Nâng cao hiệu quả nguồn lực tài chính công nhằm hỗ trợ tăng trưởng cao trong bối cảnh mới
30/12/2025 13:39
Kinh tế thế giới và khu vực có xu hướng biến động nhanh, phức tạp và khó lường với nhiều rủi ro địa chính trị kèm sự gia tăng bất ổn về thương mại, chuỗi cung ứng và chính sách thuế quan. Trong bối cảnh đó, để bảo đảm thực hiện thành công các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đưa Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại vào năm 2030 và là nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045, việc xác lập mô hình tăng trưởng mới, tìm kiếm các động lực then chốt để hỗ trợ tăng trưởng cao và phát triển bền vững là thực sự cần thiết. Trong khi các động lực tăng trưởng truyền thống đang dần bị thu hẹp, việc xác định các động lực mới cần được kết hợp với những giải pháp mang tính đột phá để khơi thông nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Theo đó, huy động và phân bổ hiệu quả nguồn lực tài chính công sẽ là một trong những trụ cột quan trọng để góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao trong bối cảnh mới.
1. Bối cảnh mới và sự cần thiết đổi mới mô hình tăng trưởng nhằm hỗ trợ tăng trưởng cao, nâng cao hiệu quả nguồn lực tài chính công
Tình hình thế giới và khu vực đang có xu hướng diễn biến nhanh, có nhiều vấn đề chưa có tiền lệ, vượt ngoài dự báo với nhiều nhân tố rủi ro mới phát sinh. Rào cản thương mại gia tăng và sự phân mảnh nhiều hơn của nền kinh tế toàn cầu sẽ tác động tiêu cực đến triển vọng tăng trưởng toàn cầu, làm tăng nguy cơ lạm phát. Sự gia tăng các rào cản thương mại mới, chủ yếu là của các nền kinh tế phát triển thường ảnh hưởng khác nhau đến các nền kinh tế thị trường mới nổi và nền kinh tế đang phát triển, gây rủi ro cho hoạt động kinh tế và thương mại toàn cầu. Bên cạnh đó, sự bất ổn định về chính sách thuế quan của Hoa Kỳ đã và đang tiếp tục làm tăng rủi ro đối với tăng trưởng kinh tế thế giới nói chung và các nước nói riêng. Thuế quan trung bình của Hoa Kỳ đã tăng mạnh từ mức 2,4% khi Tổng thống Donald Trump bắt đầu nhiệm kỳ đầu (2017) lên 24,8% vào tháng 5/2025 sau các đợt áp thuế đối ứng, đặc biệt với hàng Trung Quốc và hiện đạt 20,1% - mức cao nhất kể từ thập niên 1910 và vượt qua cả mức gần 20% mà Hoa Kỳ đã áp dụng vào những năm 1930 - thời kỳ thuế quan cao được các nhà kinh tế coi là nguyên nhân khiến giai đoạn Đại suy thoái kéo dài và trầm trọng hơn (WTO, IMF, 2025).
Ngoài ra, căng thẳng địa chính trị leo thang, đặc biệt là ở Trung Đông, Ukraina và các điểm nóng an ninh khác trên thế giới tiếp tục gia tăng làm gián đoạn chuỗi cung ứng, có thể gây ra những cú sốc cung tiêu cực mới cho nền kinh tế toàn cầu. Bên cạnh đó, các vấn đề an ninh phi truyền thống, đặc biệt là dịch bệnh, thiên tai, biến đổi khí hậu, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, an ninh năng lượng… tiếp tục diễn biến khó lường, ảnh hưởng nặng nề đến nhiều quốc gia, khu vực, đặc biệt trong năm 2025.
