Đề tài: Chính sách tài chính nhằm phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp ở Việt Nam
26/01/2026 14:57
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Kinh tế tuần hoàn (KTTH) đang trở thành xu hướng phát triển bền vững tại nhiều quốc gia trên thế giới. KTTH có thể áp dụng vào tất cả các ngành trong nền kinh tế, từ nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, dịch vụ, tài nguyên môi trường… Việt Nam chưa có mô hình KTTH mang đầy đủ nội hàm nhưng xét theo mục tiêu, nội dung thì đã xuất hiện mô hình hay phương thức kinh doanh mang những biểu hiện của KTTH từ rất sớm. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định xây dựng KTTH là một trong những định hướng phát triển đất nước trong giai đoạn 2021 - 2030. Phát triển nền kinh tế xanh, KTTH thân thiện với môi trường là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Quyết định số 150/QĐ-TTg, ngày 28/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã xác định: Việt Nam hướng tới nền sản xuất nông nghiệp có trách nhiệm, hiện đại, hiệu quả và bền vững; phát triển nông nghiệp sinh thái, hữu cơ, tuần hoàn, phát thải các-bon thấp, thân thiện với môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Mục tiêu đến năm 2030, giảm phát thải khí nhà kính 10% so với năm 2020.
Sau gần 40 năm đổi mới, nông nghiệp Việt Nam luôn là ngành kinh tế quan trọng đóng góp vào sự phát triển KT-XH của đất nước. Tuy nhiên, dưới tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nền nông nghiệp nước ta đang phải đối mặt với nhiều thách thức cho sự phát triển bền vững. Trong bối cảnh nguồn tài nguyên thiên nhiên đang dần cạn kiệt và tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng, việc thúc đẩy mô hình KTTH trong nông nghiệp là một xu hướng tất yếu, đồng thời là một giải pháp để phát triển nông nghiệp bền vững, hiệu quả. Trong lĩnh vực nông nghiệp, KTTH tuy đã mang lại kết quả cho cộng đồng, hệ sinh thái và môi trường nhưng chi phí đầu tư và sản xuất còn cao hơn so với nông nghiệp truyền thống nên chưa tạo được động lực để các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình phát triển theo mô hình này. Do đó việc nghiên cứu đề tài “Chính sách tài chính nhằm phát triển mô hình KTTH trong nông nghiệp ở Việt Nam” là cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong bối cảnh hiện nay.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài hệ thống hóa lý luận, phân tích, đánh giá thực trạng chính sách tài chính đối với mô hình KTTH trong nông nghiệp; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách tài chính nhằm phát triển mô hình KTTH trong nông nghiệp ở Việt Nam đến năm 2030.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chính sách tài chính nhằm phát triển mô hình KTTH trong nông nghiệp.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu chính sách tài chính (gồm chính sách chi ngân sách nhà nước (NSNN), chính sách thuế, phí, lệ phí, chính sách tín dụng và chính sách bảo hiểm) nhằm phát triển mô hình KTTH trong nông nghiệp ở Việt Nam (tập trung vào lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, chế biến, kết hợp sản xuất hàng hóa với dịch vụ du lịch sinh thái, không bao gồm lĩnh vực thủy sản); nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế tại một số nước như EU, Mỹ và Trung Quốc; đánh giá thực trạng trong giai đoạn 2018 - 2023 và đề xuất giải pháp đến năm 2030.
