Đề tài: Đánh giá tác động của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đến thu ngân sách nhà nước từ hoạt động xuất nhập khẩu

17/01/2026 08:35


1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Hội nhập quốc tế là yêu cầu tất yếu trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia. Trong thời gian qua Việt Nam đã tham gia vào các Hiệp định thương mại tự do (FTA), đặc biệt là các FTA thế hệ mới. Cơ hội lớn nhất mà các FTA thế hệ mới mang lại là mở rộng thị trường và nâng cao sức cạnh tranh của các nền kinh tế thành viên nhờ cắt giảm thuế và dỡ bỏ rào cản thương mại, đầu tư, thúc đẩy cải cách thể chế, cải thiện chính sách, pháp luật đằng sau biên giới, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng để nâng cao hiệu quả sản xuất, thương mại, tham gia sâu hơn vào sản xuất và chuỗi cung ứng toàn cầu. Một trong những nội dung cốt lõi của các FTA là cắt giảm hoặc xóa bỏ thuế quan đối với hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu. Điều này đồng nghĩa với việc giảm thuế nhập khẩu, làm giảm số thu từ nguồn thuế quan - vốn là nguồn thu lớn của Ngân sách Nhà nước (NSNN) trong hoạt động thương mại quốc tế; tăng kim ngạch xuất khẩu, tuy tích cực cho cán cân thương mại, song nhiều mặt hàng được ưu đãi thuế sẽ không còn đóng góp vào thu thuế như trước đây. Do đó cần phải xây dựng mô hình phân tích định lượng để lượng hóa mức độ ảnh hưởng này đến tổng thu ngân sách, từ đó có kế hoạch điều chỉnh chính sách thuế phù hợp. Việc ký kết và tham gia các FTA kỳ vọng mang lại lợi ích lâu dài về thương mại, đầu tư và tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, không phải lúc nào tác động của FTA cũng tích cực và đồng đều. Một số FTA có thể giúp tăng trưởng xuất khẩu nhưng lại làm thất thu về thuế nhập khẩu. Do đó, cần đánh giá lợi ích ròng, tức là tổng lợi ích (bao gồm thuế, tăng trưởng, việc làm...) trừ đi chi phí (giảm thu...). Việc nghiên cứu tác động đến số thu là một phần quan trọng trong đánh giá toàn diện hiệu quả của các FTA thế hệ mới. Sự tăng trưởng của kim ngạch hàng hóa cuất nhập khẩu (XNK) đồng nghĩa với sự gia tăng tương ứng khối lượng công việc của Hải quan Việt Nam, trong đó có nhiệm vụ thu nộp NSNN, đã đặt ra yêu cầu Hải quan Việt Nam phải đổi mới về cách tính và thu thuế và đảm bảo thu đúng, thu đủ và nộp NSNN kịp thời. Dưới tác động của các FTA thế hệ mới, thu NSNN sẽ bị tác động đa chiều, có sự đan xen giữa các FTA với nhau và sẽ có sự dịch chuyển thị trường XNK. Điều này, đòi hỏi cơ quan Hải quan cần có những giải pháp để tạo thuận lợi thương mại cho các doanh nghiệp XNK, phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại, chống thất thu về thuế, đảm bảo thu đúng, thu đủ và nộp NSNN kịp thời. Xuất phát từ các lý do nêu trên, việc lựa chọn đề tài “Đánh giá tác động của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đến thu Ngân sách Nhà nước từ hoạt động xuất nhập khẩu” là cần thiết, là cơ sở quan trọng để đánh giá các yếu tố tác động đến thu ngân sách từ hoạt động XNK trong bối cảnh thực thi FTA thế hệ mới. 

2. Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu tác động của một số cam kết tại các FTA thế hệ mới đến thu NSNN từ hoạt động XNK, từ đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp để vừa đảm bảo thu ngân sách vừa tạo thuận lợi thương mại trong bối cảnh thực hiện các FTA thế hệ mới.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Tác động của các FTA thế hệ mới đến thu NSNN từ hoạt động XNK.