Trong nước, mặc dù chịu tác động từ kinh tế thế giới và khu vực, kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả khả quan, tích cực. Tiếp tục đà tăng trưởng của 9 tháng đầu năm 2025 (7,85% so với cùng kỳ năm trước), mục tiêu tăng trưởng cả năm 2025 được kỳ vọng ở mức ít nhất 8%, tạo đà để đạt mức hai chữ số trong giai đoạn 2026 - 2030. Theo đó, quy mô GDP từ 346 tỷ USD năm 2020 (xếp thứ 37 trên thế giới) tăng lên 476 tỷ USD năm 2024, dự kiến trên 510 tỷ USD năm 2025, xếp thứ 32 thế giới và thứ 4 trong khu vực ASEAN. Quy mô thương mại không ngừng tăng lên, xếp thứ 20 thế giới. Thu nhập quốc dân (GNI) bình quân đầu người được dự báo đạt khoảng 4.750 USD vào năm 2025, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Nếu duy trì được tốc độ tăng trưởng “hai con số” một cách ổn định, đến năm 2045, quy mô nền kinh tế Việt Nam có thể tăng gấp bốn lần so với hiện tại. Điều này đồng nghĩa với việc Việt Nam sẽ hoàn thành quá trình chuyển đổi từ một quốc gia có thu nhập thấp, bước vào nhóm thu nhập trung bình vào năm 2025, đạt ngưỡng thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và tiến đến mức thu nhập cao vào năm 2045. Đây không chỉ là một mục tiêu kinh tế đơn thuần mà còn là động lực quan trọng để Việt Nam tạo ra những thay đổi mang tính nền tảng, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mạnh mẽ với vị thế mới.
Trong bối cảnh mô hình phát triển dựa trên thâm dụng lao động và tài nguyên ngày càng hạn hẹp, năng suất lao động vẫn là một điểm nghẽn; hạ tầng kinh tế - xã hội chưa đồng bộ; chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình còn hiện hữu; việc xác định các động lực then chốt để tạo bứt phá cho năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế là cần thiết.
Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế là đổi mới phương thức huy động, phân bổ, sử dụng các nguồn lực theo hướng hợp lý và hiệu quả; chuyển cách thức tăng trưởng theo chiều rộng từ dựa chủ yếu vào tăng vốn, lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên thiên nhiên sang tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu chủ yếu dựa vào sử dụng hiệu quả nguồn lực, tiến bộ khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong đó, cùng với các động lực then chốt như ưu tiên phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế tư nhân, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; thì cải cách thể chế sẽ là một động lực mở đường để giải quyết các điểm nghẽn của nền kinh tế. Trong đó, phát huy vai trò huyết mạch của nền kinh tế, cải cách thể chế tài chính công (với các trọng tâm huy động và phân bổ hiệu quả nguồn lực tài chính công) tiếp tục đóng vai trò khơi thông, tạo đà cho tăng trưởng cao ở Việt Nam trong giai đoạn 2026 - 2030.
2. Huy động và phân bổ hiệu quả nguồn lực tài chính công giai đoạn 2021 - 2025 và một số khó khăn, thách thức nhằm hỗ trợ tăng trưởng cao trong bối cảnh mới
Trong những năm qua, thể chế, chính sách huy động và phân bổ nguồn lực tài chính công đã được đổi mới tích cực, ngày càng minh bạch, hiệu quả, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế đất nước, bảo đảm quốc phòng, an ninh, thúc đẩy hội nhập và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Thể chế tài chính - ngân sách nhà nước (NSNN) tiếp tục được hoàn thiện theo nguyên tắc thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hỗ trợ nền kinh tế phục hồi và phát triển. Quá trình cải cách thể chế trong lĩnh vực tài chính công đã dần đồng bộ với cải cách thể chế trong các lĩnh vực có liên quan, góp phần thúc đẩy các yếu tố thị trường và các loại thị trường phát triển, bảo đảm quyền tự do kinh doanh và bình đẳng giữa các thành phần kinh tế; động viên hợp lý, phân phối và sử dụng tiết kiệm, chặt chẽ, hiệu quả hơn các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH); nâng cao kỷ luật, kỷ cương tài chính - ngân sách; tiếp cận thông lệ quốc tế… Trong giai đoạn 2021 - 2025, trong lĩnh vực tài chính, đã có 32 Luật, Nghị quyết được Quốc Hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua; 168 Nghị định được Chính phủ ban hành; 27 Quyết định được Thủ tướng Chính phủ thông qua và 436 Thông tư được ban hành theo thẩm quyền của Bộ Tài chính.