4. Kết quả nghiên cứu
(1) Đề tài đã tổng quan cơ sở lý luận về KTTH trong nông nghiệp, mô hình KTTH trong nông nghiệp. KTTH trong nông nghiệp là mô hình sản xuất nông nghiệp dựa trên áp dụng nguyên lý của KTTH, tập trung vào sản xuất hàng hóa, tạo ra sản phẩm an toàn, chất lượng, hiệu quả cao trên cơ sở tận dụng và tái sử dụng tối đa các phế phụ phẩm và giảm tới mức thấp nhất lượng chất thải ra môi trường hoặc không có chất thải. Mô hình KTTH trong nông nghiệp có các đặc điểm: Bảo tồn và phát triển vốn tự nhiên thông qua việc kiểm soát, nhằm sử dụng hợp lý các tài nguyên và tái tạo các hệ thống tự nhiên, đẩy mạnh sử dụng năng lượng tái tạo; tối ưu hóa lợi tức của tài nguyên bằng cách tuần hoàn các sản phẩm và vật liệu nhiều nhất có thể trong các chu trình kỹ thuật và sinh học; nâng cao hiệu suất chung của toàn hệ thống bằng cách tối thiểu hóa các ngoại ứng tiêu cực, thông qua thiết kế chất thải, chất gây ô nhiễm ngay từ đầu của quá trình sản xuất; mô hình KTTH giúp nâng cao tính cạnh tranh của nền sản xuất nông nghiệp. Nguyên tắc của KTTH trong nông nghiệp được xây dựng trên nguyên tắc của KTTH chung và đặc điểm riêng của quy trình sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp, theo đó gồm 03 nguyên tắc cơ bản: (i) Thiết kế loại bỏ chất thải và ô nhiễm; (ii) Đảm bảo kéo dài vòng đời của sản phẩm; (iii) Bảo tồn và phục hồi các hệ sinh thái, tái tạo các hệ thống tự nhiên, tạo ra nền nông nghiệp tái sinh. Có 05 tiêu chí đánh giá mô hình KTTH trong nông nghiệp gồm: Tiêu chí giảm ô nhiễm môi trường (R1); tiêu chí tái sử dụng (R2); tiêu chí tái sản xuất (R3); tiêu chí phục hồi hệ sinh thái (R4); tiêu chí sử dụng năng lượng tái tạo (R5).
Đề tài cũng đưa ra khái niệm, phân loại, vai trò của chính sách tài chính; phân tích nội dung của chính sách tài chính và các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách tài chính nhằm phát triển mô hình KTTH trong nông nghiệp. Theo đó, chính sách tài chính nhằm phát triển mô hình KTTH trong nông nghiệp là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, nguyên tắc, giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động tới các đối tượng và khách thể quản lý nhằm hình thành, phân bổ, sử dụng các nguồn lực tài chính cho phát triển mô hình KTTH trong nông nghiệp theo định hướng chiến lược phát triển KT-XH của quốc gia.
Chính sách chi NSNN nhằm phát triển mô hình KTTH trong nông nghiệp gồm phân bổ NSNN (ngân sách trung ương và ngân sách địa phương) hằng năm cho đầu tư công thông qua các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng như thủy lợi, cầu đường, hạ tầng công nghệ thông tin, hạ tầng điện, nước, hạ tầng khu công nghệ cao, các trung tâm nghiên cứu, phòng thí nghiệm, ứng dụng nghiên cứu và phát triển (R&D); đầu tư vốn cho doanh nghiệp nhà nước tham gia sản xuất sản phẩm của KTTH trong nông nghiệp; ngân sách mua sắm công xanh của Chính phủ nhằm thu hút các khoản đầu tư vào mô hình KTTH trong nông nghiệp; NSNN xây dựng quỹ phát triển khoa học công nghệ hoặc tài trợ cho các chương trình R&D gắn với phát triển mô hình KTTH trong nông nghiệp; phân bổ NSNN để hình thành các quỹ hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp chuyển đổi từ mô hình nông nghiệp tuyến tính sang mô hình KTTH trong nông nghiệp; phân bổ NSNN để tài trợ cho các hoạt động tuyên truyền, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; phân bổ NSNN để hỗ trợ lãi suất (một phần hoặc toàn phần) đối với một số chương trình cho vay ưu đãi của ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng cho các dự án sản xuất KTTH trong nông nghiệp.
Chính sách thuế, phí nhằm phát triển mô hình KTTH trong nông nghiệp gồm chính sách thuế gián thu tác động điều chỉnh hành vi nhà sản xuất, nhà cung ứng và người tiêu dùng (người dân, tổ chức hoặc Chính phủ) theo hướng khuyến khích hoặc hạn chế (tạo rào cản) và thuế trực thu đánh vào các nhà sản xuất nhằm tạo ưu đãi, khuyến khích đầu tư và chuyển dịch từ đầu tư vào nông nghiệp tuyến tính sang mô hình KTTH trong nông nghiệp.
Chính sách tín dụng nhằm phát triển mô hình KTTH trong nông nghiệp gồm các chính sách phát triển hệ thống ngân hàng và công ty bảo hiểm nhằm cung cấp các giải pháp tài chính và dịch vụ tư vấn để hỗ trợ tốt hơn cho các doanh nghiệp trong quá trình chuyển đổi sang KTTH trong nông nghiệp; chính sách bảo lãnh tín dụng hoặc cung cấp các khoản vay tài trợ trực tiếp cho hoạt động của KTTH trong nông nghiệp.