- Phạm vi nghiên cứu: Nguồn thu/kim ngạch XNK từ các đối tác tham gia Hiệp định CPTPP, EVFTA, RCEP để phân tích, đánh giá số thu thuế từ các hiệp định này. Nghiên cứu các sắc thuế thuộc phạm vi quản lý của ngành Hải quan bao gồm: Thuế XNK, thuế VAT hàng nhập khẩu, thuế TTĐB hàng nhập khẩu, thuế bảo vệ môi trường hàng nhập khẩu, các loại phí và lệ phí liên quan. Thời gian nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 2010 - 2024. 

4. Kết quả nghiên cứu

(1) Đề tài đã tổng hợp một số vấn đề lý luận chung về tác động của các FTA thế hệ mới đến thu ngân sách từ hoạt động XNK; phân tích rõ khái niệm về FTA thế hệ mới. Đồng thời, đề tài đưa ra các cam kết liên quan đến thuế quan trong một số FTA thế hệ mới về thuế XNK, như: FTA giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) - EVFTA; Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP); Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP). Các FTA đều hướng đến các cam kết mở cửa thị trường trong các lĩnh vực tài chính từ đó đưa ra các quy đinh và cam kết cắt giảm thuế quan đối với thương mại giữa các nước thành viên. Đề tài đã phân tích các yếu tố tác động của các FTA thế hệ mới đến thu ngân sách từ hoạt động XNK. Tác động tích cực đến nguồn thu ngân sách, đảm bảo thực hiện hiệu quả công tác thu NSNN trong bối cảnh thực thi các FTA là một thách thức đối với các chính phủ. Do đó, cần phải đánh giá một cách toàn diện về ảnh hưởng của các FTA đến số thu ngân sách từ đó đưa ra các biện pháp ứng phó với những nguy cơ về thất thu ngân sách và sụt giảm thu NSNN; đồng thời, cần đánh giá tác động của các FTA đến thu NSNN dựa trên các khía cạnh tại các cam kết của FTA như: Cắt giảm thuế suất; thay đổi đối tượng tính thuế; chế độ ưu đãi thuế đến nguồn thu của Chính phủ. Ngoài ra cũng có tác động tiêu cực đến nguồn thu ngân sách, việc cắt giảm sâu thuế nhập khẩu theo các cam kết tại FTA thế hệ mới tác động lớn đến số thu ngân sách của các quốc gia đặc biệt là các quốc gia đang phát triển khi mà số thu NSNN từ hoạt động XNK chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu thu thuế của các quốc gia này. 