Chính sách huy động NSNN. Tiếp tục được sửa đổi, hoàn thiện bám sát các mục tiêu, định hướng đề ra, qua đó, đã động viên hợp lý, kịp thời các nguồn lực từ sản xuất và từ tài nguyên, đất đai. Các chính sách thuế, phí, lệ phí được ban hành về cơ bản đã đảm bảo minh bạch, phù hợp với các cam kết quốc tế, góp phần tạo môi trường đầu tư ổn định, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Luật Thuế giá trị gia tăng (GTGT) hoàn thiện quy định về chính sách thuế GTGT để bao quát toàn bộ các nguồn thu; bảo đảm tính minh bạch, dễ hiểu, dễ thực hiện góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả của hoạt động quản lý thuế trong phòng, chống trốn thuế, thất thu và nợ thuế; đảm bảo thu đúng thu đủ vào NSNN, đảm bảo ổn định nguồn thu NSNN. Đồng thời, các giải pháp hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh như giảm thuế GTGT, giảm thuế bảo vệ môi trường, gia hạn, giảm một số loại thuế, phí được ban hành và tích cực triển khai trong thực tiễn. Với những nỗ lực trong cải cách thể chế, chính sách thu NSNN, dự kiến thu NSNN cả giai đoạn 2021 - 2025 ước đạt 9,4 triệu tỷ đồng, vượt mục tiêu đề ra là 8,3 triệu tỷ đồng, gấp 1,36 lần so với kết quả thực hiện giai đoạn 2016 - 2020. Tỷ lệ huy động vào NSNN đạt trên 18% GDP, trong đó từ thuế, phí khoảng 14,8% GDP, đều đạt mục tiêu đề ra tại Nghị quyết số 23/2021/QH15 của Quốc hội (mục tiêu lần lượt là 16% GDP và 13 - 14% GDP).
Trong 11 tháng đầu năm 2025, thu NSNN ước đạt 2.390 nghìn tỷ đồng, tăng 21,5% so với dự toán và tăng 30,5% so cùng kỳ năm 2024. Việc ban hành kịp thời và tập trung triển khai ngay từ đầu năm các chính sách tài khóa, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất đã góp phần hỗ trợ cho doanh nghiệp nhanh chóng vượt qua khó khăn, thích ứng linh hoạt, phục hồi, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, qua đó tạo nguồn thu cho NSNN. Nền kinh tế đã duy trì đà tăng trưởng tích cực, quý sau cao hơn quý trước với GDP quý I/2025 tăng 6,93%, quý II tăng 7,96% và quý III tăng 8,23%.

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Bộ Tài chính
Chính sách phân bổ NSNN. Được hoàn thiện, đổi mới theo hướng bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách Trung ương và chủ động, tích cực của ngân sách địa phương. Luật số 56/2024/QH15 sửa đổi, bổ sung 9 luật, trong đó có Luật NSNN tập trung giải quyết những vướng mắc, điểm nghẽn về cơ chế phân bổ, huy động nguồn lực NSNN nhằm huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính nhà nước cho tăng trưởng kinh tế.
Chính sách chi NSNN đã được thực hiện theo hướng tiết kiệm, chặt chẽ, hiệu quả, ưu tiên nguồn lực cho đầu tư phát triển tạo động lực cho nền kinh tế. Bên cạnh đó, nhiều cơ chế, chính sách đặc thù (bao gồm chính sách tài chính - ngân sách) được ưu tiên mở rộng tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; đảm bảo nguồn lực thực hiện chính sách, chế độ đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và lực lượng vũ trang trong thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Kết quả, tổng chi NSNN trong giai đoạn 2021 - 2025 ước đạt 10,4 triệu tỷ đồng, đạt mục tiêu kế hoạch 5 năm tại Nghị quyết số 23/2021/QH15 (khoảng 10,26 triệu tỷ đồng); bảo đảm nguồn lực thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng phát triển KT-XH, bảo đảm quốc phòng, an sinh xã hội. Trong 11 tháng đầu năm 2025, chi NSNN ước đạt 2.038,3 nghìn tỷ đồng, bằng 79,1% dự toán, tăng 31,8% so cùng kỳ năm 2024. Chi ngân sách đáp ứng các nhu cầu chi phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước và thanh toán các khoản chi trả nợ đến hạn, chăm lo cho các đối tượng hưởng lương, lương hưu, trợ cấp xã hội từ NSNN, chi trả kịp thời các chế độ, chính sách cho các đối tượng khi sắp xếp tổ chức bộ máy theo các Nghị định số 178/2024/NĐ-CP và Nghị định số 67/2025/NĐ-CP của Chính phủ, đảm bảo cơ sở vật chất, hoạt động bộ máy sau sắp xếp.

