E_DT26.2.1.2

E_DT26.2.3

E_DT26.2.2

E_DT26.2.4

E_DT26.2.6

Có thể thấy, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi ở nước ta giai đoạn 2021 - 2025 là một hành trình cho thấy sự chuyển mình mạnh mẽ, ấn tượng trên khắp các bản, làng, xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Sự chuyển mình này được minh chứng và thể hiện qua nhiều thành tựu nổi bật đã đạt được trong phát triển. Có được nhiều thành tựu đó là do Đảng và Nhà nước luôn dành nguồn lực đầu tư lớn cho phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Trong đó phải kể đến chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021- 2025.

E_DT26.2.7

Theo các nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ, tổng mức vốn để thực hiện chương trình giai đoạn 2021 - 2025 là trên 137.000 tỷ đồng.

Chương trình của Chính phủ gồm 10 dự án: Giải quyết tình trạng thiếu đất ở, nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt; quy hoạch, sắp xếp, bố trí, ổn định dân cư ở những nơi cần thiết; phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp bền vững; phát triển kinh tế - xã hội mô hình bộ đội gắn với dân; đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu, phục vụ sản xuất, đời sống; phát triển giáo dục đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp; chăm sóc sức khỏe nhân dân; thực hiện bình đẳng giới và các vấn đề cấp thiết đối với phụ nữ và trẻ em; đầu tư phát triển nhóm dân tộc thiểu số rất ít người và nhóm dân tộc còn nhiều khó khăn; truyền thông, tuyên truyền, vận động trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Sau 5 năm thực hiện chương trình, đã để lại những dấu ấn đậm nét, những bài học kinh nghiệm quý báu và một nền tảng vững chắc cho những năm tiếp theo tiếp đà vươn lên phát triển. Đó là:

Hạ tầng giao thông, kinh tế, xã hội được đầu tư, xây dựng ngày càng đồng bộ và theo hướng hiện đại; đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cũng ngày càng được cải thiện. Cụ thể như sau:

Đã triển khai hỗ trợ đầu tư 6.018 công trình giao thông nông thôn, 8.673 km đường giao thông được nhựa hoá, bê tông hoá hoặc cứng hoá; 442 công trình cung cấp điện, 90 trạm chuyển tiếp phát thanh xã; 1.787 nhà sinh hoạt cộng đồng; cải tạo, sửa chữa 183 trạm y tế xã; hỗ trợ trang thiết bị 118 trạm y tế xã; 225 trạm y tế xã và 629 công trình trường, lớp học đạt chuẩn; đầu tư xây dựng 809 công trình nước sinh hoạt tập trung.

E_DT26.2.8

E_DT26.2.9

Hỗ trợ đất ở cho 10.549 hộ; hỗ trợ nhà ở cho 42.567 hộ, hỗ trợ trực tiếp đất sản xuất cho 13.387 hộ, hỗ trợ chuyển đổi nghề cho 54.899 hộ; hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán cho 479.358 hộ.

Quy hoạch, sắp xếp, bố trí, ổn định dân cư ở những nơi cần thiết cho 25.056 hộ; các địa phương đã triển khai hỗ trợ khoán bảo vệ 1.478.962 ha diện tích rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, tương đương 323.769 hộ được hỗ trợ; triển khai 403 dự án hỗ trợ phương thức sản xuất theo chuỗi giá trị, với tổng giá trị lên tới 306 tỷ đồng; triển khai hỗ trợ 383 dự án, mô hình chăn nuôi, trồng trọt với 36.654 hộ tham gia.

Hỗ trợ 1.901 mô hình đào tạo nghề với 115.575 người lao động tham gia; 5.385 người lao động được hỗ trợ tham gia khóa đào tạo bồi dưỡng kỹ năng nghề, ngoại ngữ và các thủ tục đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; 37.718 người lao động được hỗ trợ giới thiệu, tư vấn về đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; 8.424 cán bộ làm công tác đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài và tuyên truyền viên cơ sở ở các cấp.

Tại các địa phương, đã hỗ trợ đầu tư xây dựng, bảo tồn 48 làng, bản và 69 điểm đến du lịch tiêu biểu truyền thống của các dân tộc thiểu số, có 4.409 nhà văn hóa/khu thể thao tại các thôn, bản vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được đầu tư xây dựng và hỗ trợ trang thiết bị, tu bổ, tôn tạo; bảo tồn, phát huy 124 lễ hội truyền thống tiêu biểu của các dân tộc thiểu số; hỗ trợ hoạt động cho 695 câu lạc bộ sinh hoạt văn hóa dân gian và 5.760 đội văn nghệ truyền thống tại các thôn, bản…

Nhìn một cách tổng thể, trong 5 năm thực hiện chương trình, có 6 nhóm nhiệm vụ cơ bản đã đạt và vượt kế hoạch đề ra. Trong đó, mục tiêu về tỉ lệ giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số đạt bình quân 3,4%, vượt dự kiến chương trình là 3,2%; thu nhập bình quân của người đạt bình quân 43,4 triệu đồng, tăng 3,1 lần so với năm 2020; nhóm mục tiêu về giáo dục, lao động trong độ tuổi được đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu, điều kiện đạt bình quân 54,8, vượt mục tiêu chương trình là 50%; bảo tồn và phát triển các giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc; tăng cường công tác y tế để đồng bào được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe hiện đại, tiếp tục khống chế, tiến tới loại bỏ dịch bệnh.