(2) Đề tài đã tập trung nghiên cứu một số kinh nghiệm về hoạt động thu NSNN trong bối cảnh thực thi các FTA thế hệ mới của một số nước như: Canada, Úc, Ấn Độ, Trung Quốc. Trong quá trình thực hiện các cam kết tại các FTA giữa Canada và các nền kinh tế, cơ quan Hải quan và Dịch vụ biên giới Canada (CBSA) đóng vai trò quan trọng trong việc thực thi các biện pháp nhằm đảm bảo sự tuân thủ các quy định tại FTA và chống lại các hành vi gian lận thuế từ các ưu đãi của FTA. Tại Úc, theo thống kê, số thu thuế vào NSNN từ hoạt động XNK của Úc bị mất do sử dụng các biện pháp ưu đãi thuế tại các FTA vượt xa số thu thực tế. Do đó, lực lượng Biên phòng Úc (ABF) thực hiện các biện pháp chống thất thu NSNN từ hoạt động XNK trong bối cảnh Úc tham gia ký kết nhiều FTA. Việc gia nhập và ký kết các FTA mới mang lại nhiều cơ hội cho Ấn Độ tham gia thị trường quốc tế và thúc đẩy thương mại hai chiều giữa Ấn Độ và các quốc gia thành viên, tuy nhiên cũng mang lại nhiều thách thức đối với chính phủ Ấn Độ do việc cắt giảm thuế quan theo lộ trình các FTA. Tuy vậy, chính phủ Ấn Độ cũng có những biện pháp thúc đẩy nền kinh tế cũng như chống thất thu NSNN từ việc sụt giảm nguồn thu từ thuế XNK. Trong khi đó, tại Trung Quốc việc cắt giảm thuế quan theo cam kết FTA đã tác động trực tiếp đến nguồn thu từ hoạt động XNK, đòi hỏi Chính phủ Trung Quốc phải có những đánh giá khoa học để cân đối chính sách tài khóa, thương mại và quản lý hải quan. Trung Quốc đã áp dụng các phương pháp định lượng và định tính trong đánh giá tác động của FTA, đặc biệt chú trọng vào mô hình mô phỏng và kinh tế lượng. Qua nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, đề tài đã rút ra 05 bài học kinh nghiệm cho Hải quan Việt Nam, cụ thể: (i) Về mặt chính sách, tiếp tục thực hiện rà soát và sửa đổi, bổ sung hệ thống chính sách thuế, phí hiện hành, xác định mức thuế suất phù hợp đối với các loại hàng hóa thuộc diện chịu thuế được ưu đãi để đảm bảo tính thống nhất và minh bạch, hài hoà với những quy định theo các FTA mà Việt Nam đã và sẽ tham gia; (ii) Về mặt tăng cường kiểm soát gian lận FTA, đặc biệt là gian lận xuất xứ, cập nhật và hệ thống hóa các yêu cầu cụ thể về ưu đãi thuế quan tại các FTA mà Việt Nam đã tham gia ký kết tại cổng thông tin FTA nhằm tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp XNK có thể dễ dàng tiếp cận, nắm bắt và tăng tính tuân thủ cho doanh nghiệp; (iii) Về các ngành, mặt hàng và doanh nghiệp, rà soát và công bố danh sách mặt hàng và doanh nghiệp trọng điểm cần xác minh tuân thủ thương mại trong quá trình thực hiện các FTA dựa trên các biện pháp quản lý rủi ro của cơ quan Hải quan và dựa trên các thông tin cảnh báo của các đối tác FTA. Điều này vừa ngăn ngừa các hành vi gian lận, chống thất thu ngân sách, vừa góp phần minh bạch thông tin, giúp doanh nghiệp Việt Nam tuân thủ đúng các yêu cầu của đối tác thương mại, tránh được các vụ kiện về điều tra thương mại và việc hàng hóa Việt Nam bị trả về do không đáp ứng được các yêu cầu đề ra; (iv) Về mặt ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động XNK khi thực hiện các FTA thế hệ mới, phát triển hệ thống phân tích dữ liệu lớn để dự báo thu NSNN, xây dựng ứng dụng về FTA trong đó có cập nhập các nội dung về thuế suất, các quy định liên quan đến cam kết thuế, biểu thuế để cơ quan Hải quan và doanh nghiệp có thể nắm bắt kịp thời phục vụ cho việc kê khai, tính thuế; (v) Thực hiện minh bạch, công khai hóa thông tin trong việc thu thuế với hàng hóa XNK. Công tác này cần được thực hiện thường xuyên dưới nhiều hình thức khác nhau, để chuyển tải thông tin nhanh chóng, đầy đủ, rõ ràng đến các doanh nghiệp XNK, tạo sự đồng thuận giữa Hải quan - Doanh nghiệp. 

