Đề tài: Giải pháp phát triển đại lý Hải quan trong bối cảnh chuyển đổi số

16/01/2026 14:25


1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Trong bối cảnh thương mại hoá toàn cầu, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, các bộ, ngành chức năng trong đó có cơ quan Hải quan phải thường xuyên đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính để tạo điều kiện hơn nữa cho các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu. Việc hình thành một đơn vị trung gian, thay mặt chủ hàng đứng ra làm thủ tục hải quan là cần thiết, loại hình dịch vụ này nằm trong chuỗi cung ứng cho hoạt động xuất nhập khẩu (XNK) hàng hoá và được coi như “cánh tay nối dài” trong việc khai báo, thực hiện thủ tục hải quan, sẽ giúp cơ quan Hải quan phổ biến các chế độ chính sách đến doanh nghiệp XNK kịp thời hơn, tránh tình trạng ùn tắc, tạo sự thông thoáng trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan, hạn chế các hiện tượng tiêu cực. Đối với các doanh nghiệp XNK, đại lý làm thủ tục hải quan sẽ giúp doanh nghiệp thông quan nhanh hàng hóa, tránh được những vi phạm trong quá trình làm thủ tục hải quan và tiết kiệm được chi phí. Đồng thời, việc đại lý hải quan phát triển sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp giảm chi phí đầu tư về nhân sự, trang thiết bị, phương tiện hiện đại phục vụ cho việc làm thủ tục hải quan, tăng năng lực cạnh tranh trên thị trường. Tuy nhiên, so với yêu cầu chuyển đổi số hiện nay, hoạt động đại lý hải quan hoạt động chưa thực sự hiệu quả, đáp ứng nhu cầu đặt ra, tỉ lệ tờ khai đại lý được ủy quyền nộp thuế thay hoàn toàn cho chủ hàng chiếm tỉ lệ rất thấp, mức độ tin cậy của đại lý chưa được đánh giá ở mức cao. 

Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2030 đã đặt ra mục tiêu tiếp tục xây dựng và phát triển đại lý làm thủ tục hải quan chuyên nghiệp, đồng bộ, hiện đại, toàn diện và đa dạng hơn; hướng tới thực hiện áp dụng công nhận chế độ ưu tiên cho đại lý làm thủ tục hải quan; từng bước thực hiện tự động hóa quản lý hoạt động khai hải quan của các đại lý làm thủ tục hải quan, nhân viên được cấp thẻ thông qua việc kiểm soát việc làm thủ tục hải quan, điều này đòi hỏi cơ quan Hải quan và đại lý thủ tục hải quan, các doanh nghiệp có hàng hoá XNK cần nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động đại lý thủ tục hải quan, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp đại lý hải quan. Trong bối cảnh ngành hải quan thực hiện chuyển đổi số, hàng hóa XNK, phương tiện xuất nhập cảnh được quản lý từ khâu đầu đến khâu cuối sử dụng nền tảng công nghệ số; phát triển hệ thống công nghệ thông tin (CNTT) theo hướng xử lý tập trung, đáp ứng yêu cầu triển khai mở rộng Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN và Cơ chế một cửa quốc tế nhằm đáp ứng yêu cầu kết nối, trao đổi, chia sẻ thông tin giữa cơ quan hải quan với các Bộ, Ngành và các bên có liên quan tham gia chuỗi dây chuyền cung ứng thương mại. Do đó, đại lý hải quan cần có sự chuyển biến tích cực, thay đổi phương thức hoạt động, mở rộng phạm vi cũng như hệ thống hạ tầng để kết nối với hệ thống của cơ quan Hải quan và các cơ quan Chính phủ liên quan. Hiện nay đại lý hải quan đang thực hiện tốt vai trò là cầu nối giữa cơ quan Hải quan và doanh nghiệp. Tuy nhiên trong quá trình hoạt động, đại lý hải quan vẫn còn bộc lộ nhiều vướng mắc về cơ chế chính sách, về phương thức quản lý của cơ quan Hải quan, tính tuân thủ cũng như năng lực phát triển của đại lý hải quan nên các đại lý hải quan vẫn chưa phát triển đồng bộ và phát huy hết tiềm năng cũng như đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh chuyển đổi số. Do vậy, việc nghiên cứu đề tài “Giải pháp phát triển đại lý hải quan trong bối cảnh chuyển đổi số” là cần thiết, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý hải quan, tạo niềm tin cho doanh nghiệp XNK, khẳng định vai trò trong hoạt động XNK hàng hóa trong thời kỳ hội nhập.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu, phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng phát triển đại lý hải quan tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp nhằm phát triển đại lý hải quan trong bối cảnh chuyển đối số của cơ quan Hải quan.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Phát triển đại lý hải quan trong bối cảnh chuyển đổi số tại Việt Nam.