Chính sách bảo hiểm nông nghiệp đề cập đến nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ có đối tượng bảo hiểm là các rủi ro phát sinh trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và đời sống nông thôn, bao gồm những rủi ro gắn liền với cây trồng, vật nuôi, vật tư, hàng hóa, nguyên vật liệu, nhà xưởng cũng giúp phát triển mô hình KTTH trong nông nghiệp.
(2) Đề tài đã nghiên cứu, phân tích kinh nghiệm quốc tế của một số quốc gia có mô hình phát triển KTTH trong nông nghiệp và việc sử dụng các chính sách tài chính để phát triển mô hình này (EU, Mỹ, Trung Quốc). EU đã triển khai nhiều biện pháp hỗ trợ tài chính nhằm khuyến khích nông dân áp dụng thực hành nông nghiệp tuần hoàn như: Cung cấp các khoản trợ cấp cho công nghệ canh tác chính xác, giảm sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu, tăng cường hiệu quả sử dụng tài nguyên; tài trợ cho các nghiên cứu nhằm tối ưu hóa hệ thống quản lý phân bón, phát triển các phương pháp chăn nuôi và canh tác bền vững, tận dụng và tái chế các chất thải nông nghiệp; hỗ trợ đào tạo và tư vấn cho nông dân về quản lý đất đai, kỹ thuật chăn nuôi bền vững, sử dụng các phương pháp canh tác tiết kiệm năng lượng. Tương tự, Mỹ cũng cung cấp các khoản vay ưu đãi, với mức lãi suất thấp, điều kiện trả nợ linh hoạt giúp nông dân và doanh nghiệp áp dụng nông nghiệp tuần hoàn, cải thiện kỹ thuật sản xuất, tăng cường hiệu suất sử dụng tài nguyên, giảm thiểu lãng phí; giảm thuế cho các doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ xanh và tái chế trong nông nghiệp. Trung Quốc áp dụng các chính sách tài chính nhằm khuyến khích tái chế và sử dụng rộng rãi các sản phẩm phế thải từ các hoạt động nông nghiệp và chăn nuôi; nâng cấp cơ sở hạ tầng nông thôn, thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh thái và nông nghiệp tuần hoàn, bảo vệ tính toàn vẹn và sự ổn định của các hệ sinh thái nông thôn. Qua nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, đề tài đã rút ra một số bài học cho Việt Nam, cụ thể là: Huy động nguồn lực từ phía Nhà nước thông qua các chính sách: Chi NSNN hỗ trợ cho chuyển đổi mô hình sản xuất từ truyền thống sang mô hình KTTH, chính sách trợ giá cho năng lượng tái tạo...; chính sách mua sắm công xanh nhằm khuyến khích khu vực Nhà nước tiêu thụ các sản phẩm của mô hình KTTH cũng như các sản phẩm sạch, áp dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường; cung cấp các gói hỗ trợ lãi suất cho các dự án theo mô hình KTTH thông qua các quỹ tín dụng nhà nước; các chính sách thuế hạn chế các chất gây hại với môi trường... Huy động nguồn lực từ thị trường thông qua chính sách tạo thị trường vốn xanh là một kênh dẫn dắt, huy động vốn cho doanh nghiệp nhằm khuyến khích phát triển mô hình KTTH thông qua việc thúc đẩy tái chế sản phẩm, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, sử dụng công nghệ sạch, tiên tiến và thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo.
