Đề tài: Huy động nguồn lực tài chính thúc đẩy phát triển hợp tác xã ở Việt Nam
15/01/2026 15:10
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Hợp tác xã (HTX) có vai trò, vị trí quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, HTX đã được phát triển cả về số lượng và chất lượng, có nhiều sự thay đổi phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường. HTX thuộc các lĩnh vực khác nhau trên cả nước đều có những hoạt động hiệu quả, mang lại lợi ích cho chính các thành viên của HTX, đồng thời, đóng góp cho phát triển kinh tế, phát triển nông nghiệp nông thôn, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động; qua đó từng bước củng cố vị trí, vai trò quan trọng của khu vực kinh tế tập thể, HTX trong nền kinh tế thị trường. Theo số liệu báo cáo của Liên minh HTX Việt Nam, đến hết năm 2022, cả nước có 29.378 HTX, trong đó có 19.384 HTX nông nghiệp (chiếm 68,8%); 8.456 HTX phi nông nghiệp (chiếm 29,1%); 1.181 quỹ tín dụng nhân dân (chiếm 4,1%). Các HTX thu hút khoảng 6,4 triệu thành viên với 2,6 triệu lao động. Tổng vốn điều lệ của các HTX khoảng 54,15 nghìn tỷ đồng (bình quân 1,86 tỷ đồng/HTX). Tổng giá trị tài sản của các HTX khoảng 187,75 nghìn tỷ đồng (bình quân 6,5 tỷ đồng/HTC). HTX đã góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững, xây dựng nông thôn mới, tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội. Tuy nhiên, HTX cũng phải đối với mặt với nhiều thách thức, khó khăn. Một bộ phận lớn HTX có quy mô nhỏ, vốn ít, chưa có uy tín và thương hiệu trên thị trường, năng lực quản trị của HTX còn yếu. Một trong những nguyên nhân chính là do nguồn lực tài chính thúc đẩy phát triển các HTX hạn chế so với tiềm năng phát triển của khu vực này. Khu vực kinh tế HTX huy động vốn từ các ngân hàng thương mại chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn (ngoại trừ Agribank, Vietinbank có mức dư nợ trên 1.000 tỷ đồng, còn các ngân hàng khác chỉ dao động từ vài chục đến vài trăm tỷ đồng, thậm chí một số ngân hàng chỉ có vài tỷ đồng); Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX còn khó khăn trong huy động vốn. Vì vậy, việc lựa chọn đề tài nghiên cứu “Huy động nguồn lực tài chính thúc đẩy phát triển hợp tác xã ở Việt Nam” là cần thiết, có ý nghĩa lý luận và đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn, phân tích và đánh giá thực trạng, đề tài đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường huy động nguồn lực tài chính thúc đẩy phát triển HTX ở Việt Nam trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Huy động nguồn lực tài chính thúc đẩy phát triển HTX.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu, phân tích về huy động các nguồn lực tài chính thúc đẩy phát triển HTX ở Việt Nam (dữ liệu khảo sát không bao gồm các HTX tín dụng) trong giai đoạn 2018 - 2022 và đề xuất giải pháp, kiến nghị đến năm 2030.
4. Kết quả nghiên cứu
(1) Đề tài đã tổng quan những vấn đề chung về HTX và huy động nguồn lực tài chính thúc đẩy phát triển HTX, làm rõ được khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc hoạt động của HTX; đưa ra các chỉ tiêu đánh giá phát triển HTX. Theo đó, để phát triển HTX thì nguồn lực tài chính có thể được xem là một yếu tố đầu vào quan trọng. Nguồn lực tài chính bao gồm cả tiền tệ, các nguồn vật lực và các tài sản khác được quy đổi thành tiền để thúc đẩy phát triển HTX. Phương thức huy động vốn được thực hiện thông qua: (i) Huy động vốn từ các thành viên, HTX thành viên bằng hình thức tiền, hiện vật hay bản quyền sở hữu công nghiệp tùy theo sự thỏa thuận giữa các thành viên; (ii) Vay vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD), các tổ chức tài chính khác, các cá nhân, tổ chức ngoài HTX. Căn cứ nhu cầu, mức cho vay dựa trên phương án (dự án) vay vốn, vốn tự có, khả năng hoàn trả nợ của HTX, liên hiệp HTX và các quy định pháp luật có liên quan về quản lý tài chính và nguồn vốn cho vay của ngân hàng thương mại (NHTM); (iii) Một số hình thức huy động vốn khác như từ Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX với điều kiện HTX triển khai hoạt động đầu tư mới, mở rộng năng lực sản xuất - kinh doanh của các HTX, liên hiệp HTX; từ Quỹ quốc gia về việc làm; từ các khoản trợ cấp, hỗ trợ của Nhà nước, của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài; từ các khoản được tặng, cho và các nguồn thu hợp pháp khác; từ các khoản nợ chưa thanh toán của nhà cung cấp. Đề tài cũng đưa ra các chỉ tiêu về tăng trưởng quy mô vốn hoạt động của HTX, tăng trưởng nguồn vốn huy động bộ phận, tỷ trọng nguồn vốn huy động bộ phận/tổng nguồn vốn để đánh giá huy động nguồn lực tài chính thúc đẩy phát triển HTX. Bên cạnh đó, đề tài cũng đã phân tích làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến huy động nguồn lực tài chính thúc đẩy phát triển HTX bao gồm vào các yếu tố bên trong thuộc về bản thân HTX (gồm số năm hoạt động, lĩnh vực hoạt động, vốn điều lệ, tốc độ tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận, tài sản thế chấp, mức độ ứng dụng tiến bộ KHCN...) và các yếu tố bên ngoài (gồm điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội ở mỗi địa phương, các chính sách hỗ trợ của Nhà nước nhằm phát triển kinh tế, thu hút đầu tư để phát triển HTX).