(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Bộ Tài chính)
Chính sách trong lĩnh vực quản lý nợ công được hoàn thiện và đổi mới, từng bước tiếp cận các thông lệ quốc tế, đảm bảo nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững, mục tiêu đặt ra là đảm bảo nhiệm vụ huy động vốn vay để đáp ứng nhu cầu cân đối NSNN và phát triển KT-XH với mức độ chi phí - rủi ro phù hợp; kiểm soát chặt chẽ các chỉ tiêu an toàn nợ trong mức trần, ngưỡng an toàn được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong từng thời kỳ; thúc đẩy sự phát triển của thị trường vốn trong nước, nâng cao hiệu quả huy động và phân bổ nguồn lực phục vụ cho mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn 2026 - 2030. Nợ công cả năm 2025 ước ở mức 35 - 36% GDP, thâm hụt ngân sách 3,1 - 3,2% GDP (thấp hơn nhiều so với ngưỡng Quốc hội cho phép), nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ khoảng 19 - 20% tổng thu ngân sách (dưới ngưỡng theo khuyến cáo 25%).
Một số khó khăn, thách thức
Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn một số khó khăn, thách thức trong quá trình hoàn thiện chính sách huy động và phân bổ các nguồn lực tài chính công. Cơ cấu thu NSNN từ thuế còn dựa nhiều vào các sắc thuế như thuế GTGT, thuế TNDN; tốc độ tăng thu nội địa chưa ổn định do trong những năm vừa qua, kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tỷ trọng thu nội địa đến năm 2025 ước đạt trên 85% tổng thu NSNN, nhưng tính chung bình quân cả giai đoạn 5 năm mới đạt 83%, gần tiệm cận mức mục tiêu theo Nghị quyết số 23/2021/QH15 của Quốc hội (85 - 86%). Điều này chủ yếu xuất phát từ nguyên nhân khách quan do trong giai đoạn 2021 - 2025 nền kinh tế chịu tác động, ảnh hưởng nặng nề bởi dịch Covid-19 (nhất là trong vòng 02 năm đầu của giai đoạn) cũng như các yếu tố khách quan bên ngoài (xung đột địa chính trị, căng thẳng thương mại...). Đồng thời, thương mại điện tử phát triển dẫn đến sự ra đời nhiều loại hình dịch vụ, đặt ra nhiều thách thức với cơ quan thuế trong việc xác định bản chất giao dịch, vai trò của từng bên tham gia giao dịch, doanh thu, chi phí, thu nhập, cơ sở thường trú để vừa quản lý thu thuế phát sinh với hoạt động này, vừa để tạo công bằng trong môi trường kinh doanh cũng như tạo thuận lợi cho loại hình kinh doanh này phát triển.
Trong khi đó, áp lực chi NSNN cho các nhiệm vụ phục hồi, phát triển kinh tế và ổn định đời sống người dân vẫn còn lớn. Công tác triển khai dự toán chi thường xuyên, phân bổ chi tiết kế hoạch đôi lúc còn chậm do thường phát sinh nhiều yếu tố không thuận lợi, nhất là tình hình thiên tai, bão lũ diễn biến bất thường, ảnh hưởng đến việc điều hành nhiệm vụ NSNN.
Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công còn chậm, mục tiêu giải ngân 100% vốn đầu tư công trong năm 2025 vẫn hết sức thách thức do gặp các điểm nghẽn về công tác giải phóng mặt bằng; chậm trễ trong lập, phê duyệt, điều chỉnh quy hoạch; tình trạng thiếu hụt vật liệu xây dựng, đặc biệt là cát, đất đắp và đá; các thủ tục đầu tư, đấu thầu, thẩm định, phê duyệt dự án phức tạp và kéo dài... Tính đến ngày 21/11/2025, tỷ lệ giải ngân các dự án trọng điểm khoảng 69.646 tỷ đồng/184.867 tỷ đồng, đạt 38%, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ giải ngân bình quân chung của cả nước (khoảng 56,6%)
Ngoài ra, nhiệm vụ đặt ra đối với công tác quản lý nợ công trong thời gian tới còn nhiều thách thức. Áp lực vay tăng, điều kiện thị trường vốn quốc tế và trong nước không thuận lợi dẫn đến mặt bằng lãi suất tăng, biến động các ngoại tệ mạnh cũng gây sức ép giảm giá đồng Việt Nam, ảnh hưởng nghĩa vụ trả nợ, đặc biệt đối với nợ bằng USD và rủi ro cho việc thực hiện các chỉ tiêu an toàn nợ công, nợ nước ngoài quốc gia. Việc huy động, sử dụng nguồn vốn ngoài nước ngày càng khó khăn, chậm hơn so với dự kiến do sự khác biệt ngày càng tăng giữa quy định của nhà tài trợ và quy định pháp luật trong nước, nhất là về vấn đề thuế, quyền miễn trừ đối với bên cho vay, đấu thầu, đền bù, tái định cư, tiêu chuẩn môi trường xã hội...
3. Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động và phân bổ nguồn lực tài chính công hỗ trợ tăng trưởng cao trong giai đoạn 2026 - 2030 và tầm nhìn 2045
Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam là kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc với ưu tiên hàng đầu là đạt được các mục tiêu chiến lược đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển với công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao. Tăng trưởng kinh tế ở mức cao gắn với xác lập và thực hiện hiệu quả mô hình tăng trưởng mới có ý nghĩa then chốt để tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, góp phần hiện thực hóa khát vọng đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, cần có những đột phá mạnh mẽ về thể chế, tiếp tục hoàn thiện đồng bộ và tháo gỡ những khó khăn, thách thức trong lĩnh vực tài chính, ngân sách. Theo đó, để nâng cao hiệu quả huy động và phân bổ nguồn lực tài chính công, các giải pháp trọng tâm cần được ưu tiên gồm:
Một là, thúc đẩy mạnh mẽ các động lực tăng trưởng mới thông qua việc hoàn thiện thể chế và xây dựng các ưu đãi đặc thù để huy động và sử dụng có hiệu quả các mô hình kinh tế mới như: Kinh tế tầm thấp, kinh tế số và đổi mới sáng tạo, kinh tế xanh và năng lượng tái tạo, kinh tế chia sẻ, kinh tế tuần hoàn, kinh tế tóc bạc, kinh tế cận biên. Cải thiện vai trò dẫn dắt, vốn mồi của nguồn lực NSNN; thực hiện đột phá xây dựng kết cấu hạ tầng và đô thị đồng bộ, hiện đại, xanh và thân thiện với môi trường. Tập trung cao hơn các nguồn lực cho thích ứng với biến đổi khí hậu, phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, viễn thông, xây dựng, kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia, tạo nền tảng chuyển đổi số quốc gia. Tập trung phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; phát triển kinh tế theo chiều sâu, có giá trị gia tăng cao, tạo môi trường bình đẳng, thuận lợi, lành mạnh trong khu vực kinh tế tư nhân, đổi mới khu vực kinh tế nhà nước.
Hai là, đổi mới, hoàn thiện thể chế quản lý tài chính công nhằm nâng cao hiệu quả phân bổ, quản lý, sử dụng nguồn lực tài chính công, siết chặt kỷ luật, kỷ cương tài chính; tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại chi NSNN gắn với các mục tiêu về tái cơ cấu nền kinh tế, phát triển bền vững. Ưu tiên nguồn lực bố trí cho các nhiệm vụ quan trọng, cấp bách của Nhà nước, các công trình trọng điểm quốc gia, các công trình có tính thúc đẩy phát triển KT-XH liên vùng… Ưu tiên bố trí nguồn lực của NSNN cả Trung ương và địa phương thực hiện các công trình kết nối các tỉnh, kết nối vùng, kết nối quốc gia, quốc tế, nhất là kết nối các trung tâm kinh tế và các địa phương là cực tăng trưởng.
Ba là, đổi mới chính sách thu ngân sách nhà nước theo hướng tiếp tục hoàn thiện hệ thống thu, cơ cấu lại thu, đảm bảo nguồn ngân sách bền vững, thực hiện các mục tiêu phát triển KT-XH, an ninh, quốc phòng, tiến bộ công bằng xã hội. Mở rộng cơ sở thuế, áp dụng mức thuế suất hợp lý, đảm bảo công bằng, bình đẳng về thuế giữa các đối tượng nộp thuế; phù hợp với các cam kết quốc tế, tạo môi trường sản xuất kinh doanh cạnh tranh và thúc đẩy đầu tư, đảm bảo lợi ích quốc gia, tạo điều kiện cho người nộp thuế tích tụ, khuyến khích sản xuất kinh doanh phát triển, qua đó, hỗ trợ tăng trưởng cao và bền vững.
