Đề tài: Xây dựng mô hình hệ thống thông tin báo cáo của Bộ Tài chính

20/01/2026 09:39


1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Trong bối cảnh chuyển đổi số, việc áp dụng thông tin và báo cáo điện tử mang lại những thay đổi tích cực, quan trọng về hiệu quả hoạt động, tính minh bạch và sự chính xác trong công tác quản lý. Đây là một trong những yếu tố quan trọng  giúp mọi tổ chức, cá nhân, đặc biệt là trong cơ quan hành chính nhà nước thay đổi phương thức, cách thức làm việc theo hướng giảm thiểu quy trình, thủ tục, đơn giản hóa thủ tục hành chính, rút gọn thời gian xử lý công việc, tiết kiệm chi phí và thơi gian, cung cấp số liệu chính xác, hiệu quả trong công tác quản lý, điều hành.

Ngày 24/01/2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 09/2019/NĐ-CP quy định về chế độ báo cáo của cơ quan hành chính nhà nước, trong đó Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương tổ chức, xây dựng, quản lý và vận hành hệ thống thông tin báo cáo (HTTTBC), đảm bảo tích hợp, kết nối và chia sẻ dữ liệu với HTTTBC quốc gia. Trong những năm qua, Bộ Tài chính cũng đã đẩy mạnh triển khai HTTTBC, trong đó điển hình một số hệ thống cốt lõi Bộ Tài chính đã triển khai như Kho dữ liệu ngân sách nhà nước, Hệ thống quản lý ngân sách và Kho bạc (TABMIS), Hệ thống quản lý thuế tập trung (TMS), Hệ thống quản lý tài sản công, Hệ thống quản lý nợ (DMFAS)… Tuy nhiên, thực tế triển khai cũng còn nhiều hạn chế, mất nhiều thời gian để triển khai, trong khi công nghệ thông tin (CNTT) là một lĩnh vực cần phải thực hiện triển khai trong một thời gian “rất ngắn” để đáp ứng yêu cầu thay đổi trong các hoạt động đời sống, kinh tế - xã hội và đáp ứng sự thay đổi về giải pháp, công nghệ số. Do đó, việc nghiên cứu đề tài: “Xây dựng mô hình HTTTBC của Bộ Tài chính” nhằm đề xuất giải pháp, mô hình để chuẩn hóa, thiết lập lại quy trình thực hiện báo cáo, thay đổi phương thức báo cáo giấy sang báo cáo điện tử có ý nghĩa và cần thiết, tiến tới việc thay đổi phương thức làm việc, phương thức chỉ đạo, điều hành của các cấp lãnh đạo trên môi trường số.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu đề xuất giải pháp xây dựng mô hình Hệ thống thông tin báo cáo của Bộ Tài chính đến năm 2030 nhằm hỗ trợ tổng hợp báo cáo từ cấp dưới lên cấp trên và kết nối với HTTTBC Chính phủ, bảo đảm tính pháp lý của các báo cáo điện tử, hệ thống có khả năng đáp ứng khi chế độ báo cáo, biểu mẫu báo cáo thay đổi chi tiêu hoặc thay đổi chế độ theo yêu cầu của Chính phủ, Bộ Tài chính.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Mô hình HTTTBC của Bộ Tài chính.

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu, đánh giá cơ sở lý luận và thực tiễn về HTTTBC trong cơ quan hành chính nhà nước; khảo sát, phân tích thực trạng hạ tầng CNTT CSDL, nền tảng kết nối và chế độ báo cáo của Bộ Tài chính giai đoạn 2019 - 2024. Từ đó đề xuất mô hình HTTTBC của Bộ Tài chính, định hướng triển khai đến năm 2030.