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng phát triển đại lý hải quan tại Việt Nam giai đoạn 2014 - 2024, kinh nghiệm một số quốc gia và đề xuất giải pháp cho các năm tiếp theo.

4. Kết quả nghiên cứu

(1) Đề tài đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận chung về đại lý hải quan và phát triển đại lý hải quan như khái niệm, đặc điểm, vai trò của đại lý hải quan và các yếu tố tác động đến sự phát triển của đại lý hải quan trong bối cảnh chuyển đổi số. Theo đó, đại lý hải quan hay đại lý làm thủ tục Hải quan là doanh nghiệp thay mặt người có hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thực hiện việc khai hải quan theo quy định của pháp luật và thực hiện toàn bộ hoặc một phần các công việc liên quan đến thủ tục Hải quan theo thỏa thuận trong hợp đồng ký với chủ hàng. Đặc điểm của đại lý hải quan là doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện, cung ứng dịch vụ thương mại trong lĩnh vực XNK hàng hóa, chịu sự giám sát và quản lý của cơ quan Hải quan. Do vậy, đại lý hải quan hoạt động trong lĩnh vực XNK hàng hóa với tư cách là người khai hải quan. Hoạt động của đại lý hải quan chịu sự điều chỉnh của pháp luật với những quy định cụ thể và cơ quan Hải quan thay mặt nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với đại lý hải quan. Trong bối cảnh chuyển đổi số, đại lý hải quan đóng vai trò quan trọng trong quá trình giao dịch XNK hàng hóa, cụ thể: (i) Đại lý hải quan đảm bảo sự cân bằng giữa việc tạo thuận lợi thương mại tối đa trong chuỗi cung ứng hàng hóa XNK; (ii) Là kênh kết nối giữa cơ quan Hải quan và các nhà nhập khẩu, xuất khẩu trong bối cảnh phát triển nền tảng số; (iii) Tư vấn các hoạt động liên quan đến dòng chảy của hàng hóa XNK trong chuỗi cung ứng toàn cầu; (iv) Hỗ trợ cho các cơ quan quản lý nhà nước về hải quan, là cánh tay nối dài của cơ quan Hải quan; (v) Giúp các doanh nghiệp thực hiện thủ tục thông quan hàng hóa một cách hiệu quả, giảm chi phí và thời gian thông quan. Tuy nhiên, sự phát triển của đại lý hải quan còn chịu sự tác động của các yếu tố như: Cơ chế, chính sách pháp luật về đại lý hải quan; sự phát triển của thương mại quốc tế; quan hệ phối hợp giữa cơ quan hải quan, đại lý hải quan và doanh nghiệp; sự phát triển của khoa học công nghệ và ứng dụng CNTT trong lĩnh vực hải quan; quản trị doanh nghiệp của đại lý hải quan. Bên cạnh đó, đề tài cũng phân tích mục tiêu và yêu cầu đặt ra đối với phát triển đại lý hải quan trong bối cảnh chuyển đổi số.

