Đề tài: Ảnh hưởng của chính sách tài chính ứng phó biến đổi khí hậu đến tăng trưởng kinh tế

27/01/2026 10:30


1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Biến đổi khí hậu đang trở thành một trong những thách thức lớn đối với sự ổn định và an ninh tài chính quốc gia. Những thay đổi về nhiệt độ khí quyển, cùng với mức độ nghiêm trọng trong việc gia tăng các hiện tượng khí hậu như bão, cháy rừng và lũ lụt, đặt ra nguy cơ đáng kể đối với hệ thống tài chính. Thiên tai làm suy giảm khả năng trả nợ của hộ gia đình và doanh nghiệp, tạo áp lực lớn lên hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính. Ngoài ra, sự chuyển đổi nhanh chóng sang nền kinh tế các- bon thấp, dưới tác động của chính sách khí hậu và công nghệ mới, có thể gây tổn hại cho các doanh nghiệp phát thải lớn và các tổ chức tài chính liên quan.  

Trên thực tế, các vấn đề về biến đổi khí hậu đã bắt đầu được đưa vào các chính sách tài chính và hoạt động giám sát tài chính nhằm ứng phó hiệu quả hơn với các tác động khí hậu. Các ngân hàng và cơ quan giám sát tài chính phải lựa chọn giữa việc hệ thống tài chính phải đối mặt với rủi ro khí hậu hay đóng vai trò chủ động hơn bằng cách thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế các-bon thấp và góp phần giảm thiểu biến đổi khí hậu. Do đó, các ngân hàng và các cơ quan giám sát tài chính cần đóng góp vào việc lượng hóa các rủi ro liên quan đến khí hậu, hiện chưa được định giá bởi các tác nhân tài chính và thực hiện các biện pháp giúp các tổ chức tài chính và ngân hàng giảm nguy cơ đối mặt với những rủi ro biến đổi khí hậu gây ra cho hệ thống tài chính và nền kinh tế. 

Tại Việt Nam, tình trạng biến đổi khí hậu đã và đang tiếp tục gây ra nhiều vấn đề phức tạp, trong đó có các mô hình sản xuất và tiêu dùng không bền vững dẫn đến chất thải có thể gây hại cho sức khỏe và môi trường. Cùng với tốc độ gia tăng dân số, quá trình đô thị hóa nhanh chóng, công nghiệp hóa mạnh mẽ và sự dịch chuyển dân cư từ nông thôn ra thành thị, công tác quản lý chất thải rắn đang trở thành một thách thức ngày càng cấp thiết, đặc biệt tại các đô thị phát triển nhanh ở Việt Nam cũng như tại nhiều quốc gia đang phát triển khác. Những yếu tố này góp phần làm gia tăng tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu tại Việt Nam. Xuất phát từ các lý do trên nhóm nghiên cứu đã chọn đề tài “Ảnh hưởng của chính sách tài chính ứng phó biến đổi khí hậu đến tăng trưởng kinh tế” để thực hiện với kỳ vọng hoàn thiện chính sách tài chính liên quan đến bảo vệ môi trường, hạn chế tác động xấu của biến đổi khí hậu đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của chính sách tài chính ứng phó biến đổi khí hậu đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam; mối quan hệ giữa chính sách tài chính ứng phó biến đổi khí hậu và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam bằng mô hình kinh tế lượng đa chiều; nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia trong triển khai chính sách tài chính ứng phó biến đổi khí hậu góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và rút ra bài học cho Việt Nam. Từ kết quả nghiên cứu, đề tài đề xuất các hàm ý để hoàn thiện chính sách tài chính, giải pháp hạn chế biến đổi khí hậu để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Chính sách tài chính ứng phó biến đổi khí hậu tác động đến tăng trưởng kinh tế.

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về những vấn đề lý luận và thực tiễn của chính sách tài chính (thu, chi tài chính) ứng phó biến đổi khí hậu và tăng trưởng kinh tế, các giải pháp hoàn thiện chính sách tài chính hạn chế biến đổi khí hậu để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu chính sách tài chính ứng phó biến đổi khí hậu và tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Thời gian nghiên cứu trong giai đoạn 1990 - 2024, đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2025 - 2030.