4. Kết quả nghiên cứu

(1) Đề tài đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về mô hình HTTTBC, đưa ra khái niệm và phân tích làm rõ các nội hàm chế độ báo cáo, sự cần thiết, vai trò, yêu cầu đối với xây dựng HTTTBC. Theo đó, HTTTBC là một hệ thống thông tin có chức năng báo cáo, thu thập, tích hợp, chia sẻ dữ liệu và tổng hợp báo cáo của các cấp thực hiện chế độ báo cáo để phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của bộ, cơ quan và cung cấp số liệu theo yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền. Hệ thống thông tin báo cáo Bộ Tài chính phải đáp ứng việc thu thập, tổng hợp, phân tích 3 số liệu báo cáo và cung cấp số liệu để phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Lãnh đạo Bộ Tài chính và lãnh đạo các Vụ/Cục thuộc Bộ. Hệ thống thông tin báo cáo của Bộ Tài chính có vai trò đảm bảo tính kịp thời và chính xác trong việc cung cấp thông tin cho cấp trên; Giúp giám sát và đánh giá kết quả thực hiện các nhiệm vụ; Hỗ trợ tạo điều kiện cho việc ra quyết định chính sách phù hợp và đồng bộ; Thúc đẩy cải cách hành chính và nâng cao hiệu quả quản lý công; Đảm bảo tính minh bạch và công khai trong quản lý nhà nước. Việc xây dựng Hệ thống thông tin báo cáo của Bộ Tài chính cần tuân thủ các quy định sau: Nghị định số 09/2019/NĐ-CP ngày 24/01/2019, Công văn số 598/VPCP-KSTT, Quyết định số 2337/QĐ-BTTTT ngày 31/12/2019, Quyết định số 2303/QĐ-BTC ngày 27/9/2024, Quyết định số 585/QĐ-BTC ngày 03/4/2019, Quyết định số 2568/QĐ-BTTTT ngày 29/12/2023. Bên cạnh đó, chế độ báo cáo cần thực hiện triển khai theo Hệ thống thông tin báo cáo của Bộ Tài chính gồm: Chế độ báo cáo định kỳ, chế độ báo cáo chuyên đề và chế độ báo cáo đột xuất. Chế độ báo cáo trong cơ quan nhà nước có đặc điểm thường xuyên thay đổi nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, chuyển đổi số và tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước. Chế độ báo cáo trong cơ quan Nhà nước đa dạng về hình thức báo cáo như: Dạng bảng biểu, báo cáo bằng lời và báo cáo kết hợp cả lời và bảng biểu.

(2) Đề tài cũng đã nghiên cứu kinh nghiệm triển khai xây dựng mô hình HTTTBC tại một số Bộ, ngành, địa phương như Văn phòng Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN&PTNT), Bộ Tư pháp, Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội... và tại một số nước (Hàn Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ), từ đó đúc rút ra một số bài học như sau:

(i) Hệ thống của Văn phòng Chính phủ cơ bản có đầy đủ các thành phần theo hướng dẫn tại Nghị định số 09/2019/NĐ-CP, trong đó phần HTTTBC và hệ thống thông tin chỉ đạo điều hành kinh tế - xã hội là 02 hệ thống độc lập. Tuy nhiên, HTTTBC 26 của Chính phủ chưa có thành phần ký số để báo đảm số liệu các bộ, ngành, địa phương gửi về HTTTBC Chính phủ bảo đảm tính pháp lý, chịu trách nhiệm về số liệu báo cáo lên hệ thống của Chính phủ. 

(ii) Mô hình kiến trúc tổng thể HTTTBC của Bộ NN&PTNT cơ bản có đầy đủ các thành phần chính, tuân thủ mô hình kết nối, chia sẻ dữ liệu theo Kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam 3.0; Mô hình thể hiện rõ các quy trình nghiệp vụ về HTTTBC của Bộ NN&PTNT; tuy nhiên, mô hình mới tập trung vào thành phần báo cáo, chưa có thêm các thành phần phân tích số liệu, hỗ trợ công tác chỉ đạo, điều hành của Lãnh đạo Bộ NN&PTNT; hệ thống chưa sử dụng sử dụng ký số để xác minh rõ ràng người ký là ai để đảm bảo tính minh bạch trong giao dịch và bảo đảm tính pháp lý.

