E_DT26.4.1
E_DT26.4.2E_DT26.4.3E_DT26.4.4

Với dân số hơn 663.000 người, gồm 19 dân tộc và có 38 xã khu vực III (xã đặc biệt khó khăn) nên Điện Biên xác định giảm nghèo bền vững, nâng cao đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số là nhiệm vụ trọng tâm.

E_DT26.4.5

Bên cạnh đẩy mạnh giảm nghèo bền vững, nâng cao đời sống vùng đồng bào DTTS, việc đầu tư hạ tầng, hỗ trợ sinh kế, đào tạo nghề, chăm lo nhóm yếu thế, thúc đẩy thay đổi nhận thức cũng ngày được quan tâm, chú trọng hơn. Do đó, diện mạo các thôn, bản vùng cao, biên giới tỉnh Điện Biên đang ngày một thay da đổi thịt. Những con đường bê tông trải dài, những căn nhà “3 cứng” kiên cố và những nương cà phê, mắc ca xanh tốt… đang tạo nên bức tranh nông thôn miền núi đầy sức sống. Đặc biệt, các chương trình mục tiêu quốc gia đã và đang thực sự đi vào đời sống đồng bào các dân tộc; từ hạ tầng giao thông, trường lớp, trạm y tế được đầu tư theo hướng hiện đại, khang trang cho đến các mô hình sản xuất mới.

E_DT26.4.6

Sau 5 năm nỗ lực thực hiện đồng bộ các chương trình xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN đã tạo nhiều chuyển biến ở vùng cao Điện Biên. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều toàn tỉnh giảm còn 17,66%, trong khi thu nhập bình quân đầu người tăng lên 54 triệu đồng vào cuối năm 2025, cao hơn hơn 2 lần so với đầu giai đoạn, bình quân mỗi năm tỉnh đã đào tạo nghề cho hơn 7.700 lao động và hỗ trợ nước sinh hoạt cho gần 30.000 hộ dân.

Đối với chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN, nhiều mục tiêu về hạ tầng thiết yếu đã đạt kết quả rõ nét. Đến nay, 100% xã có đường ô tô đến trung tâm được cứng hóa, phần lớn người dân được tiếp cận nước sinh hoạt hợp vệ sinh, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế và cải thiện đời sống.

Giai đoạn 2021 - 2025, tỉnh Điện Biên được phân bổ hơn 4.712 tỷ đồng thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN. Đến hết năm 2025, tỉnh đã giải ngân hơn 4.689 tỷ đồng, đạt 99,5% kế hoạch. Năm 2026, địa phương tiếp tục đề xuất kéo dài thực hiện gần 293,6 tỷ đồng vốn ngân sách Trung ương; đến ngày 30/6 đã giải ngân hơn 83,5 tỷ đồng.

Theo Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Điện Biên, đến ngày 30/6/2026, tỉnh đã hoàn thành 15/30 chỉ tiêu của chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN. Theo đó, nhiều kết quả nổi bật đã được ghi nhận như: Tỷ lệ giảm nghèo vùng đồng bào DTTS đạt 5,4%/năm; 90% thôn có đường ô tô được cứng hóa; 98% đồng bào DTTS tham gia bảo hiểm y tế; tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi giảm còn 14,01%.

Báo cáo của Thống kê tỉnh Điện Biên về tình hình kinh tế - xã hội tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2026 cho thấy:

 Trong 6 tháng đầu năm lao động có việc làm có xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước. Dự tính lao động có việc làm trong 6 tháng là 353.098 người, tăng 1,61% so với cùng kỳ năm trước, trong đó lao động ở khu vực thành thị là 46.538 người (chiếm 13,18%) và nông thôn là 306.560 người (chiếm 86,82%). Chuyển dịch cơ cấu có xu hướng giảm tỷ lệ lao động trong các ngành nông, lâm, thủy sản và tăng tỷ lệ lao động ở các ngành xây dựng và dịch vụ. Có nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm, nhiều sự lựa chọn cho người lao động, số người thất nghiệp giảm. Trong 6 tháng đầu năm, có 655 người nộp hồ sơ bảo hiểm thất nghiệp (quý II có 428 người); số người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp là 547 người (quý II có 279 người). Tổng số tiền hưởng trợ cấp thất nghiệp là 7.382,97 triệu đồng (quý II là 2.486,17 triệu đồng). Tiếp tục thực hiện tốt công tác tiếp nhận, giải quyết chế độ chính sách bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động trên địa bàn tỉnh.