(3) Đề tài đã tổng quan các mô hình KTTH trong ngành nông nghiệp ở Việt Nam, gồm mô hình tiết giảm, tái chế chất thải trong nông nghiệp, mô hình chuyển đổi và kết nối chuỗi sinh thái, mô hình thiết kế không rác thải ô nhiễm. Đề tài đã phân tích, đánh giá thực trạng chính sách tài chính nhằm phát triển mô hình KTTH trong nông nghiệp ở Việt Nam. Nhiều chủ trương, chính sách ưu đãi đầu tư từ NSNN vào nông nghiệp đã được ban hành như: (i) Chính sách chi NSNN phân bổ hằng năm (ngân sách trung ương và ngân sách địa phương) cho đầu tư công thông qua các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng để phát triển mô hình KTTH trong nông nghiệp; (ii) NSNN hỗ trợ xây dựng quỹ phát triển khoa học công nghệ hoặc tài trợ cho các chương trình nghiên cứu và phát triển (R&D) gắn với phát triển mô hình KTTH trong nông nghiệp; (iii) NSNN phân bổ để hình thành các quỹ hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp chuyển đổi từ mô hình nông nghiệp truyền thống sang mô hình KTTH trong nông nghiệp; (iv) Phân bổ NSNN để tài trợ cho các hoạt động tuyên truyền, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực nhằm nâng cao nhận thức của doanh nghiệp, người lao động, người tiêu dùng và cộng đồng, giúp nền kinh tế chuyển dịch sang mô hình KTTH trong nông nghiệp một cách nhanh chóng; (v) Phân bổ NSNN hỗ trợ lãi suất (một phần hoặc toàn phần) đối với một số chương trình cho vay ưu đãi của ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng, quỹ tín dụng nhân dân hoặc các tổ chức tài chính vi mô cho các dự án sản xuất KTTH trong nông nghiệp.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư công cho nông nghiệp, nông thôn đã được ban hành tương đối đầy đủ nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả đầu tư công cho nông nghiệp, nông thôn, bao gồm các chính sách khuyến khích phát triển, hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Chính sách hỗ trợ đầu tư vào nông nghiệp nói chung và nông nghiệp theo chuỗi giá trị nói riêng gồm hỗ trợ miễn, giảm tiền sử dụng đất; miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước; hỗ trợ tập trung đất đai; hỗ trợ nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao; hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, phát triển thị trường; hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng; hỗ trợ chi phí tư vấn xây dựng liên kết...
Luật Bảo vệ môi trường hiện hành quy định việc đánh thuế vào một số sản phẩm mà quá trình sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh, lưu trữ và tiêu dùng có những tác hại nhất định đến môi trường sinh thái. Việc đánh thuế bảo vệ môi trường đối với một số sản phẩm này đã thể hiện mục tiêu nhằm bảo vệ môi trường sinh thái, góp phần thay đổi nhận thức của con người trong việc sử dụng các loại hóa chất vào sản xuất nông nghiệp, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp sang phát triển nông nghiệp sạch trong phát triển kinh tế bền vững. Các quy định pháp lý về thuế mang tính chất gián thu tác động đến hành vi của nhà sản xuất như thuế bảo vệ môi trường, thuế tài nguyên, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với các sản phẩm gây ô nhiễm, phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản, nước thải, chất thải rắn cũng góp phần thúc đẩy các cơ sở sản xuất nông nghiệp đầu tư mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp sạch, nông nghiệp ứng dụng cao theo hướng tuần hoàn.
Tuy nhiên, nguồn lực đầu tư từ NSNN cho nông nghiệp, nông thôn còn hạn chế, mới đáp ứng 55 - 60% nhu cầu; cơ chế, chính sách về công nhận, giám sát, đánh giá nhà thầu đáp ứng tiêu chí xanh chưa hoàn thiện; chính sách thuế giá trị gia tăng chưa thực sự tạo thuận lợi cho cơ sở sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị; sự khác biệt về cách tính thuế sử dụng đất nông nghiệp và thuế sử dụng đất phi nông nghiệp tạo ra sự phức tạp về chính sách, thiếu công bằng về nghĩa vụ thuế trong việc sử dụng đất... Nguyên nhân của những hạn chế nêu trên là do hệ thống thể chế, chính sách liên quan đến hỗ trợ chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang mô hình KTTH trong nông nghiệp chưa đồng bộ, hoàn chỉnh; các tiêu chí đánh giá và công cụ đo lường về tính tuần hoàn trong sản xuất nông nghiệp còn khuyết thiếu; thị trường tín chỉ các-bon trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam chưa thực sự phát triển...