(iii) Về nghiệp vụ, HTTTBC gồm hai mảng chính là hệ thống thu thập, tổng hợp báo cáo và thông tin phục vụ phân tích số liệu báo cáo. Tuy nhiên HTTTBC của thành phố Hà Nội mới tập trung vào việc thu thập, tổng hợp báo cáo. Về CSDL, hệ thống sử dụng công nghệ Data Warehouse hỗ trợ phân tích dữ liệu đa chiều để đưa ra các thông tin có ý nghĩa. Công nghệ này đảm bảo dữ liệu được lưu trữ nhất quán và không bị trùng lặp. Tuy nhiên, Hê thống chưa sử dụng sử dụng ký số để xác minh rõ ràng người ký là ai để đảm bảo tính minh bạch trong giao dịch và bảo đảm tính pháp lý.

(iv) Bài học từ mô hình của Bộ Tài chính Hàn Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ cho thấy, Hàn Quốc đã triển khai hệ thống NTIS (National Tax Information System) là hệ thống đóng vai trò trung tâm trong việc tổng hợp, xử lý và phân tích dữ liệu thuế, giúp Chính phủ Hàn Quốc nâng cao hiệu quả quản lý thuế và tăng tính minh bạch. Tuy nhiên, chi phí triển khai, vận hành và nâng cấp hệ thống NTIS lớn, đòi hỏi đầu tư mạnh vào hạ tầng công nghệ, cần ngân sách lớn để bảo trì và cập nhật hệ thống thường xuyên nhằm đảm bảo an toàn và hiệu suất cao; NTIS lưu trữ khối lượng dữ liệu thuế khổng lồ, nếu bị tấn công mạng, có thể gây rò rỉ thông tin quan trọng. Theo đó, hệ thống cần bảo mật cực kỳ mạnh mẽ để ngăn chặn các cuộc tấn công mạng và lạm dụng dữ liệu. Đối với Nhật Bản, Hệ thống NTA ((National Tax Agency System) là một nền tảng quản lý thuế hiện đại, giúp tối ưu hóa quy trình thuế, giảm gánh nặng hành chính, hỗ trợ người nộp thuế và tăng cường tính minh bạch. Tuy nhiên, nó đòi hỏi đầu tư lớn, 31 có rủi ro về bảo mật và yêu cầu người dân, doanh nghiệp có kỹ năng sử dụng công nghệ. Đối với Hoa Kỳ, Hệ thống Báo Chính quyền Địa phương (LGRS Online) là một hệ thống báo cáo tài chính hiện đại, giúp chính quyền địa phương quản lý tài chính minh bạch và hiệu quả hơn. Tuy nhiên, hệ thống đòi hỏi đầu tư công nghệ cao, cần đảm bảo bảo mật và yêu cầu dữ liệu đầu vào chính xác. Để phát huy hiệu quả, chính quyền cần đào tạo nhân lực, nâng cấp bảo mật và đảm bảo chất lượng dữ liệu.

