Đề tài: Hoàn thiện chính sách phí bảo vệ môi trường đối với nước thải

20/01/2026 15:25


1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Trong những năm gần đây, quan điểm của Đảng và Nhà nước luôn xác định bảo vệ môi trường (BVMT) là một trong những vấn đề cấp bách của quốc gia, là nhân tố đảm bảo sức khỏe và chất lượng cuộc sống của nhân dân, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH), ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc gia và tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế. BVMT vừa là mục tiêu, vừa là một trong những nội dung cơ bản của phát triển bền vững, phải được thể hiện trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển KT-XH của từng ngành và từng địa phương. Nghị quyết số 24-NQ/TW, Nghị quyết số 41-NQ/TW và các văn kiện Đại hội Đảng cũng đã nhấn mạnh vai trò BVMT trong phát triển KT-XH qua từng giai đoạn, xác định đầu tư cho BVMT là hướng đến phát triển bền vững của quốc gia. Do đó, để thực hiện mục tiêu BVMT, nhiều công cụ chính sách tài chính đã được áp dụng triển khai; trong đó, phí BVMT đối với nước thải là một trong những công cụ quan trọng giúp Nhà nước điều tiết hành vi của tổ chức, cá nhân, khuyến khích họ áp dụng công nghệ xử lý nước thải tiên tiến, đồng thời tạo nguồn thu để chi trả cho hoạt động BVMT. Tuy nhiên, trong thực tiễn, việc thu phí BVMT vẫn còn nhiều bất cập. Mặc dù có cơ chế thu phí, nhưng số tiền thu được vẫn còn hạn chế và chưa đủ để bù đắp chi phí cho các hoạt động bảo vệ, phục hồi môi trường, đặc biệt là trong bối cảnh tình trạng ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng ở nhiều nơi. Tình trạng ô nhiễm không khí, nguồn nước, rác thải nhựa và suy thoái rừng vẫn đang diễn ra phức tạp tại Việt Nam, cho thấy các biện pháp thu phí hiện tại chưa đủ sức răn đe hoặc ngăn chặn hiệu quả. Quy định pháp luật về phí BVMT chưa được cập nhật và hoàn thiện để phù hợp với thực tế. Việc thực thi và kiểm soát thu phí còn gặp nhiều khó khăn, dẫn đến thất thoát hoặc không thu hồi hết nguồn thu. Ý thức của một bộ phận cá nhân và tổ chức về trách nhiệm bảo vệ môi trường còn hạn chế. Nhiều trường hợp vẫn xả rác bừa bãi, không tuân thủ các quy định về xử lý chất thải, dù có các quy định pháp luật và chế tài. Do đó, việc nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện chính sách phí bảo vệ môi trường đối với nước thải” là cần thiết nhằm nghiên cứu, phân tích làm rõ cả về cơ sở lý luận và thực tiễn chính sách phí, giá dịch vụ đối với nước thải phù hợp với nhiệm vụ BVMT trong từng thời kỳ; từ đó đề xuất giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực thi chính sách hiện hành, đảm bảo đồng bộ, thống nhất với hệ thống pháp luật về tài chính, ngân sách và BVMT.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn; phân tích, đánh giá thực trạng quá trình xây dựng và thực thi chính sách thu phí BVMT đối với nước thải; đề tài đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách phí BVMT đối với nước thải ở Việt Nam.  

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Chính sách phí BVMT đối với nước thải.

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu chính sách phí BVMT đối với nước thải của Việt Nam; đồng thời tham khảo kinh nghiệm của một số nước trên thế giới trong việc áp dụng chính sách phí BVMT. Thời gian nghiên cứu thực trạng trong giai đoạn từ năm 2003 - 2024, là thời điểm chính sách thu phí BVMT đối với nước thải được áp dụng tại Việt Nam, theo quy định tại Pháp lệnh Phí và Lệ phí năm 2001, đề xuất kiến nghị giải pháp cho các năm sau 2024.