(2) Đề tài đã nghiên cứu kinh nghiệm về hoạt động của đại lý hải quan của một số nước như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Australia. Theo đó, đề tài đã nghiên cứu kinh nghiệm về quy định pháp lý; hoạt động của đại lý hải quan; quản lý đại lý hải quan và ứng dụng nền tảng số trong quản lý đại lý hải quan (Tiêu chí công nhận/điều kiện để trở thành đại lý hải quan; tiêu chí đánh giá năng lực của đại lý hải quan; quản lý sau khi công nhận đại lý hải quan; chế tài xử lý vi phạm); đại lý hải quan và chương trình doanh nghiệp ưu tiên; hiệp hội đại lý hải quan. Hiện nay, các quốc gia phát triển trên thế giới gần như 100% đã áp dụng thông quan điện tử, các thủ tục đều được thực hiện trên hệ thống tự động hóa nên hệ thống đại lý khai thuê hải quan cũng mang tính đặc thù và phát triển chuyên nghiệp đáp ứng nhu cầu xã hội. Điều này cho thấy, đại lý hải quan là một loại hình dịch vụ rất phát triển trong hoạt động XNK, đây là một khâu trong chuỗi dịch vụ giao nhận hàng hóa mà nhiều nước đã áp dụng hiệu quả. Qua nghiên cứu, xu hướng phát triển chung của đại lý hải quan trên thế giới cho thấy: (i) Các đại lý hải quan phải đáp ứng các tiêu chí bắt buộc theo quy định của pháp luật mỗi quốc gia. Luật pháp của từng quốc gia đều ban hành Luật và các văn bản pháp quy quy định cụ thể các điều kiện bắt buộc và cần thiết đối với các yêu cầu về trình độ, năng lực chuyên môn của đại lý hải quan đi kèm với quy trình đào tạo và sát hạch bài bản theo quy định của pháp luật quốc gia sở tại (ii) Đại lý hải quan được xác định là một doanh nghiệp kinh doanh bởi hoạt động dịch vụ này mang mục đích thu lợi nhuận cho doanh nghiệp. Do đó, cũng như nhiều ngành nghề khác, xu hướng áp dụng CNTT, cơ sở vật chất cùng với việc chuyển đổi số luôn là xu hướng mới trong bối cảnh công nghiệp 4.0. Các nước đánh giá cao vai trò của đại lý hải quan với doanh nghiệp. 