(3) Đề tài đã tổng kết, đánh giá được thực trạng ứng dụng CNTT của ngành Tài chính và thực trạng triển khai HTTTBC của Bộ Tài chính dựa trên một số khía cạnh: phần mềm ứng dụng; CSDL; kết nối, chia sẻ dữ liệu; hạ tầng kỹ thuật và an toàn thông tin. Hiện trạng hệ thống ứng dụng CNTT của Bộ Tài chính thể hiện sự phát triển mạnh mẽ và có tính hệ thống, góp phần quan trọng vào quá trình cải cách hành chính và chuyển đổi số. Bộ Tài chính đã xây dựng hệ thống trung tâm dữ liệu lớn, đảm bảo năng lực lưu trữ, xử lý và quản lý thông tin tập trung, an toàn và hiệu quả. Hệ thống mạng hạ tầng truyền thông kết nối từ Trung ương đến các địa phương, đáp ứng yêu cầu kết nối liên thông, truyền tải dữ liệu ổn định và xử lý thông tin liên tục. Bộ Tài chính cũng chú trọng triển khai các giải pháp bảo mật tiên tiến, tăng cường giám sát và phòng ngừa rủi ro an ninh mạng, bảo vệ an toàn dữ liệu và hệ thống. Mỗi ứng dụng, CSDL là một hệ thống tác nghiệp độc lập, phục vụ một hoặc một số nghiệp vụ nhất định và tương ứng với một hoặc một số chế độ báo cáo. Do đó, việc xây dựng HTTTBC của Bộ Tài chính cần tích hợp với nguồn dữ liệu của các ứng dụng, CSDL đã tin học hóa chế độ báo cáo, bảo đảm kế thừa dữ liệu và hạn chế trùng lặp báo cáo theo quy định. Bên cạnh đó, chữ ký số là thành phần bắt buộc khi triển khai hệ thống thông tin báo cáo. Hiện tại, Bộ Tài chính đã triển khai giải pháp ký số HSM cho Hệ thống quản lý văn bản và điều hành. Vì vậy, HTTTBC của Bộ Tài chính có thể tận dụng giải pháp ký số HSM hiện có, đồng thờicác cán bộ lãnh đạo đã được phát Token hoặc SIM ký số (từ xa) cho hệ thống Văn bản điều hành có thể tiếp tục được sử dụng thống nhất cho HTTTBC của Bộ Tài chính.

Bên cạnh một số kết quả đạt được, việc triển khai các hệ thống CNTT có chức năng báo cáo tại Bộ Tài chính vẫn tồn tại một số hạn chế và nguyên nhân. Việc xây dựng các biểu mẫu báo cáo hiện nay chủ yếu được thực hiện bằng cách lập trình trực tiếp các chức năng cho phần mềm (code) theo yêu cầu riêng, tạo ra các báo cáo "tĩnh". Do đó, khi có sự thay đổi về chính sách, sự thay đổi về yêu cầu biểu mẫu báo cáo, Bộ Tài chính sẽ phải nâng cấp, chỉnh sửa hoặc thêm bớt chức năng phần mềm, gây phát sinh chi phí và làm giảm tính linh hoạt. Bên cạnh đó, hầu hết các hệ thống CNTT trong ngành Tài chính là hệ thống tác nghiệp và hệ thống quản lý, điều hành nội bộ. Dữ liệu phục vụ công tác điều hành chủ yếu phát sinh từ các hoạt động tác nghiệp (như việc người dân doanh nghiệp đến xử lý thủ tục hành chính để nộp thuế, thông quan ...) hay từ cán bộ tại các đơn vị cấp dưới nhập dữ liệu lên để hình thành các báo cáo tổng hợp. Tuy nhiên, các báo cáo trên hệ thống CNTT, bao gồm cả báo cáo gốc và báo cáo tổng hợp chưa có giá trị pháp lý khi gửi ra bên ngoài, mà chỉ phục vụ công tác quản lý, điều hành nội bộ. Trên thực tế, các đơn vị nghiệp vụ vẫn phải hiệu chỉnh và kết xuất báo cáo tổng hợp cuối cùng từ phần mềm thành bản giấy để trình lãnh đạo đơn vị ký và đóng dấu đỏ trước khi báo cáo lên cấp cao hơn. Điều này, cho thấy các hệ thống hiện tại chưa điện tử hóa hoàn toàn, hay nói cách khác là chưa đơn vị nghiệp vụ nào sử dụng báo cáo điện tử (có ký số) thay cho báo cáo giấy. Ngoài ra, Bộ Tài chính đã bắt đầu triển khai các công cụ phân tích dữ liệu lớn (Big Data, DataWareHouse). Tuy nhiên, việc phân tích và xử lý dữ liệu mới dừng ở mức đơn giản là đưa ra các dashboard đa chiều; và chỉ mới bắt đầu tiếp cận công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) để hỗ trợ dự báo tài chính, phân tích ngân sách và ra quyết định quản lý.