(4) Đề tài đã phân tích làm rõ các quan điểm, định hướng và mục tiêu hoàn thiện chính sách tài chính phát triển mô hình KTTH trong nông nghiệp ở Việt Nam. Đề tài đề xuất các giải pháp về chính sách tài chính nhằm phát triển mô hình KTTH trong nông nghiệp ở Việt Nam đến năm 2030, cụ thể là: (i) Tăng cường, đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư cho Quỹ bảo vệ môi trường. Thúc đẩy sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường; (ii) Hoàn thiện các cơ chế, chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư bảo vệ môi trường; triển khai mạnh mẽ mô hình hợp tác công - tư (PPP), thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn vay ưu đãi, vốn hỗ trợ phát triển từ các tổ chức quốc tế và Chính phủ các nước cho bảo vệ môi trường; (iii) Tăng dần mức thu tương ứng với mức độ hưởng lợi từ môi trường hoặc mức độ gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, góp phần giảm gánh nặng đầu tư cho bảo vệ môi trường từ NSNN, tạo nguồn tài chính bền vững cho bảo vệ môi trường; (iv) Nâng mức thuế đánh vào hàng hóa thuộc diện chịu thuế nhằm hạn chế sử dụng những sản phẩm, hàng hóa gây ô nhiễm môi trường trong sản xuất nông nghiệp; (v) Nghiên cứu phương án đánh thuế các-bon, thuế nhiên liệu đánh vào các chất đốt, nguyên liệu hóa thạch, phát triển thị trường tín chỉ các-bon nhằm tạo động lực tìm kiếm các nguồn năng lượng thay thế không phát thải hoặc phát thải ít; (vi) Tăng mức ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp cho các doanh nghiệp, dự án cung ứng sản phẩm hỗ trợ mô hình kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp; (vii) Mở rộng đối tượng không phải chịu thuế giá trị gia tăng đối với các sản phẩm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; (viii) Giảm mức lãi suất vay vốn, tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với phần nguồn vốn ngân hàng huy động cho vay dự án, ưu đãi tái cấp vốn, tái chiết khấu cho mục đích tín dụng xanh phù hợp với mục tiêu, biện pháp điều hành chính sách tiền tệ, các khoản vay này được ưu tiên về thời hạn và nguồn vốn cho vay so với các lĩnh vực khác; (ix) Mở rộng ưu đãi cho các doanh nghiệp thực hiện cung cấp các loại hình bảo hiểm nông nghiệp hoặc có trên 50% doanh thu từ loại hình bảo hiểm nông nghiệp như các doanh nghiệp này được ưu tiên cấp giấy phép hoạt động sớm hơn, được ưu đãi trong vay vốn, miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc thuế giá trị gia tăng trong thời gian nhất định (từ 3 - 5 năm đầu khi doanh nghiệp mới bắt đầu kinh doanh)...
Ngoài ra, đề tài cũng đưa ra một số kiến nghị như: (i) Sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 theo hướng nâng thuế suất đánh vào hàng hóa thuộc diện chịu thuế (phân bón hóa học, chất tẩy rửa, chất kích thích tăng trưởng...) nhằm tác động đến tình trạng ô nhiễm môi trường trong sản xuất nông nghiệp theo mức tối thiểu và tối đa được quy định trong khoảng từ 3 - 10% giá bán sản phẩm tùy theo mức độ gây ô nhiễm của sản phẩm; (ii) Rà soát, điều chỉnh các quy định về phạm vi, điều kiện áp dụng hình thức ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với dự án đầu tư nông nghiệp được quy định tại Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp số 32/2013/QH13 theo hướng thống nhất với quy định của Luật Đầu tư số 61/2020/QH14. Đồng thời, tăng mức ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp, dự án cung ứng sản phẩm hỗ trợ mô hình KTTH trong nông nghiệp thông qua sản xuất phân bón hữu cơ, tăng cường khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu của hệ thống công trình thủy lợi, cung ứng giống cây trồng, vật nuôi có giá trị gia tăng cao, có khả năng chống chịu tốt với biến đổi khí hậu, nhằm tạo ra sự ưu đãi khác biệt giữa các doanh nghiệp, dự án hoạt động trong lĩnh vực KTTH trong nông nghiệp với các doanh nghiệp, dự án khác.
5. Thông tin nghiệm thu và lưu trữ
- Nghiệm thu: Đề tài đã được Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu thông qua (Quyết định số 223/QĐ-BTC ngày 17/02/2025 của Bộ Tài chính về việc thành lập Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ KHCN cấp Bộ năm 2024).
- Lưu trữ: Đề tài được đóng quyển, lưu trữ tại Thư viện Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính./.
PGS.TS. Nguyễn Đào Tùng
Học viện Tài chính