Đề tài: Hoàn thiện hệ thống pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý chuyên ngành đối với hàng hóa nhập khẩu
17/01/2026 09:19
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Những năm gần đây, kinh tế thế giới ngày càng phát triển mạnh mẽ cả chiều rộng lẫn chiều sâu, sự phụ thuộc nhau tăng lên và cạnh tranh ngày càng gay gắt. Toàn cầu hóa kinh tế vừa tạo ra thời cơ, vừa đặt ra không ít thách thức cho mỗi quốc gia, dân tộc trong phát triển. Đối với Việt Nam, thông qua chính sách tích cực và chủ động hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa kinh tế tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam tranh thủ tốt “ngoại lực” phục vụ cho mục tiêu, yêu cầu phát triển nhanh và bền vững. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của trào lưu bảo vệ mậu dịch nội địa và xu hướng chính sách hướng tới người dân, các nước trong khu vực và trên thế giới đã có những chính sách thay đổi lớn như: “Chiến tranh thương mại” bằng cách gia tăng thuế suất đối với mặt hàng nhập khẩu, áp dụng hàng rào kỹ thuật để bảo hộ sản xuất trong nước trong hoạt động thương mại. Bên cạnh đó, Việt Nam vẫn là một quốc gia đang phát triển, đối mặt với nhiều nguy cơ liên quan đến chất lượng hàng hóa nhập khẩu, đặc biệt khi nền kinh tế mở cửa và hội nhập quốc tế sâu rộng. Các nguy cơ này có thể ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, sự phát triển bền vững của nền kinh tế và uy tín quốc gia trong các giao dịch thương mại quốc tế. Nhu cầu sử dụng hàng hóa giá rẻ, chất lượng thấp cũng là nguy cơ tiềm ẩn. Các sản phẩm nhập khẩu từ các quốc gia có chi phí sản xuất thấp nhưng chất lượng kém có thể làm giảm giá trị của ngành sản xuất trong nước. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng mà còn làm suy yếu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nội địa. Do đó, tình trạng hàng hóa từ các nước bị áp thuế suất cao sẽ tìm cách chuyển tải bất hợp pháp vào Việt Nam dự báo sẽ gia tăng, cả số lượng và độ phức tạp các vi phạm trong quản lý chuyên ngành (QLCN) đối với hàng hóa nhập khẩu như: Hàng hóa giả mạo và vi phạm quyền sở hữu trí tuệ; trốn thuế, buôn lậu; hàng hóa không đáp ứng tiêu chuẩn an toàn và chất lượng; tình trạng buôn bán hàng cấm xuyên biên giới. Các vi phạm này xảy ra ở hầu hết các khâu nghiệp vụ hải quan (trước, trong và sau thông quan).
Thời gian qua, để xử lý các vi phạm bằng chế tài hành chính, Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật như: Luật Xử lý vi phạm hành chính (VPHC) và các văn bản hướng dẫn thi hành. Đối với các VPHC liên quan đến QLCN đối với hàng hóa nhập khẩu, Chính phủ đã ban hành trên 20 văn bản Nghị định quy định xử phạt VPHC trong hoạt động QLCN của các bộ, ngành, trong đó có giao thẩm quyền xử phạt cho cơ quan hải quan. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng các văn bản này đã phát sinh các vướng mắc từ quy định của văn bản hoặc từ việc tổ chức thực hiện. Mặt khác, các định hướng về việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động kiểm tra chuyên ngành đảm bảo quản lý chặt chẽ, đúng quy định pháp luật đối với hàng hóa nhập khẩu, góp phần đảm bảo an ninh quốc gia, an toàn kinh tế ngày càng rõ nét. Trước yêu cầu về đổi mới, tinh gọn bộ máy đảm bảo hoạt động “Hiệu năng - Hiệu lực - Hiệu quả”, thực trạng công tác xử phạt VPHC trong lĩnh vực QLCN và yêu cầu đổi mới trong quản lý hoạt động này, việc nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện hệ thống pháp luật về xử phạt VPHC trong lĩnh vực QLCN đối với hàng hóa nhập khẩu” là cần thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng, đề tài đề xuất những giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật về xử phạt VPHC trong lĩnh vực QLCN đối với hàng hóa nhập khẩu.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Xử phạt VPHC trong lĩnh vực QLCN đối với hàng hóa nhập khẩu.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu xử phạt VPHC đối với hàng hóa nhập khẩu trong 09 lĩnh vực QLCN giai đoạn 2013 - 2024 khi Luật Xử lý VPHC có hiệu lực.