(3) Đề tài đã phân tích tác động của FTA thế hệ mới đến thu NSNN từ hoạt động XNK, trong đó tập trung mô hình đánh giá tác động của một số FTA thế hệ mới đến số thu ngân sách từ hoạt động XNK hàng hóa. Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa được thể hiện bằng giá trị nhập khẩu của hàng hóa do các doanh nghiệp nhập khẩu ở Việt Nam thực hiện hoạt động nhập khẩu hàng hóa. Số thu NSNN đối với hàng hóa nhập khẩu là thuế nhập khẩu, thuế TTĐB, thuế VAT và các loại phí, lệ phí phát sinh trong quá trình nhập khẩu. Tuy nhiên, trong mô hình này đề tài không đưa thuế TTĐB, thuế VAT và phí lệ phí vào số thu NSNN do thực tế các FTA không cam kết về các mức thuế và phí này. Để đánh giá tác động của các FTA thế hệ mới tới kim ngạch nhập khẩu hàng hóa và số thu NSNN đối với hàng hóa nhập khẩu cần phải xây dựng mô hình hồi quy tuyến tính trong kinh tế lượng. Hồi quy tuyến tính là công cụ cơ bản trong đo lường kinh tế lượng, nhằm nghiên cứu mối liên hệ có tính thống kê của một biến phụ thuộc với các biến độc lập khác. Bên cạnh đó, đề tài cũng đã tập trung phân tích, đánh giá thực trạng về: (i) Cơ sở pháp lý về thuế XNK thực thi các FTA thế hệ mới. Công tác thu thuế đối với hàng hóa XNK là một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngành Hải quan trong bối cảnh thực thi các FTA. Ngành Hải quan đã và đang triển khai đồng bộ công tác hiện đại hóa, cải cách hành chính trong lĩnh vực quản lý thuế đối với hàng hóa XNK; (ii) Công tác quản lý thu nộp thuế từ hoạt động nhập khẩu, về kê khai, tính thuế được thực hiện theo Luật Quản lý thuế, các nghị định hướng dẫn Luật Quản lý thuế đã quy định theo hướng người nộp thuế đã chủ động, tự giác hơn trong việc kê khai, tính thuế. Về ấn định thuế, trong bối cảnh thực thi các FTA, để đảm bảo việc tuân thủ pháp luật thuế và quản lý thuế, cơ quan hải quan đã thực hiện thống nhất, công khai, minh bạch việc thực hiện ấn định thuế theo quy định Luật Quản lý thuế. Đối với công tác thu, nộp thuế, trong bối cảnh thực thi các FTA, ngành Hải quan đã triển khai thực hiện việc thu, nộp thuế đối với hàng hóa XNK đảm bảo thu đúng, thu đủ, nộp kịp thời vào NSNN theo đúng quy định của Luật Quản lý thuế và pháp luật về thuế. Về công tác miễn giảm thuế, thủ tục tục miễn thuế được thực hiện bằng phương thức điện tử, thủ tục xử lý ngay tại khâu thông quan và thông qua hệ thống miễn, giảm, hoàn, không thu thuế bằng phương thức điện tử, góp phần giảm thủ tục hành chính, giảm thời gian, chi phí, minh bạch, tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài ra, đề tài cũng có một số vướng mắc trong công tác thu thuế từ hoạt động XNK. Đến nay, các quy định về xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết nêu tại Thông tư số 66/2010/TT-BTC ngày 22/4/2010 hướng dẫn việc xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết và được dựa trên hướng dẫn của Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế (OECD), phù hợp với thông lệ quốc tế và phù hợp với thực tiễn tại Việt Nam. Cùng với đó, công tác tổ chức thực hiện cũng được quan tâm đẩy mạnh triển khai và bước đầu đã mang lại kết quả khả quan. Các FTA yêu cầu sự thay đổi đáng kể trong chính sách thuế, quản lý thuế của Việt Nam, đặc biệt là thuế nhập khẩu và các loại thuế gián thu khác như thuế GTGT, thuế TTĐB... Việc thay đổi chính sách thuế, quản lý thuế cần tuân thủ quy định của mỗi quốc gia thành viên. Các quy định thuế, thuế suất, mức thuế áp dụng cho từng loại hàng hóa, công tác miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, không thu thuế sẽ phải điều chỉnh sao cho phù hợp với cam kết quốc tế, đồng thời vẫn đảm bảo sự phát triển của các ngành sản xuất trong nước. Một số quy định tại Luật Quản lý thuế hiện hành không phù hợp với sự phát triển của nền tế, các hoạt động thương mại trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng của Việt Nam với các nước trong khu vực và thế giới, một số quy định chưa chi tiết dẫn đến cách hiểu chưa thống nhất.

