Đề tài: Hoàn thiện chính sách tài chính phát triển chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu của Việt Nam đến năm 2030
15/01/2026 09:15
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Việt Nam có thế mạnh về sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng, trở thành một trong ba quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, sau Ấn Độ và Thái Lan. Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu gạo không chỉ dựa trên các phương thức cũ như tăng diện tích canh tác lúa, tăng sản lượng gạo…, mà kết hợp dựa vào chuỗi cung ứng và tổ chức tốt chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu (từ khâu sản xuất lúa gạo, chế biến và xuất khẩu gạo...). Vấn đề này nhận được sự quan tâm rất lớn từ Nhà nước và các cơ quan quản lý các cấp thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện các chính sách nhằm định hướng, thúc đẩy và hỗ trợ phát triển, tuy nhiên chuỗi cung ứng gạo xuẩt khẩu vẫn còn một số vướng mắc, tồn tại trong quá trình triển khai thực hiện. Việc liên kết giữa nông dân trồng lúa với doanh nghiệp xuất khẩu gạo còn lỏng lẻo, chủ yếu thông qua thương lái; phần lớn nông hộ sản xuất lúa gạo có diện tích canh tác nhỏ lẻ, manh mún, không tập trung; dẫn đến hệ quả là chi phí tăng, việc truyền tải thông tin về nhu cầu của nhà nhập khẩu tới người sản xuất lúa gạo bị hạn chế, tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch lớn và khó kiểm soát được mức độ tác động đến môi trường cũng như chất lượng gạo xuất khẩu; giá cả không ổn định… Mô hình liên kết giữa nông dân trồng lúa và doanh nghiệp xuất khẩu gạo vẫn gặp nhiều khó khăn, khó nhân rộng do thiếu vốn, doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn vay để đầu tư hạ tầng về kho bãi, phương tiện vận chuyển, nhà máy sấy... Ở nhiều địa phương, do ngân sách hạn chế, nên chưa thể cân đối kinh phí để hỗ trợ thực hiện cánh đồng lớn. Chế tài xử lý vi phạm hợp đồng trong liên kết sản xuất, trách nhiệm của các ngành, các cấp và chính sách trên địa bàn thực hiện liên kết theo cánh đồng lớn chưa cụ thể, rõ ràng nên chưa phát huy được hiệu quả triển khai.
Bên cạnh đó, mối liên kết giữa doanh nghiệp xuất khẩu gạo với các nhà nhập khẩu cũng còn một số rào cản. Các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận những ưu đãi, hỗ trợ từ chính sách. Do đó, để phát triển chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu, việc nâng cao chất lượng gạo xuất khẩu, xây dựng thương hiệu gạo Việt, xúc tiến thương mại, tìm kiếm và mở rộng thị trường xuất khẩu gạo cần được quan tâm đẩy mạnh. Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam đã ký nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) như: FTA Việt Nam - EU (EVFTA); Hiệp định Ðối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP); FTA giữa Việt Nam và Liên hiệp Vương quốc Anh (UKVFTA)… thì chính sách phát triển chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu cần có sự điều chỉnh, hoàn thiện để phù hợp với tình hình mới. Do đó, việc nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện chính sách tài chính phát triển chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu của Việt Nam đến năm 2030” là cần thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
Hầu hết các nghiên cứu trước đã khái quát các vấn đề cơ bản về chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu qua các giai đoạn, cũng như phân tích, đánh giá các cơ chế, chính sách tài chính thúc đẩy liên kết - tiêu thụ nông sản nói chung, tuy nhiên chưa tập trung nghiên cứu sâu về các chính sách tài chính như chính sách thuế, chính sách tín dụng và chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu. Do đó, việc nghiên cứu đề tài ”Hoàn thiện chính sách tài chính phát triển chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu của Việt Nam đến năm 2030” sẽ tập trung nghiên cứu sâu các chính sách tài chính như chính sách thuế, chính sách tín dụng và chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2022 nhằm hoàn thiện chính sách tài chính phát triển chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu của Việt Nam đến năm 2030.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn, phân tích, đánh giá thực trạng chính sách tài chính phát triển chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu; đề tài đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách tài chính phát triển chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu của Việt Nam đến năm 2030.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chính sách tài chính phát triển chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu, phân tích chính sách tài chính phát triển chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu, nghiên cứu sâu về chính sách thuế, chính sách tín dụng và chính sách hỗ trợ đầu tư có tác động đến doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu của Việt Nam, tập trung ở đồng bằng sông Cửu Long (do khu vực này vùng sản xuất lúa trọng điểm, cung cấp khoảng 90% lượng gạo xuất khẩu của cả nước). Đề tài phân tích thực trạng từ năm 2011 - 2022 và đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách tài chính phát triển chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu của Việt Nam đến năm 2030.