4. Kết quả nghiên cứu
(1) Đề tài đã hệ thống hóa lý luận chung về hệ thống pháp luật xử phạt VPHC trong lĩnh vực QLCN đối với hàng hóa nhập khẩu. Theo đó, VPHC là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt VPHC”. Xử phạt VPHC là việc người có thẩm quyền căn cứ vào các văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) quy định về thẩm quyền xử phạt, đối tượng vi phạm, hành vi vi phạm (HVVP), hình thức xử phạt, thủ tục xử phạt hành chính để ban hành quyết định xử phạt áp dụng đối với cá nhân, tổ chức VPHC. Trong khi đó, QLCN đối với hàng hóa nhập khẩu bao gồm hoạt động quản lý hành chính và hoạt động quản lý bằng hàng rào kỹ thuật. Hệ thống pháp luật về xử phạt VPHC trong lĩnh vực QLCN đối với hàng hóa nhập khẩu là tổng thể các văn bản QPPL do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, quy định nội dung xử phạt VPHC. Theo đó, nội dung của hệ thống pháp luật về xử phạt VPHC trong QLCN đối với hàng hóa nhập khẩu bao gồm các văn bản QPPL liên quan đến xử phạt VPHC chung và văn bản QPPL liên quan đến xử phạt VPHC trong các lĩnh vực QLCN. Do vậy, hệ thống pháp luật xử phạt VPHC trong lĩnh vực QLCN đối với hàng hóa nhập khẩu có tính thống nhất, hài hòa phù hợp. Hệ thống pháp luật về xử phạt VPHC trong các lĩnh vực QLCN đối với hàng hóa nhập khẩu cần đáp ứng các yêu cầu sau: (i) Phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và sự tương thích, thống nhất, đồng bộ với các văn bản quy phạm khác trong hệ thống pháp luật; (ii) Phù hợp với các điều ước và cam kết quốc tế nhằm đảm bảo các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, đầu tư vào trong nước và đầu tư ra nước ngoài được thực hiện một cách thuận lợi và tuân thủ với quy định của pháp luật; (iii) Thống nhất, đồng bộ, khả thi, nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả; (iv) Phù hợp với yêu cầu định hướng sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của Chính phủ; (v) Phù hợp với sự phát triển của kinh tế - xã hội.
(2) Đề tài đã nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia như: Trung Quốc và Hàn Quốc về pháp luật xử phạt VPHC và QLCN đối với hàng hóa nhập khẩu. Qua nghiên cứu, các nước đều chú trọng việc xây dựng và hoàn thiện các văn bản QPPL quốc gia trên cơ sở tuân thủ đầy đủ các quy định quốc tế. Trung Quốc và Hàn Quốc đều có Luật Quản lý quản lý hoạt động xuất nhập khẩu (XNK) hàng hóa. Tại Trung Quốc, có các Luật Chuyên ngành quy định về chính sách quản lý hàng hóa nhập khẩu nhưng tập trung ở một số văn bản chính như: Luật Hải quan, Luật An toàn thực phẩm, Luật về bảo vệ môi trường,… Việc QLCN đối với hàng hóa XNK được quy định trong Luật Ngoại thương Trung Quốc. Luật này được ban hành năm 1994 và được sửa đổi năm 2004 nhằm điều chỉnh hoạt động ngoại thương, đồng thời quy định các nguyên tắc quản lý là Nhà nước cho phép xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa và công nghệ tự do trừ những loại hàng, mặt hàng cụ thể mà pháp luật cấm. Trong hệ thống pháp luật Hàn Quốc, những luật quy định chính sách quản lý cũng tương đối nhiều, nhưng lại bao gồm những quy định cụ thể về VPHC và hình thức xử lý. Những quy định về HVVP, các hình thức xử phạt tương ứng thường được quy định ngay trong Luật chuyên ngành, sau những điều khoản quy định về chính sách quản lý đối với mặt hàng. Việc quản lý hoạt động XNK hàng hóa của Hàn Quốc được quy định tại Luật Ngoại thương năm 1987, sửa đổi năm 1995 và năm 2010. Về quản lý hàng hóa nhập khẩu thuộc diện QLCN Hàn