4. Kết quả nghiên cứu

(1) Đề tài đã tổng quan cơ sở lý luận về chính sách tài chính, biến đổi khí hậu và tăng trưởng kinh tế: Về chính sách tài chính, đề tài đã làm rõ khái niệm về chính sách tài chính, mục tiêu của chính sách tài chính, các thành phần của chính sách tài chính bao gồm các chủ trương, biện pháp của chính sách tài chính nhằm đạt được các mục tiêu của nền kinh tế. Cấu thành của chính sách tài chính quốc gia bao gồm chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ. Bên cạnh đó, đề tài phân tích thành phần, những ưu điểm, nhược điểm, mục tiêu và cơ chế dẫn truyền của các chính sách. Việc phân tích sự truyền tải chính sách tiền tệ đã chứng minh những thay đổi của chính sách tiền tệ ảnh hưởng như thế nào đến tăng trưởng kinh tế. Mục tiêu của cơ quan quản lý tiền tệ là nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, nguồn vốn phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả của việc điều hành các chính sách tài chính đặc biệt là chính sách tiền tệ; Về biến đổi khí hậu, đề tài đã khái quát biến đổi khí hậu, các tác động của biến đổi khí hậu là vấn đề chung của các quốc gia toàn cầu, không riêng Việt Nam, nó ảnh hưởng đến mọi quốc gia, mọi mặt của kinh tế - xã hội và mọi cá nhân trên thế giới. Đây không chỉ là vấn đề môi trường mà còn là vấn đề kinh tế, xã hội và chính trị, đòi hỏi sự hợp tác và hành động quyết liệt từ tất cả các bên liên quan từ chính phủ, doanh nghiệp cho đến mỗi cá nhân. Một trong những thách thức rất lớn đối với sự tồn vong của nhân loại trong thế kỷ XXI; Về tăng trưởng kinh tế, đề tài đã khái quát, phân tích các nhân tố, đo lường tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, đề tài cũng tập trung phân tích mối quan hệ giữa chính sách tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng kinh tế, trong đó, tập trung phân tích các kênh tác động và các nhân tố ảnh hưởng tác động của chính sách tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu đến tăng trưởng kinh tế. Chính sách tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu có tác động sâu rộng đến tăng trưởng kinh tế thông qua nhiều kênh khác nhau, bao gồm các công cụ thu - chi của chính phủ, tín dụng của ngân hàng thương mại, huy động quỹ tài chính xanh và công cụ của ngân hàng trung ương. Các chính sách này không chỉ giúp giảm phát thải khí nhà kính mà còn tạo động lực cho đổi mới sáng tạo, nâng cao hiệu suất kinh tế và thúc đẩy phát triển bền vững. Tuy nhiên, để tối ưu hóa tác động của các chính sách này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính phủ, khu vực tài chính và doanh nghiệp nhằm đảm bảo nguồn vốn được phân bổ hiệu quả và các biện pháp tài chính xanh được triển khai một cách đồng bộ và bền vững.