4. Kết quả nghiên cứu
(1) Đề tài đã tổng quan những vấn đề chung về chính sách tài chính phát triển chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu; đưa ra khái niệm chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu là một mạng lưới liên kết các hoạt động của mọi đối tượng có liên quan đến cung cấp nguyên, nhiên, vật liệu, sản xuất ra sản phẩm gạo và phân phối đến các nhà nhập khẩu gạo. Từ đó, đề tài đã phân tích làm rõ đặc điểm, vai trò và phân loại chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu, chỉ ra được các thành phần tham gia chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu. Bên cạnh đó, đề tài cũng đã tổng quan chính sách tài chính phát triển chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu, theo đó chính sách tài chính phát triển chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu được hiểu là một hệ thống các nguyên tắc, biện pháp về tài chính hướng dẫn các quyết định liên quan đến việc hình thành, phân bổ các nguồn lực tài chính nhằm phát triển chuỗi cung ứng gạo gạo xuất khẩu hướng tới thúc đẩy, nâng cao hiệu quả và giá trị gia tăng của chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu. Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài tập trung chủ yếu vào một số chính sách tài chính bao gồm: Chính sách thuế, chính sách tín dụng và chính sách hỗ trợ đầu tư để phát triển chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu. Các chính sách này có vai trò tạo lập nguồn tài chính cho quá trình phát triển chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu; phân phối, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính phục vụ quá trình phát triển chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu; định hướng hoạt động phát triển chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu. Mặc dù, Nhà nước không phải là chủ thể duy nhất tài trợ cho quá trình phát triển chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu, nhưng vai trò định hướng cho hoạt động phát triển chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu của chính sách tài chính gắn liền với vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước.
(2) Đề tài đã phân tích kinh nghiệm của Ấn Độ và Thái Lan là hai quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, có nhiều đặc điểm về điều kiện tự nhiên - xã hội tương đồng với Việt Nam. Trong đó, chính sách tài chính phát triển chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu của Thái Lan vừa chú trọng tự do hóa hoạt động thương mại, xuất khẩu gạo, đồng thời cũng áp dụng các biện pháp can thiệp thị trường qua ưu đãi thuế quan, các chương trình hỗ trợ thu mua gạo giá cao, hỗ trợ nông nghiệp, tín dụng. Còn đối với Ấn Độ, mục tiêu chính sách chính là tập trung đạt được khả năng tự cung cấp lương thực, trong khi đảm bảo giá cả hợp lý cho nông dân và giá cả ổn định cho người tiêu dùng. Nhìn chung, cả hai quốc gia đã đạt được thành công trong phát triển chuỗi cung ứng xuất khẩu gạo không chỉ nhờ có sự thuận lợi về điều kiện tự nhiên mà còn do việc thực thi các chính sách đối với phát triển xuất khẩu gạo phù hợp, hiệu quả.
