quyết số 29/NQ-CP của Chính phủ, qua đó cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ của Nghị quyết số 79.
Năm 2026 là năm đầu tiên của nhiệm kỳ mới, do đó đòi hỏi tăng tốc cải cách để tạo đà phát triển cho cả giai đoạn. Vì vậy, cần triển khai các nhiệm vụ tại Nghị quyết số 79 một cách nhanh chóng, bài bản, thực chất, lấy hiệu quả thực tế làm tiêu chí đánh giá. Trong đó, chú trọng các nhiệm vụ trọng tâm sau:
Một là, kịp thời thể chế hoá đầy đủ các chủ trương, chính sách nêu tại Nghị quyết và bố trí đủ nguồn lực để triển khai.
Hai là, thực hiện đột phá về cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; bảo đảm công bằng, minh bạch cho các khu vực kinh tế trong khai thác và sử dụng nguồn lực quốc gia. Xây dựng đề án phát triển DNNN quy mô lớn, giữ vai trò kiến tạo, dẫn dắt trong các ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược.
Ba là, đề cao kỷ luật thực thi gắn với trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân; lập bộ chỉ số theo dõi, đánh giá định kỳ.
Bốn là, đẩy mạnh công tác thông tin, truyền thông bảo đảm đồng thuận xã hội.
4. Kết luận
Có thể thấy, những định hướng và giải pháp tại Nghị quyết số 79 đã mở ra tiền đề quan trọng để phát huy vai trò của KTNN trong giai đoạn phát triển mới. Tuy nhiên, để Nghị quyết số 79 thực sự đi vào cuộc sống, điều quan trọng không chỉ dừng lại ở việc ban hành chủ trương, kế hoạch mà phải lấy kết quả thực thi làm thước đo hiệu quả. Điều này đòi hỏi quá trình tổ chức triển khai phải được thực hiện một cách quyết liệt, đồng bộ, gắn với phân công trách nhiệm rõ ràng và cơ chế giám sát chặt chẽ.
Trước hết, các bộ, ngành và địa phương cần chủ động rà soát, tích hợp nội dung của Nghị quyết với các chương trình, kế hoạch phát triển đã và đang triển khai, từ đó xây dựng và hoàn thiện các kế hoạch hành động cụ thể phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị. Trong quá trình thực hiện, vai trò và trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và cơ quan quản lý nhà nước cần được đề cao, đồng thời ưu tiên bố trí nguồn lực tài chính và nhân lực chất lượng cao để triển khai hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm, đột phá.
Cùng với đó, cần tăng cường cơ chế theo dõi, giám sát và đánh giá việc thực hiện thông qua hệ thống quản lý và báo cáo hiện đại, bảo đảm các nhiệm vụ được triển khai đúng tiến độ và đạt hiệu quả thực chất. Các cơ quan, đơn vị trong quá trình tổ chức thực hiện cũng cần chủ động phát hiện những điểm nghẽn về cơ chế, chính sách, kịp thời kiến nghị cấp có thẩm quyền để điều chỉnh, hoàn thiện các giải pháp phù hợp với yêu cầu thực tiễn.
Đồng thời, cần đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về nội dung và ý nghĩa của Nghị quyết số 79, qua đó tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động trong toàn hệ thống chính trị, cũng như sự đồng thuận của cộng đồng doanh nghiệp và xã hội trong quá trình triển khai các chủ trương phát triển KTNN.
Có thể khẳng định rằng, việc triển khai hiệu quả Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 79 là nền tảng quan trọng để khu vực KTNN tiếp tục phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, góp phần tạo lập các cân đối lớn, thúc đẩy tăng trưởng và bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô. Đồng thời, quá trình này cũng góp phần củng cố các nguồn lực nội sinh, nâng cao năng lực quản trị và sức cạnh tranh của nền kinh tế, hướng tới mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
ThS. Đoàn Thị Kim Dung - Phó Viện trưởng
Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính
Nguồn: Trung tâm Thông tin kinh tế, tài chính và thống kê
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển KTNN.
2. Chính phủ (2026), Nghị quyết số 29/NQ-CP ngày 24/02/2026 của Chính phủ về ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển KTNN.
3. Bộ Tài chính (2026), Quyết định số 419/QĐ-BTC ngày 06/3/2026 của Bộ Tài chính về Chương trình hành động của Bộ Tài chính thực hiện Nghị quyết số 29/NQ-CP ngày 24/02/2026 của Chính phủ.