(2) Đề tài đã nghiên cứu kinh nghiệm về các chính sách tài chính ứng phó biến đổi khí hậu và tác động của chúng đối với tăng trưởng kinh tế tại một số quốc gia châu Âu và Mỹ. Trong đó, phân tích quá trình thực hiện chính sách tài chính ứng phó biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia châu Âu và Mỹ. Một số chính sách tài chính hạn chế biến đổi khí hậu của các quốc gia. Trong những năm gần đây, các chính sách tài chính ứng phó biến đổi khí hậu, hướng đến sản xuất xanh cũng ngày càng trở nên đa dạng. Một số chính sách tài chính ứng phó biến đổi khí hậu phổ biến được sử dụng tại các quốc gia trên thế giới bao gồm: Cho vay các đối tượng mục tiêu, trái phiếu xanh, bảo lãnh cho vay, bảo hiểm chỉ số thời tiết, các ưu đãi về thuế, giá mua ưu đãi cho các dự án năng lượng tái tạo, hậu thuẫn của các ngân hàng phát triển của quốc gia, Quỹ khí hậu quốc gia, công bố thông tin. Để đánh giá hiệu quả của các chính sách trên, Rooijen và Wees (2006); Bhandary và cộng sự (2021) đã đề xuất 05 tiêu chí đánh giá khác nhau bao gồm: Tính ổn định, tính đơn giản, tính minh bạch, tính nhất quán và khả năng phối hợp với các chính sách khác; khả năng thích ứng. Từ kinh nghiệm của các quốc gia, đề tài đã rút ra sáu bài học quan trọng về chính sách tài chính nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu, từ đó tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, bao gồm: (i) Nhận thức và chiến lược tổng thể là yếu tố nền tảng, cần được thực hiện từ cấp lãnh đạo đến toàn xã hội. Các quốc gia thành công trong lĩnh vực này thường kết hợp nhiều công cụ chính sách khác nhau, bao gồm hành chính, kinh tế và công nghệ để hạn chế phát thải khí nhà kính. Việc xây dựng khung pháp lý chặt chẽ, tạo động lực cho các tổ chức và doanh nghiệp chuyển đổi mô hình hoạt động sang nền kinh tế xanh là một trong những bước đi quan trọng; (ii) Chính sách thu ngân sách liên quan đến môi trường, gồm: Thuế carbon, thuế môi trường, hệ thống cấp phép và đấu giá phát thải, phí bảo vệ môi trường. Những chính sách này giúp giảm phát thải, khuyến khích công nghệ sạch và tạo nguồn thu cho ngân sách, đồng thời thúc đẩy hành vi tiêu dùng và sản xuất thân thiện với môi trường; (iii) Chính sách chi tiêu công hỗ trợ tăng trưởng xanh, chính phủ có thể sử dụng nguồn ngân sách để tài trợ và hỗ trợ cho các chương trình giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu như đầu tư vào hạ tầng xanh, trợ cấp cho doanh nghiệp xanh, chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển và hỗ trợ thích ứng với biến đổi khí hậu; (iv) Hình thành các quỹ tài chính xanh, các quốc gia đã triển khai nhiều sáng kiến tài chính xanh để huy động nguồn lực ứng phó với biến đổi khí hậu như: quỹ bảo vệ môi trường quốc gia, quỹ thích ứng khí hậu, quỹ đầu tư xanh, quỹ tín dụng xanh; (v) Vai trò của ngân hàng trung ương và hệ thống tài chính trong chính sách tài chính ứng phó biến đổi khí hậu và tăng trưởng kinh tế, bao gồm: Chính sách lãi suất ưu đãi, dự trữ bắt buộc xanh, phát hành trái phiếu xanh, giám sát rủi ro khí hậu; (vi) Cải thiện chuỗi cung ứng và đổi mới công nghệ: Việc tổ chức lại chuỗi cung ứng và cập nhật công nghệ là một trong những giải pháp hiệu quả giúp doanh nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu. Những bài học kinh nghiệm từ các quốc gia cho thấy rằng việc kết hợp chính sách tài chính, đổi mới công nghệ, huy động vốn và nâng cao nhận thức cộng đồng là chìa khóa để ứng phó với biến đổi khí hậu một cách hiệu quả. Khi được triển khai đúng cách, các chính sách này không chỉ giúp giảm tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu mà còn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng bền vững. Việt Nam có thể tận dụng những kinh nghiệm này để xây dựng lộ trình phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội trong nước, đảm bảo phát triển bền vững và thích ứng với các thách thức khí hậu trong tương lai.