Tỷ lệ nghèo đa chiều trên địa bàn toàn tỉnh là 30,83% với tổng số hộ là 44.289 hộ. Trong đó: Tỷ lệ hộ nghèo là 17,78% tương ứng 25.541 hộ; tỷ lệ hộ cận nghèo là 13,05% tương ứng 18.748 hộ. Trong 6 tháng đầu năm 2026, Ngân hàng chính sách tỉnh Điện Biên đã thực hiện các chương trình cho vay đối với cho vay ưu đãi hộ nghèo (theo NĐ 78/2002); cho vay HSSV (theo QĐ 157/2007); cho vay giải quyết việc làm (theo NĐ 61/2015); cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn (theo QĐ 62/2004); cho 27 vay hộ gia đình SXKD tại vùng khó khăn (theo QĐ 31/2007) tổng số 10.530 lượt khách hàng vay vốn với tổng doanh số cho vay 763.401,50 triệu đồng.

Về giáo dục và đào tạo, cơ sở vật chất trường học tiếp tục được quan tâm đầu tư xây dựng, cải tạo, sửa chữa; cơ bản đáp ứng nhu cầu tối thiểu phục vụ dạy và học theo quy định. Toàn ngành Giáo dục và Đào tạo hiện có 7.514 phòng học (tăng 68 phòng, tỷ lệ kiên cố 79,46%); 1.548 phòng học bộ môn (kiên cố 78,23%); 3.846 phòng nội trú học sinh (tăng 75 phòng, tỷ lệ kiên cố 61,21%); 1.669 phòng công vụ giáo viên (tăng 19 phòng, tỷ lệ kiên cố 42,48%).

Với sự hỗ trợ từ các chương trình, chính sách và kết quả đạt được trong phát triển kinh tế - xã hội như đã nêu trên, diện mạo vùng khó khăn, vùng đồng bào DTTS&MN tỉnh Điện Biên đã và đang có nhiều chuyển biến tích cực.

E_DT26.4.7

Bên cạnh những kết quả đạt được như đã nêu trên, tỉnh Điện Biên hiện vẫn còn 14 chỉ tiêu chưa hoàn thành, chủ yếu liên quan đến việc đưa xã, thôn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn; kiên cố hóa trường lớp; phát triển hạ tầng thông tin, điện, nước sinh hoạt; xây dựng nhà sinh hoạt cộng đồng; hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nhà ở và sắp xếp ổn định dân cư và còn 1 chỉ tiêu đang rà soát do mới sáp nhập thôn, bản.

E_DT26.4.8

Xã Mường Nhé là 1 trong 38 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn của tỉnh Điện Biên

Theo đánh giá của tỉnh Điện Biên, một trong những nguyên nhân chủ yếu của những khó khăn nêu trên là do địa bàn rộng, địa hình phức tạp, nguồn lực đầu tư còn hạn chế, trong khi tỷ lệ hộ nghèo cao, nguy cơ tái nghèo còn lớn. Một số vấn đề xã hội như tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống, suy dinh dưỡng trẻ em vẫn còn diễn biến phức tạp.

Hơn nữa, năng lực tổ chức thực hiện ở một số cơ sở còn hạn chế, trong khi cán bộ cấp xã phải đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ sau sắp xếp tổ chức bộ máy. Ngoài ra, một bộ phận người dân vẫn còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào chính sách hỗ trợ.

E_DT26.4.9E_DT26.4.10E_DT26.4.11

Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, tỉnh Điện Biên đã thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh, ban hành các văn bản hướng dẫn triển khai chương trình mục tiêu quốc gia. Theo đó, Điện Biên đặt mục tiêu hoàn thành 26/26 chỉ tiêu phát triển vùng đồng bào DTTS&MN thông qua việc lồng ghép hiệu quả các nguồn lực đầu tư. Để đạt mục tiêu này, Điện Biên kiến nghị Trung ương tiếp tục quan tâm bố trí nguồn lực phù hợp, có cơ chế đặc thù đối với các tỉnh miền núi, biên giới. Đồng thời, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo điều kiện để địa phương chủ động tổ chức thực hiện.