(3) Đề tài đã phân tích bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và chuyển đổi số của ngành Hải quan; quá trình phát triển đại lý Hải quan cũng như thực trạng quy định pháp luật về hải quan, hoạt động và quản lý đại lý hải quan trong bối cảnh chuyển đổi số. Nhìn chung, Luật Hải quan (2014) và các văn bản hướng dẫn thi hành đã xây dựng được hành lang, cơ sở pháp lý, cơ chế quản lý, giám sát hoạt động phù hợp đối với đại lý hải quan, hỗ trợ các doanh nghiệp, nhân viên đại lý hải quan hoạt động và phát triển. Tổng cục Hải quan đã công nhận hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan đối với hơn 1.600 doanh nghiệp (số lượng đại lý hải quan hiện đang hoạt động khoảng 1.200 đại lý). Về nhân viên đại lý hải quan đã thực hiện cấp mã số nhân viên đại lý hải quan cho khoảng 3.200 nhân viên (nhưng hiện nay cả nước mới có khoảng 1.700 mã số nhân viên đại lý hải quan đang hoạt động). Bên cạnh kết quả trên, vẫn còn tồn tại một số khó khăn vướng mắc như: (i) Chưa có đại lý hải quan được công nhận ưu tiên (thực tế đã có quy định chính sách ưu tiên đối với doanh nghiệp XNK, nhưng chưa phù hợp với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ đại lý hải quan, chưa rõ chính sách đối với đại lý hải quan, nhân viên đại lý được công nhận ưu tiên, chế độ thưởng, phạt, xử lý đối với đại lý hải quan và nhân viên đại lý. Do vậy,chưa có nhiều đại lý hải quan quan tâm đến việc được công nhận là đại lý hải quan ưu tiên); chưa có cơ chế tự động gia hạn mã số nhân viên đại lý đối với nhân viên đại lý hải quan tuân thủ tốt, đồng thời chưa quy định rõ thời điểm làm thủ tục gia hạn mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan; (ii) Một số quy định chưa được triển khai thực hiện trong thực tế liên quan đến việc cấp và quản lý định danh (used Id) cho nhân viên đại lý hải quan; khó xác minh tại thời điểm làm thủ tục cấp mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan; (iii) Còn nhiều vướng mắc, bất cập liên quan đến thực hiện các thủ tục hành chính đối với đại lý hải quan; (iv) Trong hoạt động khai hải quan, chưa có cơ chế khuyến khích, bắt buộc, xử lý đối với những đại lý và nhân viên đại lý hải quan phải sử dụng  user Id của chính mình để thực hiện khai báo tờ khai và các thủ tục liên quan đến thông quan hàng hóa; nhiều trường hợp sử dụng chữ ký số, ID của chủ hàng để khai nên khi phát sinh nợ, bị phạt, cưỡng chế, không khai được, khai không đúng … đều quy trách nhiệm về chủ hàng do không sử dụng hợp đồng hoặc có hợp đồng nhưng không đủ chặt chẽ, dẫn đến có những tranh chấp pháp lý kéo dài, ảnh hưởng đến nhiều bên liên quan; (v) Hệ thống CNTT chưa hoàn chỉnh nên ảnh hưởng đến việc thu thập, cập nhật thông tin đại lý hải quan và đánh giá tuân thủ đối với đại lý hải quan; (vi) Ngoài ra, còn những bất cập hạn chế liên quan đến việc tuân thủ pháp luật hải quan, việc thi cấp chứng chỉ đại lý hải quan, năng lực của đại lý hải quan... Nguyên nhân do có những đại lý hải quan không phát triển theo kỳ vọng, hoạt động chưa thực sự bài bản, thiếu hiệu quả trong việc cung cấp dịch vụ; cá nhân làm dịch vụ xuất nhập khẩu tự phát, không đăng ký kinh doanh và không nộp thuế, đã làm giảm tính cạnh tranh của hoạt động đại lý hải quan; nhiều chủ hàng chưa hiểu rõ lợi ích của đại lý hải quan so với người nhận ủy quyền làm thủ tục hải quan, chưa tin tin tưởng và không muốn dùng chữ ký số của đại lý hải quan cho khai báo hải quan hàng hoá của mình, phát sinh thêm chi phí liên quan đến việc ký kết hợp đồng; mối quan hệ đối tác giữa đại lý, doanh nghiệp xuất nhập khẩu và Hải quan chưa thực sự vì lợi ích của doanh nghiệp; các văn bản pháp luật về chính sách ưu tiên, khuyến khích hoạt động của đại lý hải quan chưa rõ ràng, chưa có sự phân biệt giữa đại lý hải quan, dịch vụ khai thuê hải quan và những người khác được làm thủ tục hải quan; thủ tục thông quan thực hiện bởi kênh đại lý làm thủ tục còn phức tạp, thậm chí nhiều quy trình hơn, trách nhiệm của các đại lý còn nặng nề hơn cá nhân làm dịch vụ khai thuê hải quan, dịch vụ giao nhận hàng hoá tại cửa khẩu.