Quốc áp dụng phương pháp quản lý rủi ro trên cơ sở phân tích thông tin về doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa. Qua nghiên cứu kinh nghiệm của Trung Quốc và Hàn Quốc, đề tài đã rút ra 05 bài học kinh nghiệm như: (i) Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động pháp luật xử phạt VPHC và QLCN đối với hàng hóa nhập khẩu cần sớm xây dựng và hoàn thiện hệ thống các quy định pháp luật quốc gia đầy đủ, rõ ràng, tuân thủ đúng các quy định của quốc tế về lĩnh vực này; (ii) Xác định cơ quan hải quan là cơ quan có thẩm quyền chủ yếu trong việc thực việc xử phạt đối với hàng hóa nhập khẩu vi phạm chính sách quản lý của nhà nước, các cơ quan khác đóng vai trò hỗ trợ thông qua việc thiết lập các chính sách và quy định liên quan; (iii) Khi xây dựng các văn bản pháp luật về xử phạt VPHC đối với hàng hóa nhập khẩu trong lĩnh vực QLCN, vừa đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc chung về xác định VPHC, về thẩm quyền, hình thức, thủ tục xử phạt, vừa phải tính đến các đặc thù đối với ngành, lĩnh vực, mặt hàng cụ thể; (iv) Để QLCN đối với hàng hóa XNK hiệu quả và nâng cao công tác xử phạt VPHC trong các lĩnh vực QLCN cần có sự quan tâm và chỉ đạo thường xuyên, chặt chẽ của chính phủ, sự quyết tâm của Bộ Tài chính, Cơ quan chuyên ngành cùng sự ủng hộ của các chủ thể có liên quan và doanh nghiệp tham gia; (v) Thực hiện minh bạch, công khai hóa thông tin trong hoạt động QLCN đối với hàng hóa XNK và công tác xử phạt VPHC, các nội dung được phép công khai liên quan đến xử phạt VPHC cần được thực hiện thường xuyên, dưới nhiều hình thức khác nhau để truyền tải thông tin nhanh chóng, đầy đủ, rõ ràng đến các doanh nghiệp XNK, tạo sự đồng thuận giữa Hải quan - Doanh nghiệp.
(3) Đề tài đã phân tích thực trạng hệ thống pháp luật về xử phạt VPHC trong lĩnh vực QLCN đối với hàng hóa nhập khẩu như: An toàn thực phẩm; chất lượng sản phẩm, hàng hóa, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, đo lường; bảo vệ môi trường; thú y, chăn nuôi; giống cây trồng, bảo vệ và kiểm dịch thực vật; y tế; thủy sản; hóa chất và vật liệu nổ công nghiệp; sở hữu trí tuệ. Nhìn chung, hệ thống các văn bản quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực QLCN được cơ bản hoàn thiện sau khi Luật Xử lý VPHC được thông qua. Chính phủ đã ban hành 23 Nghị định quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực QLCN. Các nghị định này được ban hành kịp thời, theo nguyên tắc quy định tại Luật Xử lý VPHC, các HVVP được rà soát thay thế, sửa đổi, bổ sung phù hợp với quy định pháp luật chuyên ngành và phù hợp thực tiễn. Đồng thời, hệ thống các văn bản quy định về xử phạt VPHC đã giúp công tác thi hành pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh vực QLCN từng bước được kiện toàn, hoạt động ổn định. Các vụ việc vi phạm cơ bản được phát hiện và xử lý kịp thời, theo đúng trình tự, thủ tục xử phạt pháp luật quy định, xử lý đúng người, đúng HVVP, cơ bản đáp ứng yêu cầu công tác quản lý nhà nước. Tuy nhiên, việc xử phạt VPHC hiện nay còn những hạn chế, vướng mắc như: Hệ thống văn bản QPPL về xử phạt VPHC trong lĩnh vực QLCN chưa tinh gọn, chưa thực sự khoa học, thống nhất và đồng bộ; Một số quy định của Luật Xử lý VPHC chưa cụ thể, dẫn đến khó áp dụng hoặc áp dụng không thống nhất, chưa phù hợp với thực tiễn như: chưa có quy định cụ thể về thủ tục, nội dung, biểu mẫu, những trường hợp phải sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành mới quyết định xử