(4) Từ phân tích tổng quan về cơ sở lý luận, kinh nghiệm của quốc tế, thực trạng của Việt Nam và dựa trên kết quả dự báo việc tham gia các Hiệp định FTA thế hệ mới của Việt Nam cũng như hoạt động XNK trong thời gian tới, đề tài đã đề xuất 08 nhóm giải pháp thực hiện các cam kết về thuế và đảm bảo số thu NSNN từ hoạt động XNK trong bối cảnh thực thi các FTA thế hệ mới, cụ thể: (i) Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp lý phục vụ công tác thu ngân sách từ hoạt động XNK, trong đó, tập trung vào việc sửa đổi, điều chỉnh, bãi bỏ các quy định không phù hợp với các cam kết quốc tế nhằm thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trong các FTA mà Việt Nam là thành viên, đồng thời tham mưu xây dựng hoàn thiện chính sách pháp luật về cải cách hệ thống chính sách thuế đáp ứng cam kết quốc tế tại các FTA thế hệ mới; (ii) Giải pháp tăng cường công tác kiểm soát gian lận thuế chống thất thu thuế, đảm bảo nguồn thu NSNN trong bối cảnh thực thi các FTA thế hệ mới, để thực hiện hiệu quả cần triển khai các giải pháp về điều hành thu ngân sách, chống gian lận, trốn thuế, nợ đọng thuế là vấn đề đặt ra đối với cơ quan chức năng trong thực thi chính sách, đảm bảo tính công bằng giữa các doanh nghiệp cũng như góp phần tăng thu NSNN; (iii) Giải pháp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ hiện đại trong thu ngân sách từ hoạt động XNK; (iv) Giải pháp tăng cường quản lý nguồn thu NSNN từ hoạt động XNK, để đảm bảo hiệu quả công tác thất thu thuế và giảm thiểu được việc thất thu NSNN do chính sách giảm thuế tại các FTA, cơ quan Hải quan cần tập trung nâng cao nghiệp vụ quản lý thuế và hiệu quả công tác thu NSNN; (v) Giải pháp nâng cao hiệu quả xác định trước trị giá hải quan khi thực hiện cam kết tại một số FTA thế hệ mới; (vi) Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tuân thủ đối với doanh nghiệp, quản lý tuân thủ đối với doanh nghiệp XNK của cơ quan Hải quan là phương thức quản lý tiên tiến, khoa học nhằm thực hiện các chức năng kiểm tra, kiểm soát hàng hóa XNK và tạo thuận lợi thương mại trong xu thế tự do thương mại; (vii) Giải pháp nâng cao hiệu quả kết nối và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan chuyên ngành trong công tác thu ngân sách từ hoạt động XNK; (viii) Giải pháp năng cường hợp tác quốc tế trong hoạt động chống buôn lậu và gian lận thương mại. Đồng thời, đề tài cũng đã đề xuất các kiến nghị với Chính phủ, Bộ Tài chính, các bộ, ngành liên quan ở trung ương và chính quyền địa phương nhằm thực hiện hiệu quả khi tham gia các FTA thế hệ mới.

5. Thông tin nghiệm thu và lưu trữ

- Nghiệm thu: Đề tài đã được Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu thông qua (Quyết định số 403/QĐ-BTC ngày 26/02/2025 của Bộ Tài chính về việc thành lập Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ KHCN cấp Bộ năm 2024).

  • Lưu trữ: Đề tài được đóng quyển, lưu trữ tại Thư viện Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính./.

ThS. Nguyễn Anh Tuấn

Cục Hải quan