(3) Đề tài đã phân tích, làm rõ ảnh hưởng của chính sách tài chính ứng phó biến đổi khí hậu đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Trong đó, phân tích theo các vùng kinh tế Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ, và một số tỉnh thành của Việt Nam. Trong những năm qua, hệ thống pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu của Việt Nam tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện, từng bước xây dựng cơ sở hành lang pháp lý cho hoạt động huy động nguồn lực tài chính cho ứng phó với BĐKH. Đặc biệt là Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI và Nghị quyết số 08/NQ-CP ngày 23/01/2014 của Chính phủ đã đề ra các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu. Chính sách tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam bao gồm nguồn tài chính từ ngân sách nhà nước trung ương và địa phương, chi từ các quỹ hỗ trợ trong nước và quốc tế, đầu tư của doanh nghiệp cho các lĩnh vực liên quan đến biến đổi khí hậu, đầu tư của các cá nhân, hộ gia đình. Tuy nhiên việc huy động và sử dụng nguồn vốn cho ứng phó biến đổi khí hậu tại Việt Nam vẫn còn gặp phải một số hạn chế và đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, bao gồm: Nguồn lực nhà nước chưa đáp ứng yêu cầu để nâng cao năng lực cả về cơ sở hạ tầng, thể chế và nguồn nhân lực cho ứng phó với biến đổi khí hậu; năng lực để tiếp cận các quỹ tài chính quốc tế của Việt Nam và việc tham gia các cơ chế quốc tế để huy động nguồn lực ứng phó biến đổi khí hậu còn hạn chế; chưa đẩy mạnh được sự tham gia của khu vực tư nhân vào quá trình thực hiện các dự án thích ứng với biến đổi khí hậu, đa phần các nhà tài trợ chưa sẵn sàng công khai các tài liệu dự án, đa phần các dự án chưa xem xét đầy đủ bối cảnh và thường xuyên cập nhật tính dễ bị tổn thương gắn với với các can thiệp cũng như những đối tượng chịu tác động của dự án, chưa quan tâm tới việc lồng ghép các mục tiêu quan trọng khác như xóa đói, giảm nghèo, bình đẳng giới và các nguyên tắc chung thực hiện thích ứng trong thiết kế dự án. Đề tài cũng sử dụng mô hình kinh tế lượng để kiểm định tác động của chính sách tài chính ứng phó biến đổi khí hậu đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, xây dựng giả thuyết về mức độ tác động, xây dựng mô hình kiểm định bao gồm Mô hình VECM, Mô hình NARDL. Kết quả thực nghiệm của đề tài cho thấy sự tồn tại của mối liên hệ dài hạn giữa các biến cơ bản, có sự đánh đổi giữa mục tiêu kinh tế và biến đổi khí hậu ở Việt Nam, hàm ý rằng trong ngắn hạn, tăng trưởng kinh tế sẽ gây thiệt hại cho môi trường và tác động tiêu cực này kéo dài sau đó. Đây là điều khá đáng báo động và cho thấy chính phủ cần xem xét lại chính sách tài chính về tình trạng khẩn cấp về khí hậu, nên sắp xếp lại cơ cấu các ngành của nền kinh tế theo chiều hướng gia tăng sản xuất xanh và sạch. 

(4) Đề tài đã phân tích rõ định hướng và giải pháp xây dựng chính sách tài chính ứng phó biến đổi khí hậu nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Trong bối cảnh thiên tai có xu hướng tăng về tần suất và mức độ, tác động đến phát triển kinh tế - xã hội, trên cơ sở các chính sách tài chính và bảo hiểm rủi ro thiên tai đã có, kết hợp với khuyến nghị của các tổ chức quốc tế, chính sách tài chính và bảo hiểm
rủi ro thiên tai của Việt Nam được định hướng vào những trọng tâm. Chiến lược tài chính đến năm 2030 (được ban hành kèm theo Quyết định số 368/QĐ-TTg ngày 21/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ) đặt ra mục tiêu huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính, giải quyết hài hòa các vấn đề phát triển kinh tế, xã hội và môi trường, đảm bảo an ninh, quốc phòng và an sinh xã hội. Đề tài đề xuất 03 nhóm giải pháp chính sách tài chính ứng phó với biến đổi khí hậu nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam bao gồm: (i) Chiến lược quốc gia Tài chính cho ứng phó với biến đổi khí hậu của Việt Nam; (ii) Nhóm giải pháp tổng thể chính sách tài chính nhằm ứng phó biến đổi khí hậu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam: Chủ động thích nghi, ứng phó; tích cực triển khai giảm nhẹ phát thải khí nhà kính; tăng cường năng lực, hoàn thiện cơ chế, chính sách; (iii) Nhóm giải pháp cụ thể chính sách tài chính nhằm ứng phó biến đổi khí hậu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam: Nhiều ưu đãi về chính sách thuế; hoàn thiện chính sách tài chính liên quan đến bảo vệ môi trường; định hình tương lai năng lượng xanh và bền vững; cân bằng phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, giải pháp năng lượng tái tạo; ứng phó biến đổi khí hậu; hoàn thiện chính sách pháp lý, cơ chế tài chính xanh ưu đãi.

5. Thông tin nghiệm thu và lưu trữ

- Nghiệm thu: Đề tài đã được Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu thông qua (Quyết định số 128/QĐ-BTC ngày 23/01/2025 của Bộ Tài chính về việc thành lập Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ KHCN cấp Bộ năm 2024).

- Lưu trữ: Đề tài được đóng quyển, lưu trữ tại Thư viện Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính./.

PGS.TS. Lê Thị Thuý Hằng

Trường Đại học Tài chính - Marketing