phạt, vướng mắc về trong quy định về thẩm quyền tịch thu tang vật,... dẫn đến những khó khăn, lúng túng trong triển khai áp dụng, không bảo đảm tính kịp thời, nhanh chóng trong việc xử phạt; Hệ thống pháp luật quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực QLCN đối với hàng hóa nhập khẩu vẫn còn những vướng mắc như: (i) Trường hợp tang vật là “lô hàng thủy sản không đảm bảo an toàn thực phẩm” thì vừa bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu, vừa bị áp dụng biện pháp khắc phụ hậu quả là buộc thay đổi mục đích sử dụng/tái chế/buộc tiêu hủy; (ii) Thẩm quyền xử phạt đối với HVVP kinh doanh hàng hóa đã quá hạn sử dụng dù giá trị hàng hóa và mức xử phạt nhỏ vẫn phải trình lên Cục trưởng Cục Hải quan để xử phạt, gây bất cập trong công tác xử lý; (ii) Việc áp dụng áp dụng biện pháp khắc phụ hậu quả “Buộc thu hồi hàng hóa và buộc ghi nhãn hàng hóa đúng quy định trước khi tiếp tục lưu thông” tại điểm a khoản 8 Điều 31 Nghị định số 119/2017/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung) chưa rõ ràng về thẩm quyền áp dụng do áp dụng biện pháp khắc phụ hậu quả; (iii) Một số HVVP quy định về nhập khẩu hàng cấm được quy định tại Nghị định xử phạt trong lĩnh vực hải quan và môi trường. Tuy nhiên, cơ quan hải quan không có thẩm quyền lập biên bản VPHC, ra xử phạt trong lĩnh vực môi trường dẫn đến khó khăn khi thực hiện xử phạt cùng một hành vi nhưng được quy định tại 02 Nghị định khác nhau và quy định mức phạt, thẩm quyền xử phạt khác nhau. Nguyên nhân của những hạn chế là do: Văn bản QPPL về QLCN rất lớn, nhiều nội dung khó, phức tạp, có ảnh hưởng rộng, nội dung liên quan đến nhiều cơ quan, nhiều lĩnh vực, tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp; tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ tham gia vào công tác xây dựng pháp luật, tổ chức thi hành pháp luật và theo dõi thi hành pháp luật về xử lý VPHC còn nhiều hạn chế; công tác phối hợp giữa các ngành, cơ quan chức năng trong xử phạt VPHC còn vướng mắc, bất cập do nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương chưa xây dựng được cơ chế phối hợp trong công tác xử phạt VPHC.
(4) Qua phân tích bối cảnh trong nước, quốc tế và định hướng về công tác quản lý chuyên ngành trong thời gian tới, đề tài đã đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật về xử phạt VPHC, cụ thể: (i) Cần quy hoạch lại hệ thống văn bản QPPL về xử phạt VPHC, đặc biệt là xử phạt VPHC liên quan đến QLCN đối với hàng hóa nhập khẩu, theo đó, có thể giảm số lượng Nghị định xử phạt VPHC các lĩnh vực hoặc xây dựng một nghị định xử phạt VPHC riêng quy định toàn bộ các HVVP quy định pháp luật thuộc lĩnh các vực QLCN đối với hàng hóa XNK; (ii) Hoàn thiện Luật Xử lý VPHC và các văn bản hướng dẫn theo hướng quy định rõ về biên bản VPHC, Hội đồng định giá, việc đính chính, sửa đổi, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định xử phạt VPHC; việc chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự; về thủ tục, thẩm quyền trưng cầu giám định trước khi lập biên bản VPHC; thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện VPHC; biểu mẫu trong xử phạt VPHC; (iii) Hoàn thiện các quy định về HVVP, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả trong các lĩnh vực QLCN, cụ thể: (1) Sửa đổi, bổ sung Điều 11 Nghị định số 115/2018/NĐ-CP theo hướng phân định rõ cách xử lý đối với các lô hàng thủy sản không đảm bảo an toàn thực phẩm. (2) Sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 12 