Kinh nghiệm từ Thái Lan và Ấn Độ đều cho thấy, muốn phát triển chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu hiệu quả, Việt Nam cần có những chiến lược cụ thể, rõ ràng phù hợp cho từng giai đoạn, từng thời kỳ. Chiến lược có thể đặc trưng theo từng khâu trong chuỗi cung ứng, từ nghiên cứu, phát triển tới phân phối, tiêu thụ (như ở Thái Lan); hoặc tập trung vào một mô hình cụ thể cho hiệu quả cao (như mô hình khu xuất khẩu nông sản ở Ấn Độ). Đồng thời, từ những chiến lược cụ thể trong từng thời kỳ phát triển, Nhà nước Việt Nam cần cụ thể hóa bằng những chính sách hỗ trợ, khuyến khích hợp lý, đặc biệt là tập trung xây dựng và phát triển các thương hiệu gạo đảm bảo chất lượng và an toàn. Bên cạnh đó, các chính sách tài chính về thuế, tín dụng và hỗ trợ đầu tư phát triển chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu phù hợp và vận hành hiệu quả sẽ tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, giao thương sản phẩm gạo, truyền thông thương hiệu và nâng cao thương hiệu của quốc gia. Ngoài ra, cần có cơ chế hành chính thông thoáng cho các doanh nghiệp, hộ nông dân; đặt các doanh nghiệp xuất khẩu gạo vào môi trường cạnh tranh tự do, tìm kiếm các hợp đồng bán gạo cho các tổ chức buôn bán đa quốc gia… cũng được xem là bài học tham khảo hữu ích cho Việt Nam từ sự thành công của Ấn Độ.
(3) Đề tài đã tổng quan được tình hình chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2011 - 2022, điển hình là chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu tại đồng bằng sông Cửu Long, cho thấy những người nông dân sản xuất nhỏ lẻ không trực tiếp cung cấp gạo cho doanh nghiệp xuất khẩu, họ thường bán lúa gạo cho thương lái (hàng xáo). Các doanh nghiệp sẽ mua gạo nguyên liệu với số lượng lớn từ thương lái để tái chế ra gạo thành phẩm xuất khẩu. Theo mô hình chuỗi cung ứng này, hơn 90% sản lượng lúa của nông dân đồng bằng sông Cửu Long được thu gom bởi các nhà thương lái nhỏ lẻ tại từng khu vực sản xuất; trong khi đó, chỉ có một lượng nhỏ được bán trực tiếp cho các doanh nghiệp xuất khẩu gạo; qua đó, sự chèn ép về giá mua lúa và rủi ro đầu ra đã gây nhiều trở ngại cho các nông hộ trồng lúa. Bên cạnh đó, đề tài cũng đã phân tích thực trạng chính sách tài chính phát triển chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2011 - 2022. Trong đó, Việt Nam đã áp dụng nhiều chính sách ưu đãi thuế, miễn, giảm thuế để thu hút đầu tư vào các ngành, lĩnh vực và địa bàn ưu đãi đầu tư, góp phần tạo môi trường đầu tư thuận lợi để thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài, thúc đẩy doanh nghiệp mở rộng sản xuất - kinh doanh và tăng cường xuất khẩu gạo, phát triển chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu. Chính sách tín dụng khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu; đẩy mạnh liên kết theo chuỗi giá trị, đóng vai trò tích cực lên hoạt động sản xuất và kinh doanh lúa gạo. Chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu đã dần được hoàn thiện và phù hợp với các quy định pháp luật khác, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu, thúc đẩy xuất khẩu gạo bền vững.
Bên cạnh những kết quả đạt được đã tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu, chính sách tài chính đối với việc phát triển chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu cũng còn một số hạn chế. Về chính sách thuế: (i) Mức thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với sản phẩm gạo chưa hợp lý đã tạo rào cản trong việc liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu. Các chính sách ưu đãi, khuyến khích trong lĩnh vực nông nghiệp chưa thực sự thu hút được sự quan tâm của doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu, do cơ chế khuyến khích, hỗ trợ các cơ sở sản xuất nông nghiệp phát triển theo hình thức thành lập doanh nghiệp chưa đủ mạnh và chưa phát huy được hiệu lực trên thực tế; (ii) Đối với chính sách tín dụng, quy trình, điều kiện cho vay vốn còn phức tạp, thời gian giải ngân chậm, thời hạn cho vay vốn ngắn, lãi suất chưa thực sự ưu đãi hơn nhiều so với lãi suất thông thường, hạn mức cho vay thấp. Các hình thức cho vay, bảo lãnh tín dụng chưa đa dạng, tỷ lệ cho vay liên kết theo chuỗi cung ứng thấp, do việc phối hợp giữa các cơ quan quản lý trong xây dựng, triển khai chính sách chưa thực sự quyết liệt; (iii) Chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu mặc dù đã được rút gọn nhưng vẫn chưa đủ thông thoáng. Nghị định số 57/2018/NĐ-CP về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn không khả thi trong thực tiễn hoặc chưa đồng bộ với các luật hiện hành. Nghị định số 109/NĐ-CP/2010 đặt ra những điều kiện có tính siết chặt hơn đối với hoạt động kinh doanh xuất khẩu gạo nhằm giảm bớt các đầu mối xuất khẩu, tránh hiện tượng tranh mua, tranh bán, nhưng lại làm tăng độc quyền trong kinh doanh gạo xuất khẩu.