Bốn là, nghiên cứu, thực hiện cơ chế quản lý, phân bổ, sử dụng vốn, nhất là vốn đầu tư công hợp lý, hiệu quả để phù hợp với khả năng cân đối vốn NSNN; tập trung phân bổ chi tiết, giải ngân vốn đầu tư công, nhất là các công trình, dự án trọng điểm. Rà soát cơ chế chính sách để huy động các nguồn lực, bao gồm nguồn lực nhà nước (trung ương, địa phương) và nguồn lực ngoài nhà nước nhằm thực hiện và đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án, công trình quan trọng, trọng điểm quốc gia, trong đó nghiên cứu phát hành trái phiếu Chính phủ để thực hiện các dự án, công trình quan trọng, trọng điểm quốc gia, nhất là dự án đường sắt khổ tiêu chuẩn, dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng.
Năm là, quản lý, kiểm soát hiệu quả bội chi, nợ công, các nghĩa vụ nợ dự phòng của NSNN, nợ của chính quyền địa phương, đảm bảo an ninh an toàn tài chính quốc gia, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay. Kiểm soát hiệu quả nợ công, đảm bảo các chỉ tiêu trong giới hạn an toàn nợ theo quy định; bám sát các nghị quyết, chủ trương của Đảng, Quốc hội, Chính phủ về Kế hoạch tài chính quốc gia và vay, trả nợ công 5 năm, hàng năm. Nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro đối với nợ công thông qua đa dạng hóa nguồn vốn và phương thức vay trong nước và nước ngoài, giảm áp lực huy động vốn vay, góp phần giảm gánh nặng nợ; sử dụng có hiệu quả nguồn lực đầu tư công (đặc biệt là các dự án vốn ngoài nước, các dự án trọng điểm) theo tiến độ vốn vay và trái phiếu chính phủ mà Chính phủ huy động theo Kế hoạch vay, trả nợ công 5 năm cũng như Chương trình phục hồi và phát triển KT-XH.
Sáu là, đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế, tăng cường quản lý thu các giao dịch thương mại điện tử; kết nối đồng bộ cơ sở thông tin dữ liệu ngành thuế với hệ thống dữ liệu của các cơ quan quản lý nhà nước khác để tăng cường hiệu quả quản lý nguồn thu, hỗ trợ tốt hơn cho tăng trưởng cao trong bối cảnh mới.
TS. Lê Thị Thùy Vân
Nguồn: Trung tâm Thông tin kinh tế, tài chính và thống kê
Tài liệu tham khảo
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII (2025), Đề án bổ sung mục tiêu phát triển KT-XH, tháng 01/2025.
2. Bộ Tài chính (2025), Báo cáo Tổng kết công tác nhiệm kỳ 2021 - 2026.
3. Bộ Tài chính (2025), Báo cáo tình hình thực hiện NSNN tháng 11 và 11 tháng năm 2025.
4. Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Tô Lâm (2024), Một số nội dung cơ bản về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; những định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Tạp chí Cộng sản.
5. Nguyễn Như Quỳnh (2025), Chính sách tài khóa năm 2025: Tiếp tục tạo động lực tăng trưởng cho nền kinh tế, Thời báo Tài chính Đầu tư, ngày 27/6/2025.
6. Lê Thị Thùy Vân (2023), Chính sách tài khóa tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế, Tạp chí Tài chính, tháng 8/2023.
7. Lê Thị Thùy Vân (2025), Cải cách tài chính công hướng đến tăng trưởng cao trong kỷ nguyên mới, Tạp chí Tài chính, tháng 8/2025.
8. IMF (2025), World Economic Outlook: Global Economy in Flux, Prospects Remain Dim, October, 2025.
9. The Time of India (2025), Tariff War: US Average Duty Hits 20.1%, highest Since 1910s; WTO & IMF Warn of Global Trade Rollback, Aug 8, 2025.