4. Kết quả nghiên cứu

(1) Đề tài đã hệ thống cơ sở lý luận về phí BVMT và chính sách phí BVMT đối với nước thải. Theo đó, phí BVMT được hiểu là khoản phí thuộc Danh mục phí của Nhà nước, do các tổ chức, cá nhân xả nước thải gây ô nhiễm phải nộp; số thu được nộp vào NSNN để phục vụ công tác BVMT. Nguyên tắc thu phí là “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, bảo đảm công bằng, hiệu quả và khuyến khích giảm ô nhiễm, qua đó nâng cao ý thức BVMT, thúc đẩy đầu tư công nghệ xử lý nước thải và tạo nguồn thu cho ngân sách. Trong khi đó, chính sách phí BVMT đối với nước thải là tổng thể quan điểm, mục tiêu và biện pháp của Nhà nước nhằm điều tiết hành vi xả thải thông qua pháp luật về phí BVMT. Đề tài đã phân tích làm rõ các nội hàm cơ bản về chính sách phí BVMT, cụ thể là: (i) Mục tiêu chính sách: Xác định mức thu, định hướng điều tiết thu nhập, khuyến khích sản xuất sạch, thúc đẩy tăng trưởng và đảm bảo công bằng xã hội; (ii) Quan điểm chính sách: Thể hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về vị trí, vai trò và cách thức sử dụng công cụ phí BVMT trong hệ thống chính sách BVMT; (iii) Biện pháp chính sách: Xây dựng, hoàn thiện pháp luật; các biện pháp hành chính, tuyên truyền nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả. Chính sách phí BVMT phải đảm bảo tính đồng bộ, công bằng, hiệu quả, minh bạch và ổn định. Bên cạnh đó, đề tài cũng đã chỉ ra được các nhân tối ảnh hưởng đến chính sách phí BVMT đối với nước thải; trong đó bao gồm cả các nhân tố chủ quan (như quan điểm, đường lối phát triển KT-XH của Đảng và Nhà nước; năng lực xây dựng pháp luật; hiệu lực và hiệu quả của bộ máy hành pháp; trình độ trang bị kỹ thuật) và nhân tố khách quan (như trình độ phát triển kinh tế, dân trí, điều kiện tự nhiên…).

(2) Đề tài đã nghiên cứu kinh nghiệm về chính sách phí BVMT đối với nước thải của Phần Lan, Hà Lan, Đức, Séc, Áo, Trung Quốc, Phi-lip-pin, Thái Lan, Hoa Kỳ. Các nước này đều áp dụng phí BVMT đối với nước thải theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” nhằm hạn chế ô nhiễm và tạo nguồn vốn cho các hoạt động BVMT. Ở Phần Lan, Hà Lan và Đức, hệ thống phí gắn với lưu lượng và chất lượng nước thải, đồng thời hỗ trợ đầu tư công nghệ xử lý nước thải, mang lại hiệu quả giảm ô nhiễm rõ rệt. Ở Trung Quốc và Phi-lip-pin, phí BVMT được điều chỉnh theo tải lượng chất ô nhiễm, kết hợp các cơ chế khuyến khích doanh nghiệp cải thiện công nghệ, nhưng việc thực hiện trước đây còn một số hạn chế về mức phí và kiểm soát. Kinh nghiệm của các nước châu Âu cũng cho thấy, kết hợp phí với trợ cấp và đầu tư nghiên cứu giúp nâng cao hiệu quả quản lý nước thải và khuyến khích đổi mới công nghệ. Từ đó, đề tài rút ra một số bài học có giá trị tham khảo cho Việt Nam trong quá trình xây dựng và hoàn thiện chính sách phí BVMT đối với nước thải, gồm: (i) Nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”. Do đó, Việt Nam cần áp dụng triệt để nguyên tắc này để xác định người nộp phí BVMT đối với nước thải phải đồng thời là chủ nguồn thải; (ii) Cơ quan/tổ chức thu phí của các nước đều giao cho chính quyền địa phương xây dựng và tổ chức thu phí để đảm bảo phù hợp về phân cấp quản lý nhà nước về môi trường (trừ Cộng hòa Liên bang Đức). Việt Nam cũng đang áp dụng tương tự, Sở Tài nguyên và Môi trường và các công ty kinh doanh nước sạch ở địa phương tổ chức thu phí; (iii) Việt Nam nên xem xét lại tính hiệu quả của việc thu phí theo nhiều thông số (như Đức, Hà Lan thu phí trên nhiều thông số gồm cả kim loại nặng như chì, thủy ngân, cadmium, arsen, trong khi các nước đang phát triển như Trung Quốc, Phi-lip-pin tính theo các chỉ tiêu phổ biến như BOD và TSS); (iv) Mặc dù Việt Nam cũng có quy định tiền thu được phải phục vụ cho hoạt động xử lý, cải tạo môi trường, đầu tư hệ thống thoát nước và xử lý nước thải như đa số các nước, tuy nhiên theo Luật NSNN, nguồn thu phí được nhập chung vào ngân sách địa phương, không gắn trực tiếp với chi cho BVMT, do đó cần nghiên cứu cơ chế quản lý, sử dụng linh hoạt và hiệu quả hơn.