Đáng chú ý, Điện Biên tiếp tục ưu tiên nguồn lực cho vùng đồng bào DTTS&MN với mục tiêu nâng cao thu nhập, tạo sinh kế bền vững và giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều xuống dưới 10%, đồng thời phấn đấu cơ bản không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn vào năm 2030. Để thực hiện mục tiêu này, tỉnh dự kiến huy động hơn 31.395 tỷ đồng cho các chương trình mục tiêu quốc gia, ưu tiên giải quyết những nhu cầu thiết yếu như nước sinh hoạt, nhà ở cho hộ nghèo và đầu tư hạ tầng phục vụ phát triển sản xuất.

Bên cạnh đó, Điện Biên đã yêu cầu các địa phương rà soát danh mục dự án, phân công nhiệm vụ cụ thể theo nguyên tắc “rõ người, rõ việc, rõ thời gian hoàn thành” và chuẩn bị điều kiện triển khai ngay từ đầu giai đoạn nhằm bảo đảm nguồn lực được sử dụng hiệu quả, đúng trọng tâm.

Về thúc đẩy phát triển nông nghiệp, xác định cơ chế, chính sách dẫn đường để nông nghiệp khai thác lợi thế, thúc đẩy phát triển, tỉnh đã thường xuyên rà soát các chính sách không còn phù hợp để sửa đổi, thay thế. Theo đó, HĐND tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 23/2026/NQ-HĐND quy định chính sách hỗ trợ thực hiện cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng hàng hóa tập trung, xanh, thông minh, bền vững trên địa bàn tỉnh và Nghị quyết số 21/2026/NQ-HĐND, quy định mức hỗ trợ thực hiện dự án phát triển sản xuất sử dụng nguồn vốn các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2030. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn, tạo hành lang pháp lý và nguồn lực để thúc đẩy phát triển nông nghiệp.

Đối với dự án liên kết theo chuỗi giá trị, ngân sách Nhà nước hỗ trợ tối đa 100% tổng chi phí thực hiện dự án, không bao gồm chi phí nhân công của người dân. Chủ trì liên kết là doanh nghiệp, hợp tác xã được hỗ trợ tối đa 30% kinh phí đầu tư máy móc, thiết bị, xây dựng hạ tầng phục vụ liên kết.

Đối với dự án phát triển sản xuất cộng đồng, ngân sách Nhà nước hỗ trợ tối đa 60% tổng chi phí thực hiện dự án (không bao gồm chi phí nhân công của người dân), bảo đảm trong phạm vi dự toán được giao. Riêng các đối tượng thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, hộ gia đình có người có công với cách mạng… được hỗ trợ tối đa 100% kinh phí các nội dung thuộc chương trình mục tiêu quốc gia; các hộ gia đình khác được hỗ trợ tối đa 50% kinh phí.

Việc ban hành đồng thời hai nghị quyết về hỗ trợ sản xuất nông nghiệp và thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia đã tạo nên hệ thống chính sách tương đối đầy đủ. Khi cơ chế được khơi thông, người dân có thêm nguồn lực để đầu tư sản xuất, doanh nghiệp sẽ có thêm niềm tin để mở rộng đầu tư, hợp tác xã có điều kiện phát triển liên kết, còn chính quyền địa phương có cơ sở pháp lý để triển khai thống nhất.

Nguyễn Hương và Đỗ Ngát 

Tài liệu tham khảo

1. Cổng Thông tin điện tử tỉnh Điện Biên, Thứ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Y Vinh Tơr làm việc với tỉnh Điện Biên;

2. Cổng Thông tin điện tử tỉnh Điện Biên, Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, hướng mạnh về cơ sở và đồng bào dân tộc thiểu số;

3. Thống kê tỉnh Điện Biện, Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 6 và 6 tháng năm 2026;

4. Khơi thông chính sách, thúc đẩy phát triển nông nghiệp (baodienbienphu.vn);

5. Điện Biên huy động hơn 31.395 tỷ đồng cho các chương trình MTQG  (dantocphattrien.vietnamnet.vn).

 

 

 

 

 

;