(2) Đề tài đã phân tích kinh nghiệm của Canada, Nhật Bản, Thái Lan. Trong đó, Canada tập trung hoàn thiện và thông qua khung khổ pháp lý hiệu quả và đổi mới về HTX, thúc đẩy việc huy động vốn của các HTX, tăng cường số lượng và đa dạng các loại hình HTX, trợ giúp HTX nâng cao năng lực cạnh tranh. Nhật Bản áp dụng chính sách dồn điền đổi thửa, tạo thuận lợi trong áp dụng công nghệ kỹ thuật, tự động hóa, giảm chi phí; chính sách hỗ trợ, khuyến khích về vốn, kỹ thuật, tư liệu sản xuất cho các HTX. Để tạo điều kiện cho khu vực HTX phát triển và khuyến khích xuất khẩu, Chính phủ Thái Lan đã ban hành nhiều chính sách thiết thực như chính sách giá, tín dụng nhằm khuyến khích nông dân phát triển sản xuất. Thông qua kinh nghiệm của các nước đề tài đã rút ra 05 bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc huy động nguồn lực tài chính thúc đẩy phát triển HTX, cụ thể là: (i) Cần có khung pháp lý phù hợp đối với HTX giúp cho các HTX tự chủ và năng động hơn; tăng cường trách nhiệm của các liên đoàn HTX đối với các HTX thành viên. Bên cạnh đó, Chính phủ cần quy định rõ về việc kiểm toán nội bộ và xây dựng báo cáo toàn diện của Ban chủ nhiệm HTX trong Đại hội xã viên thường kỳ hằng năm trong Luật HTX để đảm bảo sự công khai, minh bạch trong hoạt động của các HTX; (ii) Chính phủ cần tạo cơ chế, chính sách nhằm huy động nguồn lực tài chính thích đáng cho sự phát triển các HTX thông qua việc tăng đầu tư vốn cho Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX; khuyến khích huy động vốn từ các tổ chức kinh tế - xã hội; ưu đãi thuế cho các thành viên và người lao động của HTX; cho phép các HTX có thể vay vốn từ các TCTD bằng hình thức thế chấp, tín chấp và vay theo dự án sản xuất - kinh doanh có hiệu quả; (iii) Khuyến khích và hỗ trợ các HTX sản xuất, thu mua, chế biến sản phẩm, tiếp thị và phát triển công nghệ; hỗ trợ kỹ thuật, máy móc, đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông, điện, nước, công trình thủy lợi...; (iv) Chính phủ hỗ trợ xúc tiến xuất khẩu cho các HTX, có chính sách nhằm ổn định giá nông sản tại thị trường trong nước; (v) Tăng cường phối hợp trong các hoạt động quản lý nhà nước cũng như các hoạt động hỗ trợ đối với các HTX.