(3) Đề tài đã phân tích làm rõ bối cảnh mới đặt ra, quan điểm, chủ trương xây dựng HTTTBC của Bộ Tài chính trên môi trường số; cũng như chỉ ra những thách thức, khó khăn trong việc xây dựng mô hình HTTTBC của Bộ Tài chính. Đề tài đã nghiên cứu, đề xuất và đưa ra giải pháp xây dựng mô hình HTTTBC của Bộ Tài chính trên cơ sở nghiên cứu, luận giải định hướng của Bộ Chính trị, Chính phủ, Bộ Tài chính. Để các kết quả nghiên cứu mô hình HTTTBC của Bộ Tài chính có thể tổ chức thực hiện thành công trong thực tế, nhóm đề tài có một số đề xuất kiến nghị như sau: 

(i) Đề xuất mô hình nghiệp vụ HTTTBC: Kiến trúc nghiệp vụ HTTTBC Bộ Tài chính gồm 03 mảng chính: Thu thập, tổng hợp báo cáo định kỳ; cung cấp bộ chỉ số (KPI) phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành; hỗ trợ giao nhiệm vụ. Việc bổ sung mảng hỗ trợ giao nhiệm vụ giúp rút ngắn quy trình giao việc, phân bổ hiệu quả, theo dõi tiến độ minh bạch, tăng tương tác và nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành.

 (ii) Đề xuất mô hình kiến trúc tổng thể HTTTBC của Bộ Tài chính, gồm: Người dùng hệ thống; kênh giao tiếp nền tảng Web và Mobile lớp nghiệp vụ; lớp ứng dụng; nền tảng kết nối chia sẻ dữ liệu; lớp cơ sở dữ liệu; lớp hạ tầng; lớp an toàn bảo mật và lớp chính sách phục vụ triển khai và vận hành hệ thống.

(iii) Đề xuất mô hình về ứng dụng: Kiến trúc SOA (Service-Oriented Architecture) và Microservices là xu hướng phát triển phần mềm hiện nay, giúp tăng tính linh hoạt, khả năng mở rộng và tối ưu hóa hiệu quả hoạt động; đồng thời cho phép chia nhỏ hệ thống thành các dịch vụ độc lập, dễ bảo trì và có khả năng tái sử dụng. Nếu coi việc chỉnh sửa, cấu hình một biểu mẫu báo cáo là một dịch vụ, hoặc mỗi một nghiệp vụ trong công tác báo cáo là một dịch vụ, thì kiến trúc MicroService sẽ đáp ứng tốt yêu cầu thay đổi từng dịch vụ mà không ảnh hưởng đến các dịch vụ khác. Do đó, nhóm nghiên cứu đề xuất lựa chọn kiến trúc MicroService làm kiến trúc chủ đạo trong xây dựng, phát triển HTTTBC của Bộ Tài chính.

(iv) Đề xuất mô hình về CSDL: Mô hình dữ liệu đề xuất sử dụng giải pháp Data Warehouse, đóng vai trò là kho lưu trữ và tổng hợp dữ liệu từ nhiều nguồn, phục vụ phân tích, báo cáo và hỗ trợ ra quyết định. Việc áp dụng mô hình này giúp đảm bảo tính nhất quán dữ liệu, tăng khả năng khai thác thông tin đa chiều và đáp ứng hiệu quả các yêu cầu về báo cáo, phân tích xu hướng, dự báo và hoạch định chiến lược. 

(v) Đề xuất mô hình về ký số: Hệ thống ký số của HTTTBC Bộ Tài chính cần đảm bảo dữ liệu được mã hóa an toàn, chỉ người được ủy quyền mới có quyền truy cập, nội dung không bị thay đổi và tuân thủ quy định pháp luật. Mô hình ký số đề xuất gồm 03 thành phần: Máy chủ ứng dụng hệ thống báo, máy chủ cung cấp dịch vụ ký số và máy chủ xác thực ký số, thông qua 03 hình thức gồm USB Token, Sim PKI và HSM. 