Đặc biệt, số hộ nghèo, hộ cận nghèo dân tộc thiểu số cũng ngày càng giảm nhanh qua từng năm. Cụ thể, tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số năm 2023 là 16,51% đã giảm xuống còn 9,71% năm 2025; tỷ lệ hộ cận nghèo dân tộc thiểu số năm 2023 là 10,52% đã giảm xuống còn 8,84%.

E_DT26.2.10

Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Môi trường

Những kết quả chủ yếu đã đạt được trong phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi như đã nêu trên không chỉ phản ánh sự gia tăng về lượng mà còn là sự thay đổi về chất, cho thấy các mô hình phát triển kinh tế đã phát huy hiệu quả, giúp người dân không chỉ thoát nghèo mà còn tiến tới làm giàu.

E_DT26.2.11

Bên cạnh những kết quả đạt được, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi còn có những hạn chế, thách thức nhất định, cần thẳng thắn nhìn nhận. Đó là:

Một là, cơ chế tổ chức thực hiện còn phức tạp. Việc thiết kế nhiều dự án, tiểu dự án do các bộ, ngành khác nhau quản lý đã dẫn đến tình trạng chồng chéo, phân tán nguồn lực, gây khó khăn cho địa phương trong quá trình triển khai. Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành ở một số nơi chưa thật sự nhịp nhàng, làm giảm hiệu quả tổng thể của chương trình.

Hai là, tiến độ chuẩn bị đầu tư và giải ngân vốn ở một số địa phương còn chậm, phải điều chỉnh nhiều lần, ảnh hưởng đến tiến độ chung. Năng lực tổ chức thực hiện của một bộ phận cán bộ cơ sở còn hạn chế, nhất là trong việc quản lý các dự án có quy mô lớn, đa lĩnh vực.

Ba là, việc cải thiện hạ tầng kỹ thuật ở một số khu vực và số lượng bản, thôn, xã thoát khỏi diện đặc biệt khó khăn còn chậm, chưa đạt kế hoạch; tình trạng thiếu đất ở, đất sản xuất và khó khăn trong bố trí dân cư ổn định vẫn còn tồn tại ở nhiều nơi.

Bốn là, giảm nghèo ở miền núi, vùng sâu, vùng xa vẫn còn đối mặt với không ít thách thức bởi địa hình phức tạp, thiên tai khắc nghiệt, tập quán sản xuất còn lạc hậu, cùng sự chênh lệch về trình độ dân trí khiến việc triển khai các mô hình hỗ trợ không phải lúc nào cũng có thể đạt được kết quả như kỳ vọng. Nhiều mô hình sinh kế vẫn chưa thực sự gắn với thị trường, dẫn đến nguy cơ tái nghèo khi giá cả biến động hoặc khi thiên tai xảy ra. Một bộ phận hộ nghèo vẫn phụ thuộc vào hỗ trợ, khó duy trì thu nhập ổn định nếu thiếu sự đồng hành dài hạn của chính quyền và doanh nghiệp.

Năm là, nguồn sinh kế của người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi chủ yếu dựa vào nông nghiệp, sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, năng suất thấp. Do thiếu đất canh tác, thiếu vốn, thiếu kỹ thuật, vòng luẩn quẩn “nghèo đói - lạc hậu - tái nghèo” vẫn đeo bám dai dẳng ở một số nơi.

E_DT26.2.12

E_DT26.2.13

Để vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phát triển nhanh và bền vừng hơn. Bên cạnh việc phát huy những thành quả đã đạt được và khắc phục những tồn, khó khăn cũng như những điểm nghẽn đã nêu trên. Có thể xem xét và thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau đây:

- Đặt ưu tiên cao nhất cho phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Trong đó, đặc biệt ưu tiên cho các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng biên giới, hải đảo, an toàn khu và địa bàn còn thiếu hụt nghiêm trọng về hạ tầng, dịch vụ xã hội cơ bản. Tập trung vào các lĩnh vực thiết yếu như nước sạch, đất sản xuất, y tế, nhà ở cho người dân; ưu tiên nguồn lực để giảm nhanh số lượng thôn, bản, xã ra khỏi diện đặc biệt khó khăn; đảm bảo đất ở, đất sản xuất và bố trí dân cư ổn định, phù hợp với yêu cầu và xu hướng phát triển của từng địa bàn.

E_DT26.2.14

E_DT26.2.15

- Trong lĩnh vực giáo dục và đạo tạo, củng cố hệ thống 248 trường phổ thông dân tộc nội trú dọc tuyến biên giới và các vùng đặc biệt khó khăn. Có các chính sách giáo dục ưu tiên đặc thù và bền vững dành riêng cho con em đồng bào dân tộc thiểu số.

- Đẩy mạnh thực hiện các nội dung thuộc hợp phần phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; bảo đảm chính sách đến đúng địa bàn, đúng đối tượng và đúng nhu cầu cấp thiết của người dân. Đặc biệt, cần chú trọng các nhiệm vụ và giải pháp phát triển sinh kế bền vững, ổn định đời sống, giảm nghèo đa chiều; nâng cao năng lực cộng đồng.

- Các địa phương cần đẩy nhanh tiến độ giải ngân nguồn vốn ngân sách trung ương cho phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi năm 2025 được kéo dài sang năm 2026; đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá định kỳ, bảo đảm việc sử dụng nguồn lực công khai, minh bạch, đúng yêu cầu, nhiệm vụ.

 ThS. Nguyễn Thu Trang

 

 

 

;