(3) Đề tài đã khái quát tình hình phát triển HTX ở Việt Nam qua các giai đoạn, phân tích thực trạng huy động nguồn lực tài chính thúc đẩy phát triển HTX ở Việt Nam bằng phương pháp định tính và định lượng, qua đó cho thấy nguồn vốn góp của các HTX còn rất khiêm tốn. Các thành viên khi tham gia HTX phần nhiều trong tình trạng thiếu vốn, kỹ thuật và kiến thức về quản lý kinh tế, thị trường... Do đó, số vốn góp ban đầu cơ bản đảm bảo về mặt quy định ở mức tối thiểu làm cho các HTX thiếu vốn, dẫn đến khó chủ động trong các hoạt động của HTX. Tuy nhiên, các HTX đã được tiếp cận các nguồn vốn tín dụng để mở rộng hoạt động sản xuất - kinh doanh bằng nhiều hình thức, như nhiều HTX đã tự xây dựng phương án kinh doanh tốt, có dự án sản xuất khả thi nên đã được các TCTD cho vay bằng hình thức thế chấp bằng tài sản hình thành từ vốn vay hoặc có thể được Nhà nước hỗ trợ lãi suất cho vay hoặc hỗ trợ lãi suất sau đầu tư hoặc tỉnh thực hiện chính sách miễn, giảm thuế thu nhập trong một thời gian nhất định cho các HTX di dời, đầu tư vào các khu công nghiệp… Bên cạnh đó, hoạt động hỗ trợ vốn từ các Quỹ từ trung ương đến địa phương đối với HTX cũng đã góp phần tháo gỡ điểm nghẽn cho phát triển HTX. Vốn vay chủ yếu tập trung cho khu vực nông nghiệp, nông thôn (80% số dự án vay vốn), các HTX nông nghiệp sản xuất gắn với chuỗi giá trị, các HTX đổi mới công nghệ kỹ thuật ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất, các HTX sản xuất nông sản an toàn, phát triển thị trường trong nước và xuất khẩu cho các sản phẩm chủ lực của địa phương, vùng, miền. Tuy nhiên, trên thực tế chỉ có khoảng 10% số HTX được vay vốn của các Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX trung ương và địa phương.
Mặc dù đã có nhiều chính sách về tín dụng được thực thi nhằm khuyến khích phát triển HTX, nhưng việc triển khai trong thực tiễn còn nhiều bất cập, khó khăn. Nguồn vốn tín dụng là yếu tố quyết định để phát triển sản xuất - kinh doanh, nhưng đa số các HTX không tiếp cận được với nguồn vốn của các TCTD, do: (i) Năng lực tài chính của các thành viên HTX thấp, mức sẵn sàng góp vốn không cao dẫn đến nguồn lực tài chính huy động cho các HTX về cơ bản không thể đáp ứng nhu cầu sản xuất - kinh doanh hoặc nhu cầu mở rộng sản xuất, đổi mới phương án kinh doanh, phát triển sản phẩm; (ii) HTX huy động vốn từ các NHTM, TCTD còn chưa tương xứng với tiềm năng của khu vực kinh tế này. Ngoại trừ Agribank, VietinBank có mức dư nợ tín dụng cho HTX trên 1.000 tỷ đồng, các ngân hàng khác chỉ dao động từ vài chục đến vài trăm tỷ đồng, một số ngân hàng ở mức chỉ vài tỷ đồng; trong khi dự báo nhu cầu về vốn phát triển sản xuất - kinh doanh của HTX có xu hướng tăng, lên tới hàng trăm nghìn tỷ đồng mỗi năm (theo số liệu điều tra, khảo sát của Liên minh HTX Việt Nam); (iii) Nguồn vốn ngân sách nhà nước (NSNN) cấp cho Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX ở Trung ương còn thấp. Sự phối hợp hoạt động của Quỹ hỗ trợ phát triển HTX ởTrung ương và địa phương còn mờ nhạt, chưa tận dụng được lợi thế của Quỹ. Bên cạnh đó, việc huy động vốn từ quỹ Quốc gia về việc làm của các HTX có số dư nợ còn nhỏ, số HTX được vay vốn từ Quỹ này còn rất ít; (iv) Các nguồn vốn huy động khác còn nhỏ lẻ, chưa có ảnh hưởng lớn, tích cực đến phát triển HTX, đồng thời, các nguồn vốn này tùy thuộc vào khả năng bố trí nguồn vốn của từng địa phương, một số nguồn vốn chưa được huy động thường xuyên, có tính chất ngắn hạn. Nguyên nhân của các hạn chế là do nội tại từ chính các HTX (năng lực tài chính hạn chế, vốn điều lệ thấp; các HTX chưa xây dựng được phương án sản xuất - kinh doanh khả thi hoặc chưa ký kết được nhiều hợp đồng bao tiêu, thu mua đối với tổ chức, cá nhân trực tiếp sản xuất cũng như các hợp đồng thực hiện dự án liên kết theo chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp; hệ thống sổ sách kế toán, báo cáo tài chính chưa đúng quy định, thiếu minh bạch; hiệu quả hoạt động của HTX còn thấp; mối quan hệ giữa HTX và các thành viên còn thiếu sự gắn kết theo chuỗi giá trị từ khâu sản suất đến tiêu thụ sản phấm. Bên cạnh đó, từ phía các NHTM và TCTD khác (việc thẩm định và chấp nhận phương án vay vốn của HTX khó khăn do các HTX thiếu hoặc không có tài sản bảo đảm; nông nghiệp, nông thôn là lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro, chịu tác động trực tiếp bởi các yếu tổ thời tiết, mùa vụ, thị trường tiêu thụ do đó không khuyến khích các NHTM, TCTD nhiệt tình trong việc tạo điều kiện cho các HTX vay vốn). Ngoài ra, một số vướng mắc trong triển khai cơ chế, chính sách tài chính hỗ trợ phát triển HTX (như Luật Đất đai 2013, Nghị định số 55/2015/NĐ-CP…) cũng là những nguyên nhân của những hạn chế trong việc huy động nguồn lực tài chính thúc đẩy phát triển HTX.