(4) Trên cơ sở hệ thống lý luận, kinh nghiệm quốc tế; phân tích, đánh giá thực trạng chính sách tài chính phát triển chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu của Việt Nam; làm rõ được bối cảnh, quan điểm, mục tiêu và định hướng hoàn thiện chính sách; đề tài đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách tài chính phát triển chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu Việt Nam đến năm 2030. (i) Về chính sách thuế: Cần thu gọn các thủ tục hành chính để thực hiện việc hoàn thuế GTGT, đồng thời xử lý nghiêm, kịp thời những hành vi nhũng nhiễu, gây khó khăn cho người nộp thuế; hoàn thiện cơ sở pháp lý và triển khai đồng bộ việc người bán hàng phải xuất hóa đơn cho khách hàng theo từng giao dịch, góp phần giải quyết tình trạng trốn thuế của tư thương bán gạo nhỏ lẻ, hỗ trợ tạo mối liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp và nông dân trong chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu; chính sách thuế nên dành sự ưu đãi đủ lớn cho các đối tượng là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. (ii) Về chính sách tín dụng: Các tổ chức tín dụng cần đơn giản, minh bạch hóa quy trình, thủ tục, điều kiện cho vay vốn; có chính sách ưu tiên, tập trung trọng tâm trọng điểm, cho vay đối với các liên kết theo chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu; đơn giản hóa và hướng dẫn chi tiết thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản gắn liền trên đất... để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và ngân hàng trong việc định giá và nhận thế chấp tài sản bảo đảm cho khoản vay, đặc biệt là tài sản hình thành từ các dự án trên đất nông nghiệp phục vụ cho chính hoạt động sản xuất lúa gạo có giá trị đầu tư lớn, là những khâu đầu và rất quan trọng của chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu. Đồng thời, nâng hạn mức cho vay, giảm lãi suất cho vay để đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cần thiết của doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu... (iii) Chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu: Cần đơn giản hóa thủ tục hành chính giúp các doanh nghiệp thuận lợi khi tìm cách tiếp cận các chính sách hỗ trợ đầu tư của nhà nước để phục vụ sản xuất - kinh doanh, gây dựng các mối liên kết, chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu; hỗ trợ các doanh nghiệp chế biến lúa gạo liên kết với nông dân để có nguồn gạo nguyên liệu ổn định, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng; thực hiện có hiệu quả các chính sách hỗ trợ về công tác thông tin thị trường và xúc tiến xuất khẩu gạo, nâng cao khả năng tài chính, công tác hạch toán kế toán của các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu. Các giải pháp trên nhằm phát triển thị trường xuất khẩu gạo theo hướng đa dạng hóa, giảm phụ thuộc vào một số thị trường nhất định, phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế về kinh tế và hợp tác quốc tế về đầu tư sản xuất, chế biến, xuất khẩu gạo; đồng thời tăng cường khai thác cơ hội, tiềm năng, lợi thế từ các FTA, các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên để xúc tiến thương mại sản phẩm gạo của Việt Nam.
5. Thông tin nghiệm thu và lưu trữ
- Nghiệm thu: Đề tài đã được Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu thông qua (Quyết định số 307/QĐ-BTC ngày 23/02/2024 của Bộ Tài chính về việc thành lập Hội đồng Tư vấn đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ KHCN cấp Bộ năm 2023).
- Lưu trữ: Đề tài được đóng quyển, lưu trữ tại Thư viện Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính./.
ThS. Hoàng Thị Vân
Học Viện Tài chính
Nguồn: Trung tâm Thông tin kinh tế, tài chính và thống kê