(vi) Tiếp tục hoàn thiện thể chế chính sách: Các Vụ/Cục thuộc Bộ Tài chính cần tiếp tục rà soát các văn bản, cơ chế chính sách đã ban hành để kịp thời cập nhật, bổ sung, bảo đảm chế độ báo cáo định kỳ của Bộ Tài chính theo hướng dẫn của Nghị định 09/2019/NĐ-CP, tạo thuận lợi cho công tác tổng hợp báo cáo từ cấp dưới lên cấp trên bằng HTTTBC. 

(vii) Hoàn thiện và phát triển dữ liệu đầu vào phục vụ kết nối, chia sẻ dữ liệu đến HTTTBC của Bộ Tài chính: Hệ thống thông tin báo cáo của Bộ Tài chính cần thu thập nguồn dữ liệu đầu vào đầy đủ, chính xác và cập nhật liên tục, trong đó dữ liệu tối thiểu 5 năm để phục vụ việc phân tích, cảnh báo hiệu quả, hỗ trợ cho công tác điều hành, ra quyết định của các cấp lãnh đạo của Bộ Tài chính và đáp ứng cả báo cáo định kỳ lẫn đột xuất. 

(viii) Hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống thông tin báo cáo được xây dựng trên nền tảng Mobile, hỗ trợ rất hiệu quả cho công tác chỉ đạo, điều hành từ xa, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số và mô hình làm việc linh hoạt hiện nay. Theo đó, Cục Tin học và Thống kê tài chính (nay là Cục Công nghệ thông tin và Chuyển đổi số) cần đề xuất cấp có thẩm quyền trang bị máy tính bảng cho Lãnh đạo Bộ, lãnh đạo các Vụ/Cục để khai thác dữ liệu và báo cáotrên nền tảng di động, bảo đảm khả năng truy cập, theo dõi và xử lý thông tin mọi lúc, mọi nơi.

(ix) Nền tảng kết nối, chia sẻ dữ liệu: Việc triển khai HTTTBC Bộ Tài chính cần sự phối hợp chặt chẽ với các bên liên quan trong việc kết nối, chia sẻ dữ liệu. Do việc trao đổi dữ liệu giữa các hệ thống trở nên phức tạp, Cục Công nghệ thông tin và Chuyển đổi số cần xâu dựng và triển khai nền tảng kết nối chia sẻ dữ liệu ngành Tài chính, nhằmđảm bảo quản lý hiệu quả các nguồn dữ liệu, duy trì kết nối, chia sẻ dữ liệu đến HTTTBC của Bộ Tài chính. 

(x) Đảm bảo về an toàn thông tin: Để đảm bảo an toàn thông tin, cần thường xuyên rà soát, cập nhật Quy chế an toàn thông tin mạng, an ninh mạng Bộ Tài chính; thực hiện kiểm tra, đánh giá an toàn thông tin theo quy định. HTTTBC của Bộ Tài chính được xây dựng với mục tiêu thay thế báo cáo giấy bằng báo cáo điện tử có giá trị pháp lý tương đương Theo đó, Cục Công nghệ thông tin và Chuyển đổi số cần triển khai hệ thống ký số tập trung cho các ứng dụng để bảo đảm thống nhất, đồng bộ và an toàn trong toàn ngành Tài chính.

(xi) Phát triển nguồn nhân lực: Cán bộ quản trị HTTTBC cần nghiên cứu, hiểu về quy trình nghiệp vụ báo cáo và phối hợp với cán bộ chuyên môn để kịp thời cấu hình, bổ sung các chế độ báo cáo mới. Đồng thời cần cần đào tạo, bồi dưỡng cán bộ CNTT về các công nghệ mới trong hệ thống thông tin báo cáo, như phân tích dữ liệu lớn (Big Data), AI.

5. Thông tin nghiệm thu và lưu trữ

- Nghiệm thu: Đề tài đã được Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu thông qua (Quyết định số 132/QĐ-BTC ngày 23/01/2025 của Bộ Tài chính về việc thành lập Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ KHCN cấp Bộ năm 2024).

- Lưu trữ: Đề tài được đóng quyển, lưu trữ tại Thư viện Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính./.

ThS. Phan Minh Duy

Cục Công nghệ thông tin và Chuyển đổi số