(4) Trên cơ sở hệ thống lý luận, kinh nghiệm quốc tế; phân tích, đánh giá thực trạng huy động nguồn lực tài chính thúc đẩy phát triển HTX; làm rõ được bối cảnh, định hướng hoàn thiện về phát triển HTX ở Việt Nam; đề tài đề xuất 04 nhóm giảm pháp lớn nhằm tăng cường huy động nguồn lực tài chính thúc đẩy phát triển HTX năm 2030. Cụ thể là: (i) Tăng cường huy động nguồn lực tài chính trong nội bộ HTX. Các HTX cần nghiên cứu các phương án để mở rộng sản xuất - kinh doanh, chuyên môn hóa sản xuất để các thành viên được hoạt động nhiều hơn, nâng cao lợi nhuận; từ đó, kích thích nguồn vốn góp tăng lên. Bên cạnh đó, các HTX cũng cần đẩy mạnh phát triển mô hình thành viên đại diện từ các nhóm thành viên có khả năng góp vốn thấp; nghiên cứu cơ chế góp vốn để đa dạng hóa các nguồn vốn góp từ thành viên; (ii) Huy động nguồn vốn tín dụng ngân hàng. Các HTX cần thực hiện đúng các quy định về kiểm toán HTX (kiểm toán nội bộ, kiểm toán độc lập), quy định về hoạt động tín dụng nội bộ. Các HTX phải thay đổi, xây dựng các phương án sản xuất - kinh doanh rõ ràng làm cơ sở để các TCTD cho vay vốn. Các HTX cũng cần xây dựng được các phương án vay vốn cụ thể, khoa học, dự liệu được kết quả, hiệu quả của việc sử dụng vốn trong trường hợp thuận lợi và bất thuận lợi, chứng minh được khả năng trả nợ kể cả khi thị trường diễn biến không thuận lợi. Bên cạnh đó, các NHTM và TCTD cần tạo điều kiện thuận lợi cho các HTX vay vốn, như xây dựng các tiêu chí để thẩm định các dự án sản xuất sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao, các dự án khác của HTX nhằm nâng cao năng lực thẩm định, tránh rủi ro tín dụng; đơn giản hóa, cải tiến quy trình, quy chế thủ tục cho vay đối tượng HTX theo Nghị định số 55/2015/NĐ-CP; tăng cường giám sát sau cho vay để vốn vay được sử dụng đúng mục đích; (iii) Huy động nguồn vốn từ Quỹ phát triển HTX và Quỹ Quốc gia về việc làm. Để có thể vay được vốn từ các Quỹ này thuận lợi, các HTX cần có phương án vay vốn rõ ràng, lô-gíc, cho thấy được khả năng trả nợ và phải có đủ vốn chủ sở hữu theo quy định. Về phía các Quỹ, cần tối giản hóa thủ tục vay vốn để phù hợp với mặt bằng trình độ, năng lực của cán bộ HTX. Các địa phương cấp bổ sung vốn cho các Quỹ để tạo nguồn hỗ trợ HTX vay vốn phát triển sản xuất - kinh doanh theo quy định; (iv) Huy động nguồn vốn hỗ trợ khác từ NSNN và các nguồn vốn khác. Theo đó, cần bổ sung nguồn kinh phí thực hiện các chính sách, cân đối và bố trí nguồn lực phù hợp với khả năng của NSNN và ngân sách địa phương, tập trung kinh phí hỗ trợ nhà xưởng, khu chế biến, máy móc, thiết bị; đồng thời, tận dụng các hình thức đa dạng để thu hút nguồn lực, như xã hội hóa, hợp tác theo hình thức đối tác công - tư, đặc biệt trong xây dựng cơ sở hạ tầng, áp dụng khoa học công nghệ. Bên cạnh đó, HTX cần tiếp tục thực hiện vay tín dụng thương mại đối với nhà cung cấp để tăng cường nguồn lực cho HTX.
5. Thông tin nghiệm thu và lưu trữ
- Nghiệm thu: Đề tài đã được Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu thông qua (Quyết định số 306/QĐ-BTC ngày 23/02/2024 của Bộ Tài chính về việc thành lập Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ KHCN cấp Bộ năm 2023).
- Lưu trữ: Đề tài được đóng quyển, lưu trữ tại Thư viện Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính./.
TS. Lê Tuấn Hiệp
Trường Đại học Tài chính - Quản trị kinh doanh