(4) Qua phân tích quan điểm chuyển đổi số của Đảng và Nhà nước, định hướng phát triển đại lý Hải quan trong bối cảnh chuyển đổi số, đề tài đã đề xuất một số giải pháp phát triển đại lý hải quan trong bối cảnh chuyển đổi số trong thời gian tới, cụ thể: (i) Cần hoàn thiện chính sách pháp luật về Hải quan, cơ sở pháp lý, trong đó đặc biệt làm rõ nội dung hoạt động của đại lý hải quan khi tham gia vào hoạt động đại lý hải quan là bắt buộc phải sử dụng chữ ký số của chính đại lý. Hoàn thiện Thông tư sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế Thông tư số 22/2019/TT-BTC ngày 16/4/2019 và Thông tư số 12/2015/TT-BTC ngày 30/01/2015 của Bộ Tài chính quy định chi tiết thủ tục cấp Chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan; cấp và thu hồi mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan; trình tự, thủ tục công nhận và hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan; chuẩn hoá cơ sở dữ liệu quản lý đại lý làm thủ tục hải quan; (ii) Ứng dụng CNTT trong kiểm tra, giám sát và quản lý hoạt động của đại lý hải quan. Theo đó, áp dụng hệ thống đánh gíá năng lực đại lý hải quan và công khai; phát triển và hỗ trợ phần mềm dành cho đại lý hải quan trong quản lý và điều hành; quản lý người khai hải quan, thông qua nhận diện khuôn mặt hoặc sinh trắc học, số liệu quản lý căn cước công dân có kết nối với dữ liệu thông tin cá nhân trên hệ thống hải quan điện tử. Số hóa, thao tác trực tuyến linh hoạt trong quản lý và cho các nhân viên khi đăng ký mã số nhân viên chuyển đổi giữa các công ty đại lý hải quan; thực hiện việc kết xuất dữ liệu về lệ phí hải quan của người khai hải quan; xây dựng cơ sở dữ liệu hỗ trợ đại lý hải quan, chủ hàng doanh nghiệp XNK và cơ quan Hải quan tra cứu thông tin về đại lý hải quan, nhân viên đại lý hải quan một cách thuận lợi, nhanh chóng và chính xác. Đồng thời, xây dựng một kênh trao đổi thông tin chính thức giữa cơ quan Hải quan và đại lý hải quan; (iii) Hoàn thiện chính sách pháp luật về đại lý hải quan; tăng cường kết nối giữa cơ quan Hải quan và đại lý hải quan; đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật, đặc biệt là pháp luật về phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới, buôn bán hàng cấm, gian lận thương mại và các hành vi vi phạm pháp luật khác để nâng cao ý thức tuân thủ, tự giác chấp hành pháp luật của đại lý, nhân viên làm thủ tục hải quan; tạo thuận lợi đối với hoạt động XNK thông quan đại lý hải quan và hỗ trợ đại lý nâng cao năng lực, chất lượng làm thủ tục hải quan; Bên cạnh đó, cần minh bạch hóa hoạt động đại lý hải quan và nâng cao hiệu quả quản lý đại lý làm thủ tục hải quan…; (iv) Tổng cục Hải quan phối hợp với Hiệp hội doanh nghiệp dịch vụ logicstics Việt Nam xây dựng Bộ tiêu chí đánh giá năng lực đại lý làm thủ tục hải quan; (v) Tăng cường sự giám sát, kiểm tra, nâng cao tính tuân thủ pháp luật của đại lý hải quan. Xây dựng kế hoạch kiểm tra điều kiện hoạt động đại lý hằng năm, đảm bảo việc kiểm tra đối với mỗi đại lý hải quan không quá 01 năm và các đại lý hải quan trên địa bàn đều lần lượt được kiểm tra qua các năm nhằm kịp thời chấn chỉnh các sai sót, hạn chế các đại lý không đáp ứng điều kiện hoạt động để không bị tạm dừng, chấm dứt hoạt động; (vi) Cơ quan Hải quan cần tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo, nâng cao năng lực, phẩm chất cho đội ngũ nhân viên đại lý hải quan như tổ chức các lớp bồi dưỡng về kỹ năng giao tiếp ứng xử cho nhân viên đại lý, lựa chọn và xây dựng đội ngũ giảng viên kiêm nhiệm tại Cục Hải quan, tăng cường kiểm tra, giám sát công tác bồi dưỡng, tạo động lực cho nhân viên đại lý chủ động tham gia vào công tác đào tạo, để từ đó nâng cao năng lực và phẩm chất cho nhân viên đại lý; (vii) Nâng cao chất lượng đối với đại lý hải quan theo hướng nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ cho doanh nghiệp XNK; nắm vững kiến thức về thủ tục hải quan, chính sách mặt hàng và thành lập Hiệp hội đại lý làm thủ tục hải quan.

5. Thông tin nghiệm thu và lưu trữ

- Nghiệm thu: Đề tài đã được Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu thông qua (Quyết định số 400/QĐ-BTC ngày 26/02/2025 của Bộ Tài chính về việc thành lập Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ KHCN cấp Bộ năm 2024).

  • Lưu trữ: Đề tài được đóng quyển, lưu trữ tại Thư viện Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính./.

ThS. Nguyễn Văn Thọ

Cục Hải quan