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP: Trường hợp hàng hóa nhập khẩu không đạt chất lượng nhập khẩu thì cơ quan kiểm tra chất lượng thực hiện lập biên bản VPHC và xử phạt theo thẩm quyền, thông báo đến cơ quan hải quan về việc hàng hóa không đạt chất lượng nhập khẩu kèm Quyết định xử phạt VPHC; trường hợp cơ quan kiểm tra chất lượng không có thẩm quyền lập biên bản và xử phạt VPHC thì thông báo đến cơ quan hải quan kèm hồ sơ có liên quan để cơ quan hải quan xử phạt theo thẩm quyền; Tại Nghị định số 98/2020/NĐ-CP, Nghị định số 17/2022/NĐ-CP, cần bổ sung nguyên tắc đối với HVVP hàng hóa nhập khẩu là hàng cấm nhập khẩu nhưng không do cơ quan hải quan phát hiện trong địa bàn hoạt động hải quan thì được áp dụng Nghị định xử phạt trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng để xử phạt; Bổ sung quy định thế nào là “tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định pháp luật” để người có thẩm quyền xác định trị giá tang vật, phương tiện VPHC để xem xét xử phạt VPHC theo quy định tại Điều 30, 31 Nghị định số 119/2017/NĐ-CP. (3) Cần thống nhất quy định mức phạt tiền và biện pháp khắc phục hậu quả của hành vi “Nhập khẩu thiết bị, sản phẩm có chứa hoặc sản xuất từ các chất được kiểm soát bị cấm” và hành vi “nhập khẩu hàng hóa cấm nhập khẩu”. Đồng thời, bổ sung thẩm quyền xử phạt cho cơ quan hải quan tại Nghị định số 45/2022/NĐ-CP để đảm bảo xử phạt VPHC đối với các HVVP trong lĩnh vực bảo vệ môi trường khi phát hiện HVVP hành chính nêu trên trong lĩnh vực môi trường đối với hàng hóa nhập khẩu. (4) Tại Điều 60 Nghị định số 117/2020/NĐ-CP xử phạt VPHC trong lĩnh vực y tế quy định xử phạt đối với hành vi “Nhập khẩu thuốc không có giấy phép nhập khẩu”, mức phạt tiền 140 triệu đến 160 triệu đối với tổ chức. Tuy nhiên, cần bổ sung biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật đã bị tiêu thụ, tẩu tán trái quy định của pháp luật đảm bảo tính triệt để như quy định tại Nghị định số 128/2020/NĐ-CP. (5) Bổ sung Nghị định số 42/2019/NĐ-CP ngày 16/5/2019 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực thủy sản đảm bảo có chế tài xử phạt đối với hành vi này để ngăn chặn tàu cá Việt Nam khai thác hải sản bất hợp pháp, HVVP “Không có giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm theo quy định” để đảm bảo thi hành theo đúng quy định tại điểm k, khoản 1, Điều 60 Luật Thủy sản năm 2017. (6) Cần quy định rõ việc đình chỉ nhập khẩu hóa chất là chỉ đình chỉ việc nhập khẩu đối với loại hàng hóa mà tổ chức, cá nhân đã vi phạm hay đình chỉ cá nhân, tổ chức thực hiện nhập khẩu các loại hóa chất để thống nhất cách hiểu và áp dụng... Ngoài ra, đề tài cũng đưa ra kiến nghị chung với các bộ, ngành trong việc tăng cường, tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức vai trò và sự cần thiết phải thực hiện trong hoạt động QLCN đối với hàng hóa xuất nhập; sự phối hợp giữa các bộ, ngành trong công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật về QLCN, pháp luật xử phạt VPHC về lĩnh vực QLCN đối với hàng hóa nhập khẩu...
5. Thông tin nghiệm thu và lưu trữ
- Nghiệm thu: Đề tài đã được Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu thông qua (Quyết định số 227/QĐ-BTC ngày 17/02/2025 của Bộ Tài chính về việc thành lập Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ KHCN cấp Bộ năm 2024).
- Lưu trữ: Đề tài được đóng quyển, lưu trữ tại Thư viện Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính./.
ThS. Trần Việt Hưng
Cục Hải quan