(3) Đề tài đã tổng quan quá trình xây dựng và thực thi chính sách thu phí BVMT đối với nước thải; phân tích và đánh giá được thực trạng triển khai thu phí BVMT đối với nước thải. Qua đó cho thấy, Ngày 28/5/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 88/2007/NĐ-CP về thoát nước đô thị và khu công nghiệp, quy định phí thoát nước là phí BVMT đối với nước thải áp dụng cho các khu vực đô thị và Khu công nghiệp có hệ thống thoát nước tập trung. Ngày 06/8/2014, Chính phủ ban hành Nghị định số 80/2014/NĐ-CP về thoát nước và xử lý nước thải thay thế Nghị định só 88/2007/NĐ-CP, trong đó chuyển từ phí thoát nước thành giá dịch vụ thoát nước và xử lý nước thải. Nếu theo Nghị định số 88/2007/NĐ-CP phí thoát nước được xác định trên tỷ lệ phần trăm giá tiêu thụ nước sạch thì giá dịch vụ thoát nước theo Nghị định số 80/2014/NĐ-CP được xác định dựa trên toàn bộ chi phí sản xuất được tính đúng, tính đủ và mức lợi nhuận hợp lý cho 1m3 nước thải để thực hiện nhiệm vụ thoát nước và xử lý nước thải. Việc tổ chức thực hiện giá dịch vụ thoát nước tại các địa phương có thể chia thành hai nhóm: (i) Nhóm 1 là các tỉnh/thành phố vẫn áp dụng duy nhất phí bảo vệ môi trường đối với nước thải (theo Nghị định số 53/2020/NĐ-CP) cho tất cả các hộ thoát nước/hộ xả nước thải; (ii) Nhóm 2 là các tỉnh/thành phố áp dụng giá dịch vụ thoát nước áp dụng cho các hộ xả thải vào hệ thống thoát nước tập trung, tuy nhiên cũng có địa phương ban hành giá dịch vụ thoát nước song chưa tổ chức thực hiện do có một số điều kiện khách quan. Nhìn chung, một số địa phương vẫn chỉ áp dụng thu phí BVMT đối với nước thải (Nhóm 1) là phổ biến, trong khi còn nhiều địa phương chưa quyết tâm triển khai xây dựng và ban hành giá dịch vụ thoát nước. Nguyên nhân là do: (i) Nhận thức của chính quyền các cấp trong việc nghiêm túc thực hiện Nghị định số 80/2014/NĐ-CP chưa cao. Nhiều thành phố/đô thị mặc dù đã có hệ thống thoát nước khá hoàn chỉnh và đồng bộ nhưng vẫn không tổ chức xây dựng giá dịch vụ thoát nước; (ii) Chính quyền tại nhiều đô thị hầu như không có hồ sơ tài sản hệ thống thoát nước, không biết hệ thống thoát nước có những gì, giá trị đầu tư là bao nhiêu, chất lượng còn bao nhiêu phần trăm... nên đã gây ra nhiều trở ngại cho công tác quản lý tài sản, xác định khối lượng công việc, chi phí vận hành làm căn cứ xác định giá dịch vụ thoát nước; (iii) Thiếu hoặc không đầy đủ định mức kinh tế/kỹ thuật, định mức đơn giá/chi phí cho tất cả các hạng mục của hệ thống thoát nước làm cơ sở cho việc lập dự toán cho các hoạt động của hệ thống thoát nước, xác định chi phí và xây dựng giá; (iv) Thiếu các tiêu chuẩn, quy chuẩn có liên quan đến thoát nước đô thị; thiếu các quy trình kỹ thuật đặc biệt sử dụng các công nghệ, thiết bị mới; (v) Ngoài ra còn do có sự nhầm lẫn giữa giá dịch vụ thoát nước và phí BVMT đối với nước thải; chưa có sự quyết tâm chính trị của chính quyền các cấp trong việc tổ chức xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các quy định có liên quan đến giá dịch vụ; chưa có sự phối hợp, hợp tác giữa các cơ quan chuyên môn tại địa phương trong việc thẩm định, trình phê duyệt về giá dịch vụ thoát nước. Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân hiểu về giá dịch vụ còn nhiều hạn chế, chưa tạo được sự đồng thuận.

(4) Đề tài đã phân tích làm rõ bối cảnh thế giới và trong nước, chủ trương của Đảng và Nhà nước về BVMT, chỉ ra những vấn đề đặt ra đối với hoàn thiện chính sách phí BVMT, giá dịch vụ đối với nước thải ở Việt Nam; qua đó, đề tài đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách phí BVMT đối với nước thải trên các khía cạnh như sau: (i) Về đối tượng chịu phí: Quy định rõ khái niệm nước thải công nghiệp, phạm vi nguồn tiếp nhận nước thải (để xác định rõ ai là người chịu trách nhiệm khai, nộp phí) và nghiên cứu quy định giới hạn phạm vi thu phí đối với cơ sở xả nước thải; (ii) Về tổ chức thu phí: Bổ sung Ủy ban nhân dân cấp xã tham gia thu phí đối với cơ sở nhỏ; làm rõ trách nhiệm thu - nộp phí trong các trường hợp bán nước qua trung gian; xem xét bỏ quy định thu với hộ tự khai thác nước; (iii) Về trường hợp miễn thu phí: Điều chỉnh, bổ sung các trường hợp miễn phí cho phù hợp với thực tiễn và Luật BVMT; bổ sung miễn phí cho nước thải tái sử dụng và các huyện, đảo; (iv) Về mức phí và xác định số phí phải nộp: Điều chỉnh mức phí theo nguyên tắc người gây ô nhiễm trả tiền, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp áp dụng công nghệ sạch để giảm chi phí xử lý; tăng mức thu phí đối với nước thải công nghiệp có hàm lượng chất ô nhiễm cao; (v) Về kê khai, nộp phí BVMT đối với nước thải: Đề xuất cơ chế kê khai điện tử để giảm thủ tục hành chính, tăng tính minh bạch; xây dựng hệ thống thanh toán trực tuyến để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp; (vi) Về quản lý, sử dụng phí: Bỏ quy định sử dụng số tiền phí thu được cho hoạt động BVMT, đồng thời quy định rõ số tiền phí thu được nộp vào ngân sách địa phương và quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về NSNN; (vii) Về quy định xử phạt: Bổ sung quy định trích dẫn các văn bản quy phạm pháp luật liên quan về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực phí, lệ phí và lĩnh vực BVMT, đồng thời, quy định rõ cơ sở, căn cứ áp dụng để xử lý vi phạm trong một số hành vi vi phạm (như không kê khai, nộp phí; kê khai, nộp phí chậm so với quy định; trốn nộp phí).

5. Thông tin nghiệm thu và lưu trữ

- Nghiệm thu: Đề tài đã được Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu thông qua (Quyết định số 228/QĐ-BTC ngày 17/02/2025 của Bộ Tài chính về việc thành lập Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ KHCN cấp Bộ năm 2024).

- Lưu trữ: Đề tài được đóng quyển, lưu trữ tại Thư viện Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính./.

ThS. Trịnh Quang Hưng

Cục Quản lý, Giám sát chính